Bỏ qua Lệnh Ruy-băng
Bỏ qua nội dung chính

Skip Navigation LinksTin tức sự kiện

 
Tin tức sự kiện
 
Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ ngày 10/7/2019 đến ngày 15/7/2019 
 
Thông báo về việc kiểm tra hiện trạng sử dụng đất, nhà ở và công trình đã xây dựng và điều kiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất, bán nhà ở của Khu nhà ở Tân Phú Đông của Công ty TNHH MTV thương mại dịch vụ xây dựng Bảo Trâm 
 
Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ ngày 01/7/2019 đến ngày 08/7/2019 
 
Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Tháng 6 năm 2019 
 
Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ ngày 21/6/2019 đến ngày 28/6/2019 
Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ ngày 13/6/2019 đến ngày 20/6/2019 
 
 
Gói thầu: Xây dựng Bảng giá các loại đất trên địa bàn tỉnh Bến Tre giai đoạn 2020 - 2024 
 
Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ 06/6/2018 đến 13/6/2019 
 
Sở Tài nguyên và Môi trường đã hoàn chỉnh Dự thảo Quyết định sửa đổi, bổ sung một số quy định của Quyết định số 38/2018/QĐ-UBND ngày 04 tháng 9 năm 2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việcQuy định diện tích tối thiểuđược tách thửa đối với các loại đất trên địa bàn tỉnh Bến Tre 
 
Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ 01/6/2019 đến 06/6/2019 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
Trách nhiệm của chủ Dự án sau khi Báo cáo đánh giá tác động môi trường được phê duyệtTrách nhiệm của chủ Dự án sau khi Báo cáo đánh giá tác động môi trường được phê duyệt
Qua thanh tra, kiểm tra, Sở Tài nguyên và Môi trường phát hiện nhiều Dự án không thực hiện đúng các qui định sau khi Báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) đã được phê duyệt. Theo qui định tại Điều 14, Nghị định 80/2006/NĐ-CP của Chính phủ, sau khi có quyết định phê duyệt báo cáo ĐTM đến khi dự án đi vào vận hành chính thức thì chủ dự án phải thực hiện các nội dung sau:



Thứ nhất, sau 05 ngày kể từ ngày nhận được quyết định phê duyệt báo cáo ĐTM thì chủ dự án phải niêm yết công khai tại địa điểm thực hiện dự án bản tóm tắt báo cáo ĐTM được phê duyệt. Bản tóm tắt chỉ rõ chủng loại, khối lượng các loại chất thải; công nghệ, thiết bị xử lý chất thải; mức độ xử lý theo các thông số đặc trưng của chất thải so với tiêu chuẩn quy định; các biện pháp khác về bảo vệ môi trường. Đồng thời, chủ dự án phải có văn bản báo cáo Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi thực hiện dự án về nội dung quyết định phê duyệt ĐTM kèm theo bản sao quyết định phê duyệt.
Thứ hai, trên cơ sở sơ đồ nguyên lý của các công trình xử lý môi trường đề ra trong báo cáo ĐTM đã được phê duyệt, chủ dự án phải tiến hành việc thiết kế chi tiết và xây lắp các công trình này theo đúng quy định hiện hành về đầu tư và xây dựng. Sau đó, chủ dự án gửi văn bản báo cáo cơ quan nhà nước đã phê duyệt báo cáo ĐTM về kế hoạch xây lắp kèm theo hồ sơ thiết kế chi tiết của các công trình xử lý môi trường để theo dõi và kiểm tra.
Thứ ba, trong quá trình thi công dự án, phải triển khai thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường, biện pháp giảm thiểu những tác động tiêu cực đối với môi trường do dự án gây ra và tiến hành quan trắc môi trường theo đúng yêu cầu đặt ra trong báo cáo đánh giá tác động môi trường được phê duyệt cũng như những yêu cầu khác nêu trong quyết định phê duyệt báo cáo ĐTM. Nếu dự án có những điều chỉnh, thay đổi về các nội dung, biện pháp bảo vệ môi trường đã được phê duyệt phải có báo cáo bằng văn bản gửi cơ quan đã phê duyệt và chỉ được phép thực hiện sau khi có ý kiến chấp thuận bằng văn bản của cơ quan này.
Thứ tư, sau khi việc xây lắp các công trình xử lý môi trường đã hoàn thành và được nghiệm thu, phải tiến hành vận hành thử nghiệm các công trình xử lý môi trường để kiểm tra các thông số về kỹ thuật và môi trường theo thiết kế đặt ra. Việc vận hành thử nghiệm phải xây dựng kế hoạch và thông báo cho cơ quan đã phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường, sở Tài nguyên và Môi trường, phòng Tài nguyên và Môi trường cấp huyện và cộng đồng dân cư nơi thực hiện dự án để bố trí kế hoạch giám sát, kiểm tra.
Thứ năm, sau khi kết thúc việc vận hành thử nghiệm, chủ dự án phải có văn bản báo cáo và đề nghị xác nhận kết quả vận hành thử nghiệm các công trình xử lý môi trường gửi cơ quan đã phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường để xác nhận. Báo cáo về việc đã thực hiện các nội dung của báo cáo và yêu cầu của Quyết định phê duyệt báo cáo ĐTM trước khi dự án đi vào vận hành chính thức.
Ngoài ra, trong suốt quá trình triển khai các hoạt động thi công và vận hành thử nghiệm dự án nếu xảy ra tình trạng ô nhiễm môi trường thì phải dừng ngay và báo cáo kịp thời cho phòng tài nguyên và môi trường cấp huyện nơi thực hiện dự án và cơ quan phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường biết, xử lý. Chủ dự án có trách nhiệm hợp tác và tạo điều kiện thuận lợi để cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường tiến hành các hoạt động giám sát, kiểm tra việc thực hiện các nội dung, biện pháp bảo vệ môi trường của dự án; cung cấp đầy đủ các thông tin, số liệu liên quan khi được yêu cầu.
Nếu chủ dự án không thực hiện đầy đủ các nội dung trên, khi cơ quan quản lý nhà nước kiểm tra, phát hiện thì chủ dự án sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính. Mức tiền phạt thấp nhất là 2.000.000 đồng, cao nhất là 170.000.000 đồng cho mỗi hành vi vi phạm.
Minh Cường



19/01/2011 12:00 SAĐã ban hành
Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 39-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá XII Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 39-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá XII
Công văn số 41-Ctr/TU ngày 17 tháng 4 năm 2019 của Tỉnh uỷ Bến Tre về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 39-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá XII về nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác, sử dụng và phát huy các nguồn lực của nền kinh tế.
23/04/2019 10:00 SAĐã ban hành
Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ 10/5/2019 đến 17/5/2019Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ 10/5/2019 đến 17/5/2019
Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ 10/5/2019 đến 17/5/2019
17/05/2019 4:00 CHĐã ban hành
Thông báo các nhà thầu đáp ứng yêu cầu kỹ thuậtThông báo các nhà thầu đáp ứng yêu cầu kỹ thuật
Thông báo các nhà thầu đáp ứng yêu cầu kỹ thuật

​Sở Tài nguyên và Môi trường xin thông báo danh sách các nhà thầu đáp ứng yêu cầu kỹ thuật tham gia dự thầu thực hiện gói thầu Thăm dò đánh giá trữ lượng 05 khu vực mỏ cát lòng sông trên địa bàn tỉnh Bến Tre.2676_STNMT.pdf

03/10/2018 3:00 CHĐã ban hành
Kiểm tra, xử lý các đối tượng khai thác cát trái phép trên sông Cổ ChiênKiểm tra, xử lý các đối tượng khai thác cát trái phép trên sông Cổ Chiên
Trong những năm gần đây, trên tuyến sông Cổ Chiên đoạn khu vực cồn Phú Đa, cồn Phú Bình thuộc địa phận xã Vĩnh Bình, huyện Chợ Lách đang trở thành điểm nóng về tình trạng khai thác cát trái phép. Do khu vực này là địa bàn giáp ranh giữa Bến Tre và Vĩnh Long, ít dân cư sinh sống nên các đối tượng bơm hút cát trái phép tập trung khai thác nhiều. Các đối tượng này sử dụng phương tiện có trang bị động cơ, máy bơm hút có công suất lớn để bơm hút nhanh và dễ dàng chạy thoát khi phát hiện có lực lượng kiểm tra. Thời gian hoạt động cao điểm là vào ban đêm, lúc con nước đang lớn.





Ảnh: Đoàn kierm tra triển khai lực lượng trên sông Cổ Chiên

Nắm quy luật trên, đêm ngày 25/3/2011 Thanh tra Sở Tài nguyên và Môi trường phối hợp với Đoàn kiểm tra liên ngành huyện Chợ Lách tổ chức kiểm tra và phát hiện có ba phương tiện đang bơm hút cát trái phép tại khu vực cồn Phú Đa, cồn Phú Bình. Đoàn kiểm tra lập biên bản tạm giữ phương tiện và chuyển về Uỷ ban nhân dân huyện Chợ Lách để xử lý. Sau đó, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện đã ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính mỗi đối tượng với mức phạt tiền là 10.000.000 đồng.


Ảnh: Một đối tượng đang sử dụng vòi bơm hút để lấy cát ngay đầu cồn Phú Bình



21/04/2011 12:00 SAĐã ban hành
Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ 06/5/2019 đến 10/5/2019Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ 06/5/2019 đến 10/5/2019
Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ 06/5/2019 đến 10/5/2019
10/05/2019 9:00 SAĐã ban hành
Thông báo về việc đấu giá quyền khai thác khoáng sảnThông báo về việc đấu giá quyền khai thác khoáng sản
Thông báo đấu giá quyền khai thác khoáng sản tại 02 khu vực khoáng sản Quới Sơn và Cẩm Sơn

​1) Mỏ cát Quới Sơn, thuộc xã Quới Sơn, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre

- Tổng trữ lượng khoáng sản: 1.073.695 m3

- Loại khoáng sản: cát san lấp

- Giá khởi điểm: 4.296.280.000đ (Bốn tỷ, hai trăm chín mươi sáu triệu, hai trăm tám mươi ngàn đồng)

2) Mỏ cát Cẩm Sơn, thuộc xã Cẩm Sơn, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre

- Tổng trữ lượng khoáng sản: 510.740 m3

- Loại khoáng sản: cát san lấp

- Giá khởi điểm: 2.043.680.000đ (Hai tỷ, không trăm bốn mươi ba triệu, sáu trăm tám mươi ngàn đồng)

Chi tiết xem tại: TB_DauGia_QKTKS_2019.7z




03/06/2019 8:00 SAĐã ban hành
Thông báo về việc tư vấn gói thầu: Lập hồ sơ mời thầu và đánh giá hồ sơ dự thầu thuộc dự án Thăm dò đánh giá trữ lượng 05 khu vực mỏ cát lòng sông trên địa bàn tỉnh Bến TreThông báo về việc tư vấn gói thầu: Lập hồ sơ mời thầu và đánh giá hồ sơ dự thầu thuộc dự án Thăm dò đánh giá trữ lượng 05 khu vực mỏ cát lòng sông trên địa bàn tỉnh Bến Tre
Thông báo về việc tư vấn gói thầu: Lập hồ sơ mời thầu và đánh giá hồ sơ dự thầu thuộc dự án Thăm dò đánh giá trữ lượng 05 khu vực mỏ cát lòng sông trên địa bàn tỉnh Bến Tre

​         Sở Tài nguyên và Môi trường Bến Tre thông báo đến Quý cơ quan, đơn vị có quan tâm để thực hiện gói thầu lập hồ sơ mời thầu và đánh giá hồ sơ dự thầu dự án "Thăm dò đánh giá trữ lượng 05 khu vực mỏ cát lòng sông trên sông địa bàn tỉnh Bến Tre".

         Nơi nhận hồ sơ: Sở Tài nguyên và Môi trường (Số 01, Trần Quốc Tuấn, phường 2, Thành phố Bến Tre. Điện thoại: 02753 822 210)

        Thời gian nhận hồ sơ: đến hết ngày 28 tháng 4 năm 2018 trong giờ hành chính.


Tải nội dung: 959_2018_TB_STNMT.7z

26/04/2018 2:00 CHĐã ban hành
Thông báo mời thầu - Gói thầu: Thăm dò đánh giá trữ lượng 05 khu vực mỏ cát lòng sông trên địa bàn tỉnh Bến TreThông báo mời thầu - Gói thầu: Thăm dò đánh giá trữ lượng 05 khu vực mỏ cát lòng sông trên địa bàn tỉnh Bến Tre
Ngày 15 tháng 6 năm 2018, Sở Tài nguyên và Môi trường ban hành thông báo số 1549/TB-STNMT Thông báo mời thầu - Gói thầu: Thăm dò đánh giá trữ lượng 05 khu vực mỏ cát lòng sông trên địa bàn tỉnh Bến Tre

​Tên bên mời thầu: Sở Tài nguyên và Môi trường Bến Tre

Tên gói thầu: Thăm dò đánh giá trữ lượng 05 khu vực mỏ cát lòng sông trên địa bàn tỉnh Bến Tre

Thời gian phát hành Hồ sơ mời thầu (HSMT): từ 08 giờ, ngày 18 tháng 6 năm 2018 đến trước 08 giờ, ngày 03 tháng 7 năm 2018 (trong giờ hành chính).

Địa điểm phát hành HSMT: Phòng Kế hoạch tài chính - Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bến Tre.

- Địa chỉ: số 01 Trần Quốc Tuấn, Phường 2, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

Tải nội dung: 1549_2018_TB_STNMT.pdf


18/06/2018 8:00 SAĐã ban hành
GIẢI PHÁP XỬ LÝ RÁC THẢI CHỢ VÀ KHU DÂN CƯGIẢI PHÁP XỬ LÝ RÁC THẢI CHỢ VÀ KHU DÂN CƯ
Dân số ngày càng tăng, điều kiện kinh tế, xã hội ngày càng phát triển, vì thế, nhu cầu tiêu dùng của người dân trong các vùng nông thôn nói chung và các chợ, khu dân cư nói riêng cũng ngày càng phong phú và đa dạng. Đây cũng là một trong những nguyên nhân chính phát sinh rác thải của người dân ngày càng nhiều, phức tạp và khó xử lý hơn trước.



Năm 2007, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bến Tre đã thực hiện kiểm soát ô nhiễm môi trường tại 10 khu chợ xã, thị trấn. Qua đó, ước tính tổng lượng rác thải từ các hoạt động sinh hoạt, thương mại của các khu chợ thải ra khoảng 0,5 – 02 tấn/ngày. Khối lượng rác thải phát sinh ít, nhưng túi nilong chiếm tỉ trọng rất lớn, đây là loại chất thải khó phân hủy trong môi trường, gây xấu cảnh quan, làm thu hẹp diện tích đất và làm ô nhiễm môi trường nước.

Công tác thu gom và xử lý rác thải phát sinh từ các hộ dân sinh sống và hộ kinh doanh ở các chợ chưa được quan tâm và quản lý đúng mức. Theo kết quả kiểm soát, hầu hết các chợ đều chưa có giải pháp cụ thể hoặc giải pháp chưa đồng bộ về thu gom rác thải. Các chợ đều chưa có bãi chôn lấp rác hợp vệ sinh, tạm thời, rất nhiều xã còn lúng túng trong việc này; vị trí các bãi chôn lấp rác đều gần với nguồn nước, nhà dân, đường giao thông chính, không có tường bao quanh, xử lý nước rỉ rác, mùi hôi và ruồi nhặng. Điều này đã gây ảnh hưởng đến môi trường, cảnh quan nói chung và chất lượng nguồn nước sinh hoạt nói riêng.

Từ hiện trạng trên, đòi hỏi chúng ta cần có giải pháp phù hợp về vấn đề thu gom, xử lý rác thải ở chợ, khu vực đông dân cư ở các xã, thị trấn để giữ môi trường sống trong lành, bảo đảm sức khoẻ cho người dân. Giải pháp cụ thể trước mắt là Ủy ban nhân dân các xã, thị trấn nên quy hoạch bãi bãi xử lý rác thải và thành lập Tổ dịch vụ thu gom rác thải và sẽ được trả công bằng đóng góp của các điểm kinh doanh trong chợ, hộ dân trong xã, thị trấn. Ở những nơi gần thị xã Bến Tre, Công ty TNHH Công trình, đô thị thị xã Bến Tre cần tổ chức thu gom rác thải trực tiếp của các hộ dân, rác thải từ các chợ và đảm bảo xử lý hợp vệ sinh, bảo đảm an toàn về môi trường.

Tổ dịch vụ thu gom rác thải được thành lập theo quy mô cấp xã, thị trấn hoặc 01 khu dân cư, chợ. Tổ thu gom rác có từ 02 - 04 người, có quy chế hoạt động riêng và chịu sự quản lý của Ủy ban nhân dân xã, thị trấn hoặc ban quản lý chợ. Tổ thu gom được trang bị xe chở rác, cuốc, xẻng, quần áo bảo hộ lao động, khẩu trang, chổi...

Tổ thu gom rác hoạt động hằng ngày vào các giờ quy định, các nhân viên thuộc tổ thu gom có trách nhiệm thu gom rác và vệ sinh đường phố, chợ trong xã, thị trấn. Rác thải sau khi thu gom được vận chuyển đến bãi rác đã được quy hoạch thuộc địa giới hành chính của xã hoặc quy hoạch theo khu vực. Tại bãi rác, các nhân viên tiếp tục thực hiện các công đoạn xử lý tiếp theo. Đối với chất thải rắn nông thôn hiện nay nên lựa chọn phương pháp xử lý bằng cách chôn lấp dễ thực hiện và ít tốn kém.

Bãi xử lý rác thải được quy hoạch ở vị trí phù hợp với nguồn phát sinh rác thải, tại khu đất trống, không phá hoại cảnh quan, xa khu dân cư và nên khuất gió. Diện tích bãi xử lý rác thải tuỳ thuộc vào khối lượng rác thải và điều kiện của địa phương. Bãi xử lý rác thải phải cách xa các nguồn nước mặt. Ngăn chặn sự rò rỉ nước rỉ từ bãi rác thấm vào nước ngầm bằng các lớp lót chống thấm và tường bao của bãi chôn lấp. Các yêu cầu thiết kế về mặt bằng, đường vào ra, rào chắn, biển hiệu phải tuân thủ đúng quy định. Lớp lót chống thấm có thể được sử dụng bằng đất sét có độ dày từ 0,5 m trở lên. Bãi chôn lấp được chia thành các ô nhỏ và có độ sâu trung bình hơn 01 m.

Bắt đầu chôn lấp rác từ các ô chứa phía cuối bãi xử lý. Rác thải sau khi được đổ vào ô, thì được trải thành những lớp dày 20 - 40 cm, mỗi lớp rác thải phải được đầm nén chặt, sau đó tiếp tục trải những lớp khác lên trên. Cuối ngày cần phủ lên một lớp đất dày 05 - 10 cm rồi đầm nén. Mỗi ô chứa rác thải phải hoàn chỉnh, trước khi bắt đầu ô chứa tiếp theo. Phun hoá chất diệt côn trùng và rắc vôi bột vào lớp rác thải đã đầm nén trước khi phủ đất lên trên. Đây là phương pháp chôn chất thải rắn có kiểm soát, dễ thực hiện và tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường.

Về lâu dài, hoạt động kinh tế - xã hội ở khu vực nông thôn ngày càng gia tăng, thì cần có một giải pháp mang tính toàn diện về vấn đề thu gom và xử lý rác thải. Bởi việc thu gom của các tổ thu gom rác chỉ là giải pháp mang tính tạm thời, còn đối việc xử lý như thế nào đối với rác thải để không gây ô nhiễm môi trường là những vấn đề mang tính kỹ thuật, tổ thu gom rác thải không thể giải quyết, mà cần sự vào cuộc tích cực, đồng bộ của các cơ quan chức năng.

Mai Hanh



24/01/2008 12:00 SAĐã ban hành
Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ ngày 10/7/2019 đến ngày 15/7/2019MớiDanh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ ngày 10/7/2019 đến ngày 15/7/2019
Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ ngày 10/7/2019 đến ngày 15/7/2019
17/07/2019 9:00 SAĐã ban hành
Bản đồ tình hình xâm nhập mặn tỉnh Bến Tre từ ngày 17/4 đến ngày 25/4/2019Bản đồ tình hình xâm nhập mặn tỉnh Bến Tre từ ngày 17/4 đến ngày 25/4/2019
Bản đồ tình hình xâm nhập mặn tỉnh Bến Tre từ ngày 17/4 đến ngày 25/4/2019
26/04/2019 11:00 SAĐã ban hành
KẾT QUẢ THANH TRA VỀ KHOÁNG SẢN VÀ TÀI NGUYÊN NƯỚC CỦA  BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG TẠI BẾN TREKẾT QUẢ THANH TRA VỀ KHOÁNG SẢN VÀ TÀI NGUYÊN NƯỚC CỦA  BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG TẠI BẾN TRE
Hiện nay, ở đồng bằng Sông Cửu Long mực nước ngầm đang tụt giảm và suy giảm về chất lượng do việc khai thác và sử dụng nước dưới đất chưa hợp lý. Bên cạnh đó, tình trạng sạt lở bờ sông, thay đổi dòng chảy, ô nhiễm môi trường,… do hoạt động khai thác cát, sỏi lòng sông diễn ra trong những năm gần đây. Trước thực trạng đó, ngày 12/3/ 2010 Bộ Tài nguyên và Môi trường thành lập 4 đoàn thanh tra diện rộng về tình hình khai thác cát, sỏi lòng sông và khai thác, sử dụng nước dưới đất tại 13 tỉnh, thành ở đồng bằng Sông Cửu Long.



Tại Bến Tre, đoàn làm việc với Ủy ban nhân dân tỉnh về công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực khoáng sản và tài nguyên nước. Qua đó, đoàn đánh giá cao công tác quản lý của tỉnh trong thời gian qua đã góp phần đưa các hoạt động trong lĩnh vực khoáng sản và tài nguyên nước đi vào nề nếp và ổn định. Để đáp ứng công tác quản lý nhà nước về khoáng sản và tài nguyên nước trong thời gian tới, đoàn kiến nghị tỉnh cần thực hiện các nhiệm vụ như: Thực hiện khoanh định, phê duyệt vùng cấm, tạm thời cấm hoạt động khoáng sản, vùng cấm, vùng hạn chế khai thác, sử dụng nước dưới đất; Chỉ đạo các ngành chức năng tiếp tục rà soát, hệ thống các văn ban quy phạm pháp luật ngành tài nguyên và môi trường, sửa đổi bổ sung, ban hành các văn bản mới theo thẩm quyền; Bố trí ngân sách, tăng cường đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường; Chỉ đạo Sở Tài nguyên và Môi trường thường xuyên thanh tra, kiểm tra các đơn vị đã được cấp phép hoạt động khoáng sản, khai thác sử dụng tài nguyên nước và phối hợp với các Sở, Ban, ngành liên quan giải quyết các vấn đề liên quan đến tài nguyên và môi trường,…
Đồng thời, đoàn tiến hành thanh tra việc chấp hành pháp luật của 8 tổ chức có hoạt động trong lĩnh vực khai thác cát, sỏi lòng sông và khai thác, sử dụng nước dưới đất tại tỉnh. Qua thanh tra, đoàn đã lập biên bản vi phạm hành chính và đề nghị Sở Tài nguyên và Môi trường xử phạt vi phạm hành chính đối với các tổ chức vi phạm. Lĩnh vực khoáng sản có các tổ chức vi phạm gồm: Công ty Cổ phần vật liệu xây dựng Bến Tre, Hợp tác xã khai thác cát Bình Đại, Hợp tác xã khai thác cát Ba Tri và Hợp tác xã khai thác cát Việt Hùng. Lỗi vi phạm chủ yếu của các tổ chức này là không thông báo kế hoạch khai thác cho cơ quan có thẩm quyền, không lập bản đồ hiện trạng khu vực khai thác, không có thiết kế khai thác mỏ, không ký quỹ phục hồi môi trường, không thực hiện quan trắc môi trường, …Lĩnh vực tài nguyên nước, có các tổ chức vi phạm gồm: Công ty Cổ phần XNK thuỷ sản Bến Tre, Công ty Cổ phần XNK lâm thuỷ sản Bến Tre, Ban Quản lý khai thác cung cấp nước sinh hoạt Châu Thành và Công ty TNHH một thành viên cấp thoát nước Bến Tre. Lỗi vi phạm phổ biến của các tổ chức khai thác nước dưới đất là không lắp đặt thiết bị đo lưu lượng khai thác, quan trắc mực nước, không thực hiện chế độ báo cáo định kỳ, khai thác không có giấy phép thăm dò,…
Nguyễn Minh Cường



10/05/2010 12:00 SAĐã ban hành
Hưởng ứng Ngày môi trường Thế giới năm 2011Hưởng ứng Ngày môi trường Thế giới năm 2011
Hưởng ứng tinh thần chỉ đạo việc tổ chức các hoạt động hưởng ứng Ngày Môi trường Thế giới 5/6 và Năm quốc tế về rừng 2011 của Bộ Tài nguyên và Môi trường và Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre, Chi cục Bảo vệ môi trường Bến Tre phối hợp với Trường Cao đẳng Bến Tre xây dựng kế hoạch tổ chức Hội thi vẽ tranh và ý tưởng “Chung tay bảo vệ sân chim Vàm Hồ”.



Nhằm góp phần tuyên truyền, nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường, bảo vệ rừng; phổ biến tới đông đảo nhân dân về nguyên nhân và tác hại của ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu, suy giảm đa dạng sinh học, suy thoái rừng và những lợi ích của rừng mang lại; thúc đẩy mọi tổ chức, cá nhân tham gia tích cực hơn nữa vào việc xây dựng môi trường sống trong lành, sạch đẹp, tự giác hạn chế sử dụng nguyên liệu, nhiên liệu có phát sinh khí thải gây hiệu ứng nhà kính, gây biến đổi khí hậu; tạo thói quen cho mọi người tự giác tham gia các hoạt động, phong trào bảo vệ môi trường, trồng rừng, phòng chống cháy rừng, bảo vệ các loài động thực vật hoang dã.
Hưởng ứng tinh thần chỉ đạo việc tổ chức các hoạt động hưởng ứng Ngày Môi trường Thế giới 5/6 và Năm quốc tế về rừng 2011 của Bộ Tài nguyên và Môi trường và Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre, Chi cục Bảo vệ môi trường Bến Tre phối hợp với Trường Cao đẳng Bến Tre xây dựng kế hoạch tổ chức Hội thi vẽ tranh và ý tưởng “Chung tay bảo vệ sân chim Vàm Hồ” cho đối tượng là học sinh, sinh viên và người dân trên địa bàn tỉnh Bến Tre.
Cuộc thi được phát động từ ngày 27 tháng 3 đến ngày 27 tháng 5 năm 2011. Sau 02 tháng phát động, ban tổ chức đã nhận được 96 bức tranh và 17 bài viết về ý tưởng “Chung tay bảo vệ sân chim Vàm Hồ”.
Ngày 30 tháng 5 năm 2011, Chi cục Bảo vệ môi trường và Trường Cao đẳng Bến Tre tổ chức hội đồng giám khảo chấm giải các bài viết và tranh vẽ tại Trường Cao đẳng Bến Tre, kết quả chấm giải như sau:
1. Thể loại bài viết về ý tưởng “Chung tay bảo vệ sân chim Vàm Hồ”:
- Giải I: bài viết “Tập sách về sân chim Vàm Hồ” của Ông Phạm Văn Châu, xã Tân Mỹ, huyện Ba Tri.
- Giải III: bài viết “Đề xuất các phương án bảo vệ sân chim Vàm Hồ” của các sinh viên Ngô Thị Diễm Thúy, Trần Thị Thùy Trang và Trần Phương Hải Yến, Lớp K5A.CĐTH, Trường Cao đẳng Bến Tre.
- Giải khuyến khích: bài viết “Khai thác đuông Chà Là ở Vàm Hồ. Tại sao không???”, của Dương Thanh Tuyền, tại 310A4, Đoàn Hoàng Minh, khu phố 3, phường Phú Tân, thành phố Bến Tre.
2. Thể loại vẽ tranh ý tưởng “Chung tay bảo vệ sân chim Vàm Hồ”:
+ Giải I: tác phẩm “Khi đàn chim quay về” của Phạm Nguyễn Phúc Toàn, học sinh Lớp 5/4 Trường Tiểu học Phú Thọ.
+ Giải II:
- Tác phẩm “Bảo vệ - Phát triển sân chim Vàm Hồ” của các sinh viên Ngô Thị Diễm Thúy, Trần Thị Thùy Trang và Trần Phương Hải Yến, Lớp K5A.CĐTH, Trường Cao đẳng Bến Tre.
- Tác phẩm “Chăm sóc chim non” của Phạm Nguyễn Phúc Toàn, học sinh Lớp 5/4 Trường Tiểu học Phú Thọ.
+ Giải III:
- Tác phẩm “Không tên” của Nguyễn Thị Hoài Thương, Tường Tiểu học Tân Mỹ, xã Tân Mỹ, huyện Ba Tri.
- Tác phẩm “Tham quan vườn cò” của Trần Anh Duy, Lớp 5/8 Trường Tiểu học Bến Tre.
- Tác phẩm “Cánh cò tuổi thơ” các sinh viên Ngô Thị Diễm Thúy, Trần Thị Thùy Trang và Trần Phương Hải Yến, Lớp K5A.CĐTH, Trường Cao đẳng Bến Tre.
+ Giải khuyến khích:
- Tác phẩm “Bộ sưu tập động vật hoang dã em mơ ước ở sân chim Vàm Hồ”, của Phạm Công Luận, Lớp 55 Trường Tiểu học Phú Khương.
- Tác phẩm “Chúng em yêu thiên nhiên” của Trần Anh Duy, Lớp 5/8 Trường Tiểu học Bến Tre.
- Tác phẩm “Cánh rừng ngập nước và nơi trú ngụ an toàn của đoàn chim” của Phạm Công Luận, Lớp 55 Trường Tiểu học Phú Khương.
Đồng thời, Ban tổ chức cũng đã trao giải tập thể cho các đơn vị sau:
- Giải I: Trường Tiểu Học Tân Mỹ.
- Giải II: Trường Trung học cơ sở Hưng Nhượng.
Sau đây, Chi cục Bảo vệ môi trường Bến Tre và Trường Cao đẳng Bến Tre sẽ trao giải cho các đối tượng tham dự Hội thi tại Hội thảo sơ kết giữa kỳ thực hiện Dự án “Sổ Tay bảo vệ sân chim Vàm Hồ” và Tổng kết hội thi vẽ tranh, ý tưởng “Chung tay bảo vệ sân chim Vàm Hồ”, tổ chức tại Trường Tiểu học Tân Mỹ, xã Tân Mỹ, huyện Ba Tri, vào ngày 04 tháng 5 năm 2011.
Một số tác phẩm đạt giải:


Tác phẩm “Khi đàn chim quay về” của Phạm Nguyễn Phúc Toàn, học sinh Lớp 5/4 Trường Tiểu học Phú Thọ



Tác phẩm “Bảo vệ - Phát triển sân chim Vàm Hồ” của sinh viên Ngô Thị Diễm Thúy, Trần Thị Thùy Trang và Trần Phương Hải Yến, Lớp K5A.CĐTH, Trường Cao đẳng Bến Tre



02/06/2011 12:00 SAĐã ban hành
Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường Bến Tre – Trương Duy Hải: PHÁT TRIỂN KINH TẾ PHẢI ĐI ĐÔI VỚI BẢO VỆ MÔI TRƯỜNGGiám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường Bến Tre – Trương Duy Hải: PHÁT TRIỂN KINH TẾ PHẢI ĐI ĐÔI VỚI BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
Ngay sau cuộc họp đầu năm triển khai thực hiện công tác năm 2008 của Sở Tài nguyên và Môi trường, chúng tôi đã có cuộc trao đổi với ông Trương Duy Hải, Giám đốc Sở về vấn đề phát triển bền vững ở Bến Tre.



* Thưa ông, mục tiêu phát triển bền vững đang là vấn đề thời sự nóng bỏng không chỉ của nước ta, mà còn của cả thế giới. Ở tỉnh Bến Tre, vấn đề đó đã được quan tâm như thế nào ?

Đúng như vậy. Vấn đề phát triển kinh tế - xã hội gắn với giải quyết ô nhiễm môi trường nhằm mục tiêu phát triển bền vững đang là vấn đề thời sự nóng bỏng, Tỉnh ủy, UBND tỉnh và ngành TNMT hết sức quan tâm. Làm thế nào để hạn chế đến mức thấp nhất sự mâu thuẫn giữa phát triển kinh tế với việc sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường là mục tiêu mà ngành Tài nguyên và Môi trường đã và đang đặt ra. Vì thực tiễn phát triển kinh tế ở các nước và qua 20 năm đổi mới ở nước ta đã chứng minh rằng ở đâu kinh tế càng phát triển thì ở đó tài nguyên thiên nhiên càng có xu hướng bị khai thác cạn kiệt, môi trường bị ô nhiễm, huỷ hoại, xuống cấp, có nơi rất nặng nề. Quá trình phát triển kinh tế - xã hội và đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa bên cạnh việc mang lại những thành tựu kinh tế xã hội nhất định, cũng đã và đang đặt ra những vấn đề môi trường cấp bách, những thách thức to lớn trong quá trình phát triển của tỉnh Bến Tre. Môi trường ở một số nơi bị ô nhiễm, tình trạng ứ đọng nước về mùa mưa ở thị xã, thị trấn chưa được khắc phục tốt, thiếu nhà vệ sinh công cộng. Các bãi rác chưa được đầu tư xử lý triệt để. Môi trường nước nuôi thủy, hải sản vẫn còn nguy cơ bị ô nhiễm do phát triển tự phát. Một số cơ sở sản xuất, làng nghề thủ công chưa có hệ thống xử lý chất thải, gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng xấu đến chất lượng cuộc sống người dân trong khu vực (cơ sở chế biến thủy hải sản, cơ sở sản xuất chỉ xơ dừa, cơ sở chăn nuôi heo…). Do đó, để đạt được mục tiêu phát triển bền vững, chúng ta phải có những giải pháp đồng bộ, trong đó chính sách phát triển kinh tế - xã hội phù hợp và giải pháp hữu hiệu giải quyết ô nhiễm môi trường là hết sức quan trọng.

* Thưa ông, hiện nay Ngành TNMT đã có những giải pháp để giải quyết tình trạng ô nhiễm môi trường cấp bách ?

Hướng tới mục tiêu phát triển bền vững, Ngành TNMT đang xây dựng dự án “Quy hoạch bảo vệ môi trường tỉnh Bến Tre giai đoạn năm 2006 đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020” và đây là quy hoạch hết sức cần thiết nhằm đánh giá hiện trạng, dự báo xu thế biến đổi tài nguyên, môi trường và đề xuất các phương án ưu tiên nhằm bảo vệ môi trường và khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên tỉnh Bến Tre đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020. Dự án sẽ là cơ sở bảo vệ môi trường vững chắc cho việc phát triển bền vững tỉnh Bến tre khi ra các quyết định đầu tư về phát triển KTXH. Cơ sở thực hiệndự án này dựa vào chín chương trình cụ thể như sau:

1. Chương trình nâng cao nhận thức của người dân về BVMT;

2. Chương trình kiểm soát ô nhiễm nguồn nước mặt do nước thải sinh hoạt và sản xuất; nâng cấp cải tạo và xây dựng hệ thống thoát nước và xử lý nước thải sinh hoạt đô thị, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, làng nghề;

3. Chương trình quản lý chất thải rắn, hoàn chỉnh hệ thống thu gom và xử lý chất thải rắn;

4. Chương trình kiểm soát ô nhiễm nguồn nước do các hoạt động chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản;

5. Chương trình kiểm soát xâm nhập mặn, hạn chế và giảm nhẹ tác hại của quá trình xâm nhập mặn diễn ra trên địa bàn tỉnh, chủ yếu ở các huyện ven biển;

6. Chương trình cấp nước sạch và cải tạo tình hình vệ sinh môi trường nông thôn, đặc biệt là vùng bị xâm nhập mặn;

7. Chương trình kiểm soát sạt lở các bờ sông;

8. Chương trình kiểm soát ô nhiễm không khí tại các làng nghề chỉ xơ dừa;
9. Chương trình kiểm soát ô nhiễm chất lượng đất do sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và phân bón trong nông nghiệp;

* Đó là những giải pháp về BVMT. Còn về quản lý và sử dụng tài nguyên, nhất là tài nguyên đất, thì Ngành TNMT đã có những chuẩn bị như thế nào, thưa ông ?

Đối với vấn đề quản lý tài nguyên, nhất là tài nguyên đất, dù có những khó khăn nhất định nhưng chúng ta cũng đang đứng trước môt cơ hội lớn ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nhà. Đó là việc Bến Tre được chọn là 1 trong 9 tỉnh trong cả nước tham gia thực hiện Dự án hoàn thiện và hiện đại hoá hệ thống quản lý đất đai Việt Nam (VLAP) do Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì và triển khai thực hiện với mục tiêu “tăng cường sự tiếp cận của mọi đối tượng đối với dịch vụ quản lý đất đai thông qua việc phát triển một hệ thống quản lý đất đai hoàn thiện ở Việt Nam”. Dự án VLAP dự kiến sẽ được triển khai từ tháng 7-2008 đến tháng 6-2013, tổng kinh phí thực hiện dự kiến lên đến 100 triệu USD (hơn 1.600 tỉ đồng), trong đó Ngân hàng Thế giới (WB) tài trợ 75 triệu USD bằng nguồn vốn IDA, chính phủ Việt Nam đối ứng 1 triệu USD, còn lại 24 triệu USD lấy từ nguồn ngân sách của các địa phương tham gia dự án. Riêng Bến Tre được Bộ Tài nguyên và Môi trường phân bổ 6.846.010 USD từ nguồn IDA của WB, vốn đối ứng của địa phương là 2.414.870 USD, tổng cộng kinh phí là 9.278.880 USD.

Việc được chọn tham gia thực hiện dự án VLAP là cơ hội lớn, là điều kiện vô cùng thuận lợi để tỉnh Bến Tre hoàn thiện và hiện đại hoá hệ thống quản lý đất đai của địa phương. Trước mắt, Sở Tài nguyên và Môi trường đã xây dựng kế hoạch thực hiện tổng thể cho 5 năm và kế hoạch chi tiết 18 tháng theo yêu cầu của dự án. Ủy ban nhân dân tỉnh cũng đã có văn bản cam kết với Bộ Tài nguyên và Môi trường thực hiện dự án đúng mục tiêu, nội dung của VLAP; bố trí vốn đối ứng, đồng thời ứng trước kinh phí cần thiết theo yêu cầu của dự án; duy trì và phát triển hệ thống quản lý đất đai hiện đại của dự án VLAP tại tỉnh Bến Tre; và tập trung hoàn thiện tổ chức bộ máy quản lý đất đai theo quy định pháp luật và chuẩn bị các nguồn lực cần thiết theo yêu cầu của dự án nhằm hoàn thành mục tiêu, nội dung dự án đề ra.

* Xin hỏi ông thêm một câu, nhận định của ông về chặng đường phát triển phía trước của tỉnh, gắn với phát triển bền vững, như thế nào ?

Chặng đường phát triển phía trước của tỉnh nhà không chỉ có thuận lợi mà còn tìm ẩn nhiều vấn đề khó khăn cần phải giải quyết, trong đó có nguy cơ tác động xấu đến tài nguyên thiên nhiên và môi trường của tỉnh. Thông điệp của Ngành là ủng hộ sự phát triển hài hoà, thân thiện với môi trường và quyết tâm của Ngành là phải bảo vệ hình ảnh đẹp của xứ Dừa, hướng đến tầm vóc về một đô thị đẹp của tương lai.

Hiện tại, các chương trình, dự án về hiện đại hoá hệ thống quản lý đất đai và bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh đã được khởi động; quy hoạch bảo vệ môi trường định hướng đến năm 2020 và các quy hoạch khai thác, sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên đã được triển khai xây dựng; các khiếu kiện liên quan đến chính sách đất đai đang được xem xét giải quyết thấu tình, đạt lý… tất cả đều hướng tới mục tiêu phát triển bền vững của tỉnh nhà, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, góp phần cùng cả nước tận dụng tốt thời cơ và vận hội mới của đất nước.

Tất cả những gì được trình bày ở trên, đó cũng chính là sự nhận thức về vị trí, vai trò, trách nhiệm của Ngành trong tiến trình hội nhập của tỉnh. Tôi thay mặt ngành Tài nguyên và Môi trường xin được bày tỏ để quý độc giả chia sẻ và hỗ trợ nhằm giúp chúng tôi hoàn thành tốt nhiệm vụ. Trước thiềm năm mới, thay mặt ngành Tài nguyên và Môi trường Bến Tre kính chúc quý độc giả một năm mới sức khoẻ, hạnh phúc và gặt hái được nhiều thành công trong công việc cũng như trong cuộc sống.

* Xin cảm ơn ông !

VĨNH THỊNH (thực hiện)



01/02/2008 12:00 SAĐã ban hành
Kế hoạch thanh tra về tài nguyên và môi trường năm 2019Kế hoạch thanh tra về tài nguyên và môi trường năm 2019
Quyết định số 3549/QĐ-BTNMT ngày 23 tháng 11 năm 2018 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc phê duyệt Kế hoạch thanh tra năm 2019.
29/01/2019 4:00 CHĐã ban hành
Hỏi: Sự cố tràn dầu là gì? Tôi phải làm gì và thông báo cho cơ quan, đơn vị nào khi phát hiện sự cố tràn dầu?Hỏi: Sự cố tràn dầu là gì? Tôi phải làm gì và thông báo cho cơ quan, đơn vị nào khi phát hiện sự cố tràn dầu?
<b>Trả lời:</b> Sự cố tràn dầu là hiện tượng dầu từ các phương tiện chứa khác nhau hoặc từ lòng đất thoát ra ngoài môi trường tự nhiên do sự cố kỹ thuật, thiên tai hoặc do con người gây ra không kiểm soát được.



Khi phát hiện có sự cố tràn dầu thì các tổ chức, cá nhân Việt Nam và tổ chức, cá nhân nước ngoài có hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trên địa bàn tỉnh Bến Tre có trách nhiệm thông báo khẩn cấp đến Sở Tài nguyên và Môi trường - Thường trực Ban chỉ đạo ứng phó sự cố tràn dầu tỉnh Bến Tre, số 01 Trần Quốc Tuấn, phường 2, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre. Điện thoại liên lạc: 0753 822210. Đồng thời tổ chức, chỉ huy lực lượng, phương tiện tại chỗ của mình để khống chế và hạn chế mức độ lan truyền của dầu.
Ngoài ra, có thể thông báo đến các cơ quan khác như: Cảng vụ Hàng hải Mỹ Tho, Trung tâm Ứng phó sự cố tràn dầu khu vực Miền Nam và UBND huyện (nơi xảy ra sự cố tràn dầu), các đơn vị: hải quân, biên phòng, Cảnh sát giao thông đường thủy,.....
Mai Hanh



06/07/2010 12:00 SAĐã ban hành
THÀNH LẬP CHI CỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TỈNH BẾN TRETHÀNH LẬP CHI CỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TỈNH BẾN TRE
Trên cơ sở Quyết định số 619/QĐ-UBND ngày 03 tháng 4 năm 2008 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre về việc thành lập Chi cục Bảo vệ môi trường Bến Tre. Đến ngày 03 tháng 7 năm 2008 Chi cục Bảo vệ môi trường chính thức đi vào hoạt động.



Chi cục Bảo vệ môi trường được thành lập dựa trên cơ sở nâng cấp Phòng Môi trường với chức năng quản lý nhà nước về môi trường trên phạm vi toàn tỉnh. Chi cục Bảo vệ môi trường chịu trách nhiệm tham mưu cho cấp trên tham gia xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật, chương trình kế hoạch, dự án về bảo vệ môi trường theo sự phân công của Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường; thực hiện các quy định về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật môi trường trong các hoạt động sản xuất kinh doanh và dịch vụ; tổ chức thẩm định báo cáo đánh giá môi trường chiến lược và thẩm định, phê duyệt báo cáo đánh giá các tác động của môi trường; điều tra, thống kê các nguồn thải, loại chất thải trên địa bàn tỉnh; kiến nghị các cơ quan thẩm quyền xử lý các cơ sở gây ô nhiễm môi trường; đánh giá, cảnh báo và dự báo nguy cơ, sự cố môi trường trên địa bàn tỉnh; phối hợp liên ngành, liên tỉnh và công tác bảo tồn khai thác bền vững tài nguyên thiên nhiên; tổ chức thực hiện quan trắc môi trường theo nội dung, chương trình đã được phê duyệt; thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ, chủ trì hoặc tham gia thực hiện các dự án trong nước và hợp tác quốc tế; hướng dẫn nghiệp vụ về quản lý môi trường đối với Phòng tài nguyên môi trường các huyện, thị và cán bộ địa chính xã, phường, thị trấn; phối hợp với Thanh tra Sở trong việc kiểm tra, thanh tra, phát hiện các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh….

Lê Uyên



13/08/2008 12:00 SAĐã ban hành
Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ 06/6/2018 đến 13/6/2019Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ 06/6/2018 đến 13/6/2019
Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ 06/6/2018 đến 13/6/2019
17/06/2019 9:00 SAĐã ban hành
Góp ý Dự thảo Quyết định ban hành Quy định về quy trình thu hồi đất đối với các dự án đầu tư không đưa đất vào sử dụng hoặc triển khai chậm tiến độ thực hiện dự án trên địa bàn tỉnh Bến TreGóp ý Dự thảo Quyết định ban hành Quy định về quy trình thu hồi đất đối với các dự án đầu tư không đưa đất vào sử dụng hoặc triển khai chậm tiến độ thực hiện dự án trên địa bàn tỉnh Bến Tre
Góp ý Dự thảo Quyết định ban hành Quy định về quy trình thu hồi đất đối với các dự án đầu tư không đưa đất vào sử dụng hoặc triển khai chậm tiến độ thực hiện dự án trên địa bàn tỉnh Bến Tre

​     Sở Tài nguyên và Môi trường đã xây dựng dự thảo Quyết định Quy định thu hồi đất đối với trường hợp Bên thuê đất, thuê lại đất trong khu công nghiệp, khu chế xuất, cụm công nghiệp, làng nghề không đưa đất vào sử dụng, chậm đưa đất vào sử dụng để trình Ủy ban nhân dân tỉnh trong kỳ họp Thành viên Ủy ban nhân dân tỉnh tháng 7 năm 2018.

      Các ý kiến đóng góp của các Sở, ngành tỉnh và Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố xin gửi về Chi cục Quản lý đất đai - Sở Tài nguyên và Môi trường trước ngày 05 tháng 10 năm 2018, file góp ý gửi về địa chỉ ccqldd.stnmt@bentre.gov.vn.

Tải văn bản: Du_Thao_QD_2646.rar

01/10/2018 4:00 CHĐã ban hành
BẾN TRE BAN HÀNH BẢNG GIÁ ĐẤT 2009BẾN TRE BAN HÀNH BẢNG GIÁ ĐẤT 2009
Ngày 23   tháng 12  năm 2008, Uỷ ban nhân dân tỉnh Bến Tre đã ban Quyết định số 27/2008/QĐ-UBND Về việc ban hành Quy định về giá các loại đất áp dụng trên địa bàn tỉnh Bến Tre năm 2009.



Quy định này được sử dụng làm căn cứ để: tính thuế đối với việc sử dụng đất và chuyển quyền sử dụng đất; tính tiền sử dụng đất và tiền cho thuê đất khi giao đất, cho thuê đất không thông qua đấu giá quyền sử dụng đất hoặc đấu thầu dự án có sử dụng đất; tính giá trị quyền sử dụng đất khi giao đất không thu tiền sử dụng đất cho các tổ chức, cá nhân; xác định giá trị quyền sử dụng đất để tính vào giá trị tài sản của doanh nghiệp Nhà nước khi cổ phần hoá; tính giá trị quyền sử dụng đất đất để thu lệ phí trước bạ, tính giá trị quyền sử dụng đất để bồi thường, giải toả, thu hồi đất cho các mục đích an ninh, quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và phát triển kinh tế, …
Theo bảng giá mới này thì giá đất thổ cư cao nhất tại khu vực trung tâm thị xã Bến Tre là 23 triệu đồng/m2 (đường Nguyễn Đình Chiểu, đoạn từ vòng xoay trung tâm thị xã đến ngã tư Phan Ngọc Tòng; và đại lộ Đồng Khởi, đoạn từ cầu Bến Tre 1 đến vòng xoay trung tâm). Tiếp đến, các đoạn đường ở khu chợ và các đại lộ, trục đường chính trong nội ô thị xã đều có giá từ 17 triệu, 18 triệu đến 20 triệu đồng/m2.
Nhìn chung, giá đất năm 2009 ít thay đổi so với năm 2008. Năm nay, giá đất nông nghiệp và được phân theo 5 vị trí, trong đó có vị trí đất không có lối đi dẫn vào đây là vị trí mới so với bảng giá đất cũ và cách tính vị trí cũng khác so với bảng giá đất cũ, đất trồng cây hàng năm cao nhất là 160.000 đ/m2 (vị trí 1). Đất trồng cây lâu năm vị trí 1 là 189.000 đ/m2. Đất nuôi trồng thuỷ sản vị trí 1 là 12.000 đ/m2. Đất làm muối vị trí 1 là 15.000 đ/m2, Đất lâm nghiệp vị trí 1: Giá cao nhất là 10.000 đ/m2.
Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2009 và thay thế cho Quyết định số 09/2008/QĐ-UBND ngày 28 tháng 4 năm 2008 của Uỷ ban nhân dân tỉnh về việc Ban hành Bảng giá các loại đất áp dụng trên địa bàn tỉnh Bến Tre năm 2008 và Quyết định số 15/2008/QĐ-UBND ngày 03 tháng 7 năm 2008 của Uỷ ban nhân dân tỉnh về việc sửa đổi, bổ sung Quyết định số 09/2008/QĐ-UBND ngày 28 tháng 4 năm 2008 của Uỷ ban nhân dân tỉnh./.

(Để xem bảng chi tiết giá đất vào mục Văn bản pháp quy -> Tài nguyên đất).
HÙNG CƯỜNG



07/01/2009 12:00 SAĐã ban hành
Thông báo Tuyển dụng hợp đồng lao động của Trung tâm Quan trắc tài nguyên và môi trườngThông báo Tuyển dụng hợp đồng lao động của Trung tâm Quan trắc tài nguyên và môi trường
Trung tâm Quan trắc tài nguyên và môi trường thông báo tuyển dụng hợp đồng lao động vị trí Giao dịch khách hàng, tiếp nhận và trả kết quả, quản lý các hợp đồng dịch vụ

​1. Vị trí tuyển dụng

    Giao dịch khách hàng, tiếp nhận và trả kết quả, quản lý các hợp đồng dịch vụ.

2. Điều kiện, tiêu chuẩn

   - Giới tính: Nữ

   - Yêu cầu trình độ: Kỹ sư khoa học môi trường

  - Tin học: Sử dụng thành thạo tin học văn phòng

  - Ngoại ngữ: Anh văn trình độ B trở lên.

3. Thời gian nhận hồ sơ

    Nhận hồ sơ từ ngày ra thông báo đến khi tuyển được người theo yêu cầu.

Chi tiết xem tại: 50_2019_TB_TTQTTNMT.pdf

06/06/2019 4:00 CHĐã ban hành
Thông tin quy hoạch các đơn vị hành chính thuộc tỉnh Bến Tre Thông tin quy hoạch các đơn vị hành chính thuộc tỉnh Bến Tre
Hiện tại người truy cập có thể xem thông tin quy hoạch các đơn vị hành chính thuộc tỉnh Bến Tre như sau:
- Thành phố Bến Tre: P1, P2, P3, P4, P5, P6, P7, P8, một phần xã: Bình Phú, xã Sơn Đông, xã Mỹ Thạnh An.
- Huyện Thạnh Phú: Thị trấn Thạnh Phú, xã Phú Khánh, xã Đại Điền, xã Quới Điền, xã Tân Phong, xã Thới Thạnh.
Chúng tôi sẽ cố gắng cập nhật thông tin các huyện còn lại thuộc tỉnh Bến Tre trong thời gian sớm nhất.
Nếu người truy cập phát hiện sai sót xin góp ý về Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất Bến Tre. ĐT: 075.3821104 hoặc Email: vpdkbentre@yahoo.com.vn.
Người truy cập thông tin quy hoạch của các phường Phú Khương, Phú Tân, xã Phú Hưng theo bảng hướng dẫn sau:

* Các tờ bản đồ địa chính số: 1,2,3,4 và 11 của xã Phú hưng chuyển một phần sang Phường Phú Tân thì thực hiện đổi thành tờ bản đồ số: 31,33,34,16 và 35.
09/10/2008 12:00 SAĐã ban hành
Danh sách các mỏ cát đã được cấp phép khai thác trên địa bàn tỉnh Bến TreDanh sách các mỏ cát đã được cấp phép khai thác trên địa bàn tỉnh Bến Tre









30/01/2013 12:00 SAĐã ban hành
Hội thảo quốc tế "Thiết lập hệ thống hợp tác về thông tin môi trường giữa các nước Đông Nam Á"Hội thảo quốc tế "Thiết lập hệ thống hợp tác về thông tin môi trường giữa các nước Đông Nam Á"
Ngày 6/9, tại Hà Nội, Cục Đo đạc Bản đồ và Viện Môi trường Hàn Quốc đồng phối hợp tổ chức Hội thảo quốc tế "Thiết lập hệ thống hợp tác về thông tin môi trường giữa các nước Đông Nam Á". Nội dung của Hội thảo tập trung vào 3 lĩnh vực: Hệ thống thông tin địa lý Quốc gia (NGIS), thông tin môi trường và một số nội dung liên quan đến hệ thống thông tin đất đai. Hiện  tại ở Hàn Quốc, người dân, các nhà đầu tư có thể lấy thông tin môi trường và đất đai thông qua mạng internet, khó khăn nhất khi xây dựng hệ thống bản đồ này là thu thập dữ liệu



Phát biểu tại Hội thảo ông Trần Bạch Giang - Cục Trưởng Cục đo đạc bản đồ cho biết: Đến nay Bộ Tài nguyên và Môi trường đã xây dựng chuẩn thông tin địa lý cơ sở Quốc gia, thành lập cơ sở dữ liệu nền thông tin địa lý, xây dựng cơ sở dữ liệu tích hợp tài nguyên & môi trường, xây dựng cơ sở dữ liệu tích hợp tài nguyên & môi trường biển, xây dựng Hệ thống thông tin môi trường. Bên cạnh đó, ban hành các chuẩn về bản đồ số như quy định kỹ thuật thành lập bản đồ địa hình tỷ lệ 1:2000 và 1:5000 bằng công nghệ ảnh số; quy định kỹ thuật thành lập bản đồ địa hình tỷ lệ 1:10000, 1:25000 và 1:50000 bằng công nghệ ảnh số; quy phạm thành lập bản đồ địa chính; quy phạm thành lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất... Tuy nhiên các chuẩn này chỉ mới là chuẩn bản đồ số, chưa phải là chuẩn thông tin địa lý Quốc gia nên yêu cầu đặt ra hiện nay là cần có các chuẩn về thu thập, quản lý và sử dụng thông tin địa lý, các bộ dữ liệu nền thống nhất, nhất quán trong thể hiện và sử dụng, Nhà nước cần thống nhất quản lý các nguồn tư liệu thông tin địa lý, thúc đẩy, hỗ trợ và phát triển các ứng dụng khác trên bộ dữ liệu nền – thông tin địa lý cơ sở Quốc gia.


Mai Dung


11/09/2007 12:00 SAĐã ban hành
Bản tin tình hình xâm nhập mặn tỉnh Bến Tre (Từ ngày 14/3 đến ngày 21/3/2017)Bản tin tình hình xâm nhập mặn tỉnh Bến Tre (Từ ngày 14/3 đến ngày 21/3/2017)
Bản tin dự báo độ mặn từ ngày 14 tháng 3 đến ngày 21 tháng 3 năm 2017 (Tuần 11/2017)

I/ TÓM TẮT TÌNH HÌNH XÂM NHẬP MẶN TỪ NGÀY 07 ĐẾN 07 GIỜ NGÀY 14/03/2017 (TUẦN 10/2017):

Diễn biến xâm nhập mặn cao nhất hàng ngày có xu thế xâm nhập giảm dần trong các ngày 07-08, sau đó xâm nhập sâu dần từ ngày 09 đến ngày 14.

Độ mặn xâm nhập sâu nhất xuất hiện trong các ngày 10-13 và ở mức thấp, ít sâu hơn so với tuần trước và thấp hơn so với cùng thời kỳ năm 2016.

Độ mặn cao nhất đo được tại các nơi như sau:

Ø Trên sông Cửa Đại:

+ Tại Bình Đại (cảng cá Bình Đại - huyện Bình Đại): 20.1 ‰ ngày 09.

+ Tại Lộc Thuận (xã Lộc Thuận - huyện Bình Đại): 8.6 ‰  ngày 09.

+ Tại Giao Hoà (xã Giao Hoà - huyện Châu Thành): 0.9 ‰  ngày 12.

+ Tại Quới Sơn (Ấp 2, xã Quới Sơn - huyện Châu Thành): 0.2 ‰ ngày 07-13.

+ Tại Long Hòa (xã Long Hòa - huyện Bình Đại): 0.1 ‰. (sông Ba Lai).

Ø Trên sông Hàm Luông:

+ Tại An Thuận (cảng cá Tiệm Tôm - huyện Ba Tri): 21.7 ‰ ngày 09.

+ Tại Sơn Đốc (xã Hưng Lễ - huyện Giồng Trôm): 7.5 ‰ ngày 09.

+ Tại Phú Khánh (xã Phú Khánh - huyện Thạnh Phú): 4.2 ‰ ngày 13.

+ Tại Vàm Cái Quao (xã Bình Khánh Đông - huyện Mỏ Cày Nam): 6.3 ‰ ngày 08.

+ Tại Vàm Nước Trong (xã Tân Thành Bình - huyện Mỏ Cày Bắc): 1.1 ‰ ngày 12.

+ Tại Mỹ Hoá (phường 07 - Tp. Bến Tre): 0.4 ‰  ngày 08-13.

+ Tại Thanh Tân (xã Thanh Tân - huyện Mỏ Cày Bắc): 0.2 ‰ ngày 09, 10.

+ Tại An Hiệp (xã An Hiệp - huyện Châu Thành): 0.2 ‰ ngày 11.

+ Tại Vàm Mơn (xã Phú Sơn - huyện Chợ Lách): 0.1 ‰.

Ø Trên sông Cổ Chiên:

+ Tại Bến Trại (xã An Thuận - huyện Thạnh Phú): 21.1 ‰ ngày 09.

+ Tại Hương Mỹ (xã Hương Mỹ - huyện Mỏ Cày Nam): 5.2 ‰  ngày 09.

+ Tại Cẩm Sơn (xã Cẩm Sơn - huyện Mỏ Cày Nam): 2.4 ‰ ngày 10.

+ Tại Thành Thới B (xã Thành Thới B - huyện Mỏ Cày Nam): 0.2 ‰ ngày 07-14.

+ Tại Nhuận Phú Tân (xã Nhuận Phú Tân - huyện Mỏ Cày Bắc): 0.1 ‰.

Độ mặn 4 ‰ trên các sông chính đã xâm nhập đến:

- Sông Cửa Đại: xã Vang Quới Tây (huyện Bình Đại), (cách cửa sông khoảng 30-32km).

- Sông Hàm Luông: xã Hưng Phong (huyện Giồng Trôm) - xã Phước Hiệp (huyện Mỏ Cày Nam), (cách cửa sông khoảng 36-38km).

- Sông Cổ Chiên: xã Cẩm Sơn (huyện Mỏ Cày Nam), (cách cửa sông khoảng 32-34km).

Độ mặn 1 ‰ trên các sông chính đã xâm nhập đến:

- Sông Cửa Đại: xã Giao Hòa (huyện Châu Thành), (cách cửa sông khoảng 40-42km).

- Sông Hàm Luông: xã Mỹ Thạnh An (Tp. Bến Tre), (cách cửa sông khoảng 45-47km).

- Sông Cổ Chiên: xã Thành Thới B (huyện Mỏ Cày Nam), (cách cửa sông khoảng 42-44km).

II / DỰ BÁO TÌNH HÌNH XÂM NHẬP MẶN TỪ NGÀY 14 ĐẾN NGÀY 21/03/2017 (TUẦN 11/2017):

Diễn biến xâm nhập mặn cao nhất hàng ngày có xu thế ít biến đổi trong 02 ngày 14-15, sau đó xâm nhập sâu dần từ ngày 16 đến ngày 20, 21.

Độ mặn xâm nhập sâu nhất xuất hiện trong các ngày 19-21 và ở mức cao, sâu hơn so với tuần qua và thấp hơn so với cùng thời kỳ năm 2016.

Ø Trên sông Cửa Đại:

+ Tại Bình Đại (cảng cá Bình Đại - huyện Bình Đại): Smax từ  23.0 ‰ đến 26.0 ‰.

+ Tại Lộc Thuận (xã Lộc Thuận - huyện Bình Đại): Smax từ  11.0 ‰ đến 14.0 ‰.

+ Tại Giao Hoà (xã Giao Hoà - huyện Châu Thành): Smax từ  1.0 ‰ đến 3.0 ‰.

+ Tại Quới Sơn (Ấp 2, xã Quới Sơn - huyện Châu Thành): Smax từ  0.5 ‰ đến 2.0 ‰.

+ Tại Long Hoà (xã Long Hoà - huyện Bình Đại): 0.2 ‰  đến 2.0 ‰ (sông Ba Lai).

Ø Trên sông Hàm Luông:

+ Tại An Thuận (Tiệm Tôm - huyện Ba Tri): Smax từ 25.0 ‰ đến 28.0 ‰.

+ Tại Sơn Đốc (xã Hưng Lễ - huyện Giồng Trôm): Smax từ  11.0 ‰ đến 14.0 ‰.

+ Tại Phú Khánh (xã Phú Khánh - huyện Thạnh Phú): Smax từ 7.0 ‰ đến 10.0 ‰ (trong kênh).

+ Tại Vàm Cái Quao (xã Bình Khánh Đông - huyện Mỏ Cày Nam): Smax từ 7.0 ‰ đến 10.0 ‰.

+ Tại Vàm Nước Trong (xã Tân Thành Bình - huyện Mỏ Cày Bắc): Smax từ 2.0 ‰ đến 4.0 ‰.

+ Tại Mỹ Hoá (phường 07 - Tp. Bến Tre): Smax từ 0.5 ‰ đến 2.5 ‰.

+ Tại Thanh Tân (xã Thanh Tân - huyện Mỏ Cày Bắc): Smax từ 0.2 ‰ đến 1.5 ‰.

+ Tại An Hiệp (xã An Hiệp - huyện Châu Thành): Smax từ 0.2 ‰ đến 1.0 ‰.

+ Tại Vàm Mơn (xã Phú Sơn - huyện Chợ Lách): Smax 0.2 ‰.

+ Tại Hòa Nghĩa (xã Hòa Nghĩa - huyện Chợ Lách): 0.1 ‰.

Ø Trên sông Cổ Chiên:

+ Tại Bến Trại (xã An Thuận - huyện Thạnh Phú): Smax từ  23.0 ‰ đến 26.0 ‰.

+ Tại Hương Mỹ (xã Hương Mỹ - huyện Mỏ Cày Nam): Smax từ 6.0 ‰ đến 9.0‰.

+ Tại Cẩm Sơn (xã Cẩm Sơn - huyện Mỏ Cày Nam): Smax từ  5.0 ‰ đến 8.0 ‰.

+ Tại Thành Thới B (xã Thành Thới B - huyện Mỏ Cày Nam): Smax từ 1.0 ‰ đến 3.0 ‰.

+ Tại Nhuận Phú Tân (xã Nhuận Phú Tân): Smax từ 0.2 ‰ đến 1.0 ‰.

Độ mặn 4 ‰ trên các sông chính có khả năng xâm nhập đến:

- Sông Cửa Đại: xã Long Định (huyện Bình Đại), (cách cửa sông khoảng 34-36km).

- Sông Hàm Luông: xã Sơn Phú (huyện Giồng Trôm) - Định Thủy (huyện Mỏ Cày Nam), (cách cửa sông khoảng 40-42km).

- Sông Cổ Chiên: xã Thành Thới A (huyện Mỏ Cày Nam), (cách cửa sông khoảng 40-42km).

Độ mặn 1 ‰ trên các sông chính có khả năng xâm nhập đến:

- Sông Cửa Đại: xã Quới Sơn (huyện Châu Thành), (cách cửa sông khoảng 46-48km).

- Sông Hàm Luông: xã Mỹ Thành (TP. Bến Tre), (cách cửa sông khoảng 50-52km).

- Sông Cổ Chiên: xã Nhuận Phú Tân (huyện Mỏ Cày Bắc), (cách cửa sông khoảng 52-54km).

* Cấp độ rủi ro thiên tai do xâm nhập mặn trong tuần này:

Sông Cửa Đại: cấp độ 1.

Sông Hàm Luông:cấp độ 1.

Sông Cổ Chiên: cấp độ 1.

Tuan 11.png 

Ban tin man 14-3-2017 (Tuan11).png

16/03/2017 5:00 CHĐã ban hành
Xây dựng hệ thống thông tin dữ liệu tài nguyên nước: Hoàn thiện cơ chế chính sách là đòi hỏi cấp báchXây dựng hệ thống thông tin dữ liệu tài nguyên nước: Hoàn thiện cơ chế chính sách là đòi hỏi cấp bách
“5 năm tới cần hoàn thiện khung pháp lý trong việc chia sẻ thông tin dữ liệu TNN, bộ công cụ chia sẻ dữ liệu TNN và cơ sở vật chất thúc đẩy quá trình chia sẻ TNN”, Thứ trưởng Nguyễn Thái Lai chỉ đạo tại Hội thảo “Hệ thống thông tin về tài nguyên nước” do Trung tâm Thông tin kinh tế TNN (Cục Quản lý TNN) phối hợp với các chuyên gia Đức tổ chức ngày 21 và 22/9.



Thông tin, dữ liệu về tài nguyên nước (TNN) là công cụ quan trọng cho quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, quá trình ra quyết định và phát triển kinh tế xã hội. Tuy nhiên, nước ta hiện nay vẫn chưa có hệ thống thông tin dữ liệu về TNN.
Trong buổi làm việc mới đây với Cục Công nghệ thông tin (CNTT), Bộ TN&MT, Thứ trưởng Nguyễn Thái Lai đã chỉ đạo Cục Quản lý TNN cần phối hợp chặt chẽ với Cục CNTT nhanh chóng xây dựng hệ thống thông tin, dữ liệu TNN. Bởi lẽ hiện nay thông tin, dữ liệu TNN nằm rải rác ở nhiều Bộ, ngành khác nhau, dưới dạng tài liệu hoặc số liệu chưa chuẩn hóa và chỉnh lý theo chuẩn thống nhất. Tại Hội thảo này, các nhà quản lý, các chuyên gia đã bước đầu chia sẻ kinh nghiệm trong việc xây dựng hệ thống thông tin dữ liệu TNN.
Những thách thức
Theo TS. Claudia Kunzer, nữ chuyên gia Đức đang tham gia Dự án WISDOM - hỗ trợ Bộ TN&MT xây dựng và phát triển hệ thống thông tin về tài nguyên nước, có không ít thách thức trong việc xây dựng hệ thống này. Đó là, việc thu thập quản lý truy cập thông tin về tài nguyên đất và nước còn rất phân tán. Các dữ liệu của các cơ quan khác nhau còn chưa nhất quán và thiếu trao đổi giữa các cơ quan Nhà nước. “Hệ thống thông tin, cảnh báo và giám sát chất lượng nước, dự báo lũ, lụt và hạn hán chưa được xây dựng đầy đủ”, TS. Claudia Kunzer nói.
Chính vì vậy, việc xây dựng năng lực cho Dự án WISDOM là hết sức cần thiết. Cụ thể là xây dựng các khóa tập huấn đào tạo về quản lý tri thức, đào tạo trong phòng học đa năng (phòng Lab) về phân tích chất lượng nước. Ngoài ra còn cần các khóa đào tạo về viễn thám, hệ thống thông tin địa lý (GIS), công nghệ thông tin (IT), xây dựng chương trình…
Ông Châu Trần Vĩnh, Giám đốc Trung tâm Thông tin kinh tế Tài nguyên nước (Cục Quản lý TNN), lại đề cập đến một số thách thức trong quản lý thông tin, dữ liệu TNN. Đó là, thiếu cơ chế chia sẻ thông tin dữ liệu và thiếu cả các quy chế, quy định về lưu trữ, khai thác, sử dụng thông tin, dữ liệu; các thông tin dữ liệu còn phân tán chồng chéo và thiếu sự phối hợp, trao đổi thông tin, dữ liệu giữa các cơ quan ban ngành, giữa địa phương và Trung ương. Mặt khác, việc giao nộp, lưu trữ để đưa vào khai thác, sử dụng còn rất chậm.
“Thông tin, dữ liệu TNN nằm rải rác ở nhiều Bộ, ngành, cơ quan khác nhau, dưới dạng tài liệu hay số liệu thô chưa chuẩn hóa và chỉnh lý theo chuẩn thống nhất”, ông Vĩnh nói. Nguồn thông tin dữ liệu này rất lớn, có giá trị sử dụng cao và lâu dài. Nhưng cho đến nay kho dữ liệu này chưa được tổ chức thành CSDL do chưa có nền tảng công nghệ thông tin.
Chính vì cơ sở hạ tầng còn lạc hậu, năng lực về CNTT còn yếu nên chưa đáp ứng được việc triển khai các ứng dụng CNTT phục vụ công tác quản lý và khai thác, sử dụng thông tin, dữ liệu TNN.
Đại diện Cục CNTT cũng cho rằng, trung tâm CNTT thuộc Sở TN&MT các tỉnh hiện mới chỉ tập trung ứng dụng CNTT cho công tác quản lý đất đai, chưa quan tâm ứng dụng đúng mức cho các lĩnh vực khác trong ngành. Đó là chưa kể kinh phí dành cho ứng dụng CNTT chưa đáp ứng nhu cầu. Các chuẩn về cơ sở hạ tầng, chuẩn dữ liệu chuyên ngành, định mức kinh tế kỹ thuật, ứng dụng CNTT chính thức làm cơ sở áp dụng trong toàn ngành đến nay vẫn chưa được xây dựng.
Ba giai đoạn xây dựng hệ thống thông tin, dữ liệu TNN
Đây là kiến nghị của ông Châu Trần Vĩnh. Theo đó, giai đoạn 1 (2010 – 2011), cần xây dựng hệ thống thông tin (HTTT) nhằm kết nối giữa Cục Quản lý TNN, Trung tâm Quy hoạch và Điều tra TNN, Ủy ban Sông Mê Công Việt Nam đồng thời kết nối mạng quan trắc động thái nước dưới đất, mạng quan trắc thủy văn. Giai đoạn 2 (2012 – 2013), mở rộng hệ thống kết nối thêm với các đơn vị có liên quan đến TNN như: Tổng cục Môi trường, Tổng cục Biển và Hải đảo, Trung tâm Khí tượng Thủy văn Quốc gia, Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn môi trường đồng thời kết nối thêm mạng quan trắc khí tượng, mạng giám sát chất lượng nước. Giai đoạn 3 (2014 – 2015), cần mở rộng hệ thống kết nối Sở TN&MT các tỉnh, các đơn vị khác có liên quan, các mạng quan trắc về TNN của địa phương.
Đề cập tới giải pháp kỹ thuật và công nghệ nhằm xây dựng hệ thống thông tin môi trường nói chung và mô hình HTTT quản lý môi trường lưu vực sông nói riêng, TS. Dương Hoàng Tùng (Tổng cục Môi trường) cho rằng: HTTT quản lý môi trường lưu vực sông là một trong số các HTTT môi trường chuyên ngành hiện đang được Tổng cục Môi trường triển khai.
Hoàn thiện cơ chế chính sách: Đòi hỏi cấp bách
“Chúng ta cần chuẩn hóa dữ liệu, xây dựng khái niệm, mục đích chung của cả hệ thống thông tin dữ liệu TNN. Cần ưu tiên xây dựng những thông tin dữ liệu đang được các đối tượng quan tâm”, chuyên gia Đức, Tiến sỹ Thilo Wehrmann đề xuất.
“Để tích hợp các HTTT môi trường chuyên ngành vào HTTT môi trường nói chung cần có một chuẩn thống nhất trong toàn hệ thống. Cần thiết lập cơ chế, quy chế hành chính, kỹ thuật đảm bảo cung cấp, chia sẻ thông tin dữ liệu và phân công trách nhiệm cụ thể từ TƯ đến địa phương cho các hệ thống”, TS. Tùng nói. Ngoài ra, để HTTT hoạt động có hiệu quả, cần có kinh phí đảm bảo duy trì và cập nhật thông tin thường xuyên. Cán bộ vận hành cần thường xuyên được đào tạo, học tập nâng cao trình độ để đảm bảo hệ thống hoạt động ổn định.
Cũng với mục tiêu cần sớm hoàn thiện cơ chế, chính sách, đại diện Cục CNTT cho biết: Trong năm 2010, Cục CNTT sẽ phối hợp với các đơn vị đầu mối thông tin các lĩnh vực và địa phương xây dựng các văn bản pháp quy. Đó là, quy chế cung cấp dữ liệu, xây dựng, quản lý, cập nhật, khai thác và bảo trì CSDL tài nguyên và môi trường Quốc gia, quy trình kỹ thuật xây dựng danh mục CSDL TN&MT, quy chế lập, thực hiện, kiểm tra, nghiệm thu sản phẩm các dự án ứng dụng CNTT trong ngành TN&MT, quy chế thẩm định và khuyến nghị sử dụng các sản phẩm phần mềm ứng dụng trong ngành TN&MT.
Đồng thời cũng trong năm 2010, 4 văn bản pháp quy sẽ được xây dựng như: Thông tư liên tịch (TTLT) Bộ TN&MT - Bộ Tài chính quy định đơn giá cung cấp dữ liệu trong CSDL TN&MT; TTLT Bộ TN&MT - Bộ Thông tin Truyền thông (TTTT) quy định về tính pháp lý CSDL TN&MT; TTLT Bộ TN&MT - Bộ TTTT quy định sử dụng chữ ký điện tử trong ngành TN&MT; Thông tư hướng dẫn cơ cấu tổ chức và hoạt động của các Trung tâm CNTT trực thuộc Sở TN&MT các tỉnh, thành phố trực thuộc TƯ.
Những ý kiến, tham luận đóng góp tại hội thảo này bước đầu cho thấy để xây dựng được hệ thống thông tin dữ liệu TNN có rất nhiều vấn đề được đề cập đến. Tuy nhiên, nhiều đại biểu cho rằng, việc hoàn thiện văn bản pháp luật là công việc đầu tiên phải làm ngay.

Theo www.monre.gov.vn



28/09/2009 12:00 SAĐã ban hành
Kế hoạch thực hiện Đề án xử lý, di dời các cơ sở sản xuất, kinh doanh gây ô nhiễm ra khỏi nội thành thành phố Bến Tre trong năm 2010Kế hoạch thực hiện Đề án xử lý, di dời các cơ sở sản xuất, kinh doanh gây ô nhiễm ra khỏi nội thành thành phố Bến Tre trong năm 2010
Ngày 07 tháng 7 năm 2010, Trưởng Ban chỉ đạo thực hiện Đề án xử lý, di dời các cơ sở sản xuất, kinh doanh gây ô nhiễm ra khỏi nội thành thành phố Bến Tre đã ban hành Kế hoạch số 2687/KH-BCĐ về thực hiện Đề án Bổ sung xử lý, di dời các cơ sở sản xuất, kinh doanh gây ô nhiễm ra khỏi nội thành thành phố Bến Tre trong năm 2010.



Kế hoạch thực hiện Đề án trong năm 2010 đã vạch ra 03 mục tiêu phấn đấu: Hoàn thành việc xử lý 90% cơ sở sản xuất, kinh doanh gây ô nhiễm trên địa bàn nội thành thành phố Bến Tre. 90% cơ sở đầu tư xây dựng hệ thống xử lý chất thải tại chỗ, đảm bảo chất thải sau xử lý đạt tiêu chuẩn Việt Nam, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường. Chọn, xác định địa điểm và diện tích mặt bằng quy hoạch di dời các cơ sở ra khỏi nội thành thành phố Bến Tre, đảm bảo ổn định và phát triển sản xuất kinh doanh.
Các nhiệm vụ chính thực hiện Đề án trong năm 2010:
- Điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội thành phố Bến Tre.
- Ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Ban chỉ đạo thực hiện Đề án bổ sung xử lý, di dời các cơ sở gây ô nhiễm ra khỏi nội thành thành phố Bến Tre; Quy định một số chính sách tài chính cho việc xử lý môi trường và di dời các cơ sở ra khỏi thành phố Bến Tre và Quy định các ngành nghề sản xuất, kinh doanh không cấp mới giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; cấp mới hoặc điều chỉnh giấy chứng nhận đầu tư trong nội thành thành phố Bến Tre theo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội thành phố Bến Tre.
- Tiếp tục rà soát, thống kê số lượng cơ sở trên địa bàn nội thành thành phố Bến Tre xử lý chất thải tại chỗ hoặc bắt buộc di dời và yêu cầu các cơ sở xử lý chất thải tại chỗ đăng ký Bản cam kết xử lý chất thải tại chỗ.
- Chọn, xác định địa điểm ổn định, lâu dài và diện tích mặt bằng quy hoạch di dời các cơ sở ra khỏi nội thành thành phố Bến Tre. Hạn chế các cơ sở tự di dời đến địa điểm mới không phù hợp với quy hoạch, ảnh hưởng đến sự phát triển các khu đô thị mới trong tương lai.
- Hướng dẫn các cơ sở lập hồ sơ thủ tục để hưởng chính sách hỗ trợ xử lý chất thải tại chỗ hoặc di dời.
- Tiến hành kiểm tra các công trình xử lý chất thải của các cơ sở cam kết xử lý tại chổ và xây dựng lịch trình di dời của các cơ sở bắt buộc phải di dời.
- Nghiên cứu, lựa chọn, giới thiệu mô hình xử lý chất thải phù hợp điều kiện thực tế của các cơ sở.
Để đạt được các mục tiêu và nhiệm vụ trên, các cấp Ủy Đảng, chính quyền các cấp và các sở, ban, ngành, đoàn thể có liên quan phải tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, thường xuyên kiểm tra, đôn đốc tiến độ thực hiện các nhiệm vụ được phân công theo nội dung kế hoạch đã đề ra.
Đến hết tháng 9 năm 2010, các cơ sở sản xuất, kinh doanh gây ô nhiễm trên địa bàn nội thành thành phố Bến Tre phải đầu tư xây dựng hoàn chỉnh hệ thống xử lý chất thải, đảm bảo chất thải sau xử lý đạt tiêu chuẩn Việt Nam hoặc Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về môi trường hiện hành.
Trong quý 4/năm 2010, Sở Tài nguyên và Môi trường sẽ phối hợp với Ủy ban nhân dân thành phố Bến Tre tiến hành thanh tra, kiểm tra xử lý các cơ sở chưa xử lý chất thải đạt tiêu chuẩn Việt Nam hoặc quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường.
Theo Quyết định số 386/QĐ-UBND ngày 26 tháng 02 năm 2009 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre ban hành Đề án bổ sung xử lý, di dời các cơ sở sản xuất, kinh doanh gây ô nhiễm ra khỏi nội ô thị xã Bến Tre (nay là thành phố Bến Tre); quy định các loại hình có thể đầu tư hệ thống xử lý chất thải tại chổ: cơ sở sản xuất, kinh doanh kẹo dừa và thạch dừa; loại hình bắt buộc phải di dời: cơ sở gia công cơ khí, mộc, cắt xẻ đá hoa cương; cưa xẻ gỗ; chăn nuôi và giết mổ gia súc; sản xuất mạch nha, cơm dừa nạo sấy; chế biến thủy sản; kinh doanh phế liệu; đóng tàu, ghe; sản xuất than tổ ong, than thiêu kết và các kho chứa hóa chất.
Các cơ sở sản xuất, kinh doanh được phép đầu tư xây dựng hệ thống xử lý chất thải tại chỗ, nhưng không tích cực đầu tư xây dựng hệ thống xử lý; không đủ điều kiện xử lý chất thải hoặc hệ thống xử lý chất thải không hoàn chỉnh, chất thải xử lý chưa đạt tiêu chuẩn Việt Nam hoặc Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường theo lộ trình thực hiện Đề án xử lý, di dời các cơ sở sản xuất, kinh doanh gây ô nhiễm ra khỏi nội thành thành phố Bến Tre, thì bắt buộc các cơ sở phải di dời ra khỏi nội thành thành phố Bến Tre.
Mai Hanh



21/07/2010 12:00 SAĐã ban hành
Thông tư số 63/2017/TT-BTNMT Quy định kỹ thuật đo vẽ bản đồ địa hình đáy biển tỷ lệ 1:5.000Thông tư số 63/2017/TT-BTNMT Quy định kỹ thuật đo vẽ bản đồ địa hình đáy biển tỷ lệ 1:5.000
Ngày 22 tháng 12 năm 2017, Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành Thông tư số 63/2017/TT-BTNMT Quy định kỹ thuật đo vẽ bản đồ địa hình đáy biển tỷ lệ 1:5.000

​Tải nội dung: TT_63_2017_TT_BTNMT.pdf

10/01/2018 4:00 CHĐã ban hành
Công bố kết quả dự án “Lồng ghép ứng phó biến đổi khí hậu vào kế hoạch 5 năm (2016-2020) của ngành Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bến Tre”Công bố kết quả dự án “Lồng ghép ứng phó biến đổi khí hậu vào kế hoạch 5 năm (2016-2020) của ngành Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bến Tre”
Được sự hỗ trợ từ dự án Thích ứng với biến đổi khí hậu vùng Đồng bằng sông Cửu Long tại tỉnh Bến Tre (AMD), năm 2015 Sở Tài nguyên và Môi trường đã thực hiện dự án “Lồng ghép ứng phó biến đổi khí hậu vào kế hoạch 5 năm (2016-2020) của ngành Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bến Tre”.

​           Đến nay, dự án đã hoàn thành và được Sở Tài nguyên và Môi trường phê duyệt tại Quyết định số 38/QĐ-STNMT ngày 01 tháng 3 năm 2016. Các phòng, đơn vị trực thuộc Sở, Phòng Tài nguyên và Môi trường các huyện, thành phố cần căn cứ kết quả dự án này tham mưu xây dựng và triển khai kế hoạch hàng năm và kế hoạch 5 năm 2016-2020 về lĩnh vực tài nguyên môi trường có lồng ghép nội dung biến đổi khí hậu.

         Download File Báo cáo tổng hợp: BCTH-QD38.rar

22/03/2016 8:00 SAĐã ban hành
1 - 30Tiếp
Ảnh
Video
SỞ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG TỈNH BẾN TRE
Chịu trách nh​iệm chính: Ông Nguyễn Văn Chinh - Chức vụ: Giám đốc Sở TN và MT | Giấy phép số: 139/GP - BC, ngày 16 tháng 4 năm 2007
Địa chỉ trụ sở: Số 01 - Trần Quốc Tuấn - Phường 2 - Thành phố Bến Tre - Tỉnh Bến Tre
Điện thoại: 0275.3822210 - 0275.3211494 - Fax: 0275.3813176; Email: stnmt@bentre.gov.vn