Bỏ qua Lệnh Ruy-băng
Bỏ qua nội dung chính

Skip Navigation LinksTin tức sự kiện

 
Tin tức sự kiện - Tin Thanh tra
Quyết định số 3549/QĐ-BTNMT ngày 23 tháng 11 năm 2018 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc phê duyệt Kế hoạch thanh tra năm 2019. 
 
 
Ngày 23 tháng 11 năm 2017, Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành Quyết định số 2965/QĐ-BTNMT Phê duyệt Kế hoạch thanh tra năm 2018 
 
Để chấn chỉnh, đưa hoạt động khai thác, kinh doanh, vận chuyển cát lòng sông đi vào nề nếp theo tinh thần Chỉ thị số 29/CT-TTg ngày 02/10/2008, Chỉ thị số 447/CT-TTg ngày 25/3/2011 của Thủ tướng Chính phủ và Chỉ thị số 05/CT-UBND ngày 19/10/2010 của Uỷ ban nhân dân tỉnh. Đồng thời, tuyên truyền, giáo dục cho các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động khai thác, vận chuyển, kinh doanh cát lòng sông chấp hành tốt các quy định của pháp luật về khoáng sản, bảo vệ môi trường, đê điều và an toàn giao thông đường thuỷ. Ngày 03/6/2011, Giám đốc Công an tỉnh có Kế hoạch số: 108/KH - CAT giao cho phòng Cảnh sát đường thủy xây dựng kế hoạch, phối hợp với Thanh tra Sở Tài nguyên và Môi trường, Thanh tra Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thực hiện kiểm tra, xử lý vi phạm trong hoạt động khai thác, kinh doanh, vận chuyển cát lòng sông trên địa bàn tỉnh. 
Nhằm bảo vệ môi trường du lịch, ngăn ngừa và giảm thiểu các tác động xấu đến môi trường trong quá trình tiến hành các hoạt động du lịch, bảo đảm phát triển du lịch một cách bền vững, góp phần bảo vệ môi trường của tỉnh. 
 
Trong những năm gần đây, trên tuyến sông Cổ Chiên đoạn khu vực cồn Phú Đa, cồn Phú Bình thuộc địa phận xã Vĩnh Bình, huyện Chợ Lách đang trở thành điểm nóng về tình trạng khai thác cát trái phép. Do khu vực này là địa bàn giáp ranh giữa Bến Tre và Vĩnh Long, ít dân cư sinh sống nên các đối tượng bơm hút cát trái phép tập trung khai thác nhiều. Các đối tượng này sử dụng phương tiện có trang bị động cơ, máy bơm hút có công suất lớn để bơm hút nhanh và dễ dàng chạy thoát khi phát hiện có lực lượng kiểm tra. Thời gian hoạt động cao điểm là vào ban đêm, lúc con nước đang lớn. 
 
Qua thanh tra, kiểm tra, Sở Tài nguyên và Môi trường phát hiện nhiều Dự án không thực hiện đúng các qui định sau khi Báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) đã được phê duyệt. Theo qui định tại Điều 14, Nghị định 80/2006/NĐ-CP của Chính phủ, sau khi có quyết định phê duyệt báo cáo ĐTM đến khi dự án đi vào vận hành chính thức thì chủ dự án phải thực hiện các nội dung sau: 
 
Sáng 17/11, tại Trụ sở Chính phủ, Phó Thủ tướng Trương Vĩnh Trọng chủ trì cuộc họp với lãnh đạo Thanh tra Chính phủ, Bộ Tư pháp và Bộ Công an về những biện pháp giải quyết các vụ việc khiếu kiện kéo dài. 
 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
Công văn 743/STNMT-QLTN&KTTV về việc Triển khai thực hiện Thông tư 61/2017/TT-BTNMT trong việc thống kê sản lượng khai thác thực tếCông văn 743/STNMT-QLTN&KTTV về việc Triển khai thực hiện Thông tư 61/2017/TT-BTNMT trong việc thống kê sản lượng khai thác thực tế
Công văn 743/STNMT-QLTN&KTTV về việc Triển khai thực hiện Thông tư 61/2017/TT-BTNMT trong việc thống kê sản lượng khai thác thực tế

​      Ngày 22 tháng 12 năm 2017, Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành Thông tư số 61/2017/TT-BTNMT quy định quy trình, phương pháp xác định và các mẫu biểu thống kê sản lượng khoáng sản thực tế.

      Để công tác báo cáo hoạt động khai thác và kiểm kê sản lượng khoáng sản khai thác thực tế của các đơn vị được cấp phép khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh đảm bảo đúng theo quy định hiện hành, Sở Tài nguyên và Môi trường thông tin nội dung Thông tư đến Quý Công ty, Hợp tác xã để biết bổ sung và thực hiện trong việc báo cáo kết quả hoạt động của đơn vị.


Tải nội dung: 61_2017_TT_BTNMT.rar

                        


04/04/2018 2:00 CHĐã ban hành
Quyết định số 47/2018/QĐ-UBND về việc ban hành Quy chế thu thập, quản lý, cập nhật khai thác, chia sử và sử dụng thông tin, dữ liệu tài nguyên và môi trường tỉnh Bến TreQuyết định số 47/2018/QĐ-UBND về việc ban hành Quy chế thu thập, quản lý, cập nhật khai thác, chia sử và sử dụng thông tin, dữ liệu tài nguyên và môi trường tỉnh Bến Tre
Quyết định số 47/2018/QĐ-UBND ngày 28 tháng 12 năm 2018 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Bến Tre về việc ban hành Quy chế thu thập, quản lý, cập nhật khai thác, chia sử và sử dụng thông tin, dữ liệu tài nguyên và môi trường tỉnh Bến Tre
05/01/2019 8:00 SAĐã ban hành
Công văn 2763/STNMT-CCBVMT Về việc điều chỉnh tên cửa khẩu nhập phế liệu của công ty cổ phần Đông HảiCông văn 2763/STNMT-CCBVMT Về việc điều chỉnh tên cửa khẩu nhập phế liệu của công ty cổ phần Đông Hải
Công văn 2763/STNMT-CCBVMT Về việc điều chỉnh tên cửa khẩu nhập phế liệu của công ty cổ phần Đông Hải
10/10/2018 3:00 CHĐã ban hành
Hội nghị triển khai thực hiện Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu khu vực miền Nam; Cơ hội, thách thức và hành động ứng phó của Bến TreHội nghị triển khai thực hiện Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu khu vực miền Nam; Cơ hội, thách thức và hành động ứng phó của Bến Tre
Ngày 18 tháng 8 năm 2017, tại Thành phố Hồ Chí Minh, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tổ chức Hội nghị tập huấn triển khai thực hiện Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu

           Ngày 18 tháng 8 năm 2017, tại Thành phố Hồ Chí Minh, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tổ chức Hội nghị tập huấn triển khai thực hiện Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu. Hội nghị do Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì cùng Đại diện Cục Biến đổi khí hậu, Viện Khí tượng thủy văn và Biến đổi khí hậu và Đại biểu tham dự đến từ các Sở Tài nguyên và Môi trường, Công thương, Kế hoạch và Đầu tư, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn của 19 tỉnh, thành phố khu vực miền Nam.

            Đại biểu tỉnh Bến Tre tham dự Hội nghị là các thành viên Tổ giúp việc cho Ban Chỉ đạo ứng phó biến đổi khí hậu tỉnh thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường, Công thương và Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

21.8-Paris_-_HCM_workshop_2017.png 

Hình: Ông Võ Văn Ngoan - Sở Tài nguyên và Môi trường chia sẻ kinh nghiệm ứng phó biến đổi khí hậu tỉnh Bến Tre (Ảnh: Duy Anh)

        Hội nghị đã phổ biến các thông tin liên quan đến kế hoạch thực hiện Thỏa thuận Paris của Việt Nam theo Quyết định 2053/QĐ-TTg ngày 28/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ; hướng dẫn xây dựng kế hoạch cấp tỉnh thực hiện Thỏa thuận Paris. Đồng thời, Hội nghị cung cấp các thông tin về kịch bản biến đổi khí hậu và tác động đến ĐBSCL; công tác quản lý Nhà nước về biến đổi khí hậu; gắn kết tăng trưởng xanh, giảm nhẹ rủi ro thiên tai với ứng phó biến đổi khí hậu để phát triển bền vững; và trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm ứng phó biến đổi khí hậu giữa các tỉnh, thành phố trong khu vực.

        Theo Cục Biến đổi khí hậu - Bộ Tài nguyên và Môi trường: trong khuôn khổ Thỏa thuận Paris, Việt Nam sẽ thực hiện "Đóng góp do quốc gia tự quyết" (NDC) đến năm 2030 với hai hợp phần chính: về giảm nhẹ cam kết giảm 8% tổng lượng phát thải khí nhà kính so với kịch bản phát thải thông thường và có thể tăng lên 25% khi nhận được sự hỗ trợ của quốc tế; về thích ứng sẽ tiếp tục thực hiện các chương trình, dự án thuộc Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu nhằm tăng khả năng chống chịu, bảo vệ cuộc sống và sinh kế nhân dân; Kế hoạch thực hiện Thỏa thuận Paris của Việt Nam thực hiện 05 mục tiêu cụ thể trong NDC: (1) Thực hiện cam kết giảm phát thải khí nhà kính; (2) Thực hiện cam kết thích ứng biến đổi khí hậu; (3) Chuẩn bị nguồn lực con người, công nghệ và tài chính; (4) Thiết lập hệ thống công khai, minh bạch nhằm giám sát, đánh giá các nội dung thực hiện của mục tiêu (1), (2) và (3); mục tiêu (5) là hoàn thiện thể chế, chính sách tạo môi trường thuận lợi và tập trung nỗ lực quốc gia cho ứng phó biến đổi khí hậu; Khung thời gian của Kế hoạch thực hiện Thỏa thuận Paris đến năm 2030, trong đó: giai đoạn 2016 - 2020 tiếp tục thực hiện các hoạt động ứng phó biến đổi khí hậu đã được phê duyệt, chuẩn bị về mặt thể chế chính sách, nguồn lực nhằm đến năm 2020 sẵn sàng thực hiện các nghĩa vụ do Thỏa thuận Paris quy định; giai đoạn 2021 - 2030 thực hiện các nội dung trong NDC và các nhiệm vụ mới theo quy định của thỏa thuận Paris.

            Bến Tre là một trong những tỉnh được nhận định chịu tác động mạnh của biến đổi khí hậu, tỉnh đã xây dựng Kế hoạch hành động ứng phó biến đổi khí hậu giai đoạn 2016 - 2020 và cụ thể các nhiệm vụ thực hiện thỏa thuận Paris cho giai đoạn 2017 - 2020 trên cơ sở Quyết định số 2053/QĐ-TTg ngày 28/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ. Theo đánh giá của Ban Chỉ đạo ứng phó biến đổi khí hậu (Báo cáo số 01/BC-BCĐBĐKH ngày 25/7/2017), sau thời gian thực hiện các nhiệm vụ ứng phó biến đổi khí hậu đến tháng 6/2017 tỉnh đã đạt những kết quả tích cực, nhưng vẫn tồn tại một số khó khăn, hạn chế và những thách thức, cơ hội trong thời gian tới, cụ thể như sau:

           Hạn chế, khó khăn: công tác ứng phó còn bị động, lúng túng; sự quan tâm chưa đúng mức của một số cán bộ, công chức, một bộ phận người dân chưa tích cực tham gia bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu; về nguồn nhân lực, tỉnh đã thành lập Tổ giúp việc cho Ban Chỉ đạo đều là cán bộ kiêm nhiệm.

          Cơ hội hỗ trợ, hợp tác quốc tế; ứng dụng công nghệ tiên tiến trong ứng phó biến đổi khí hậu: tỉnh đã và đang tranh thủ được tài trợ Quốc tế, hỗ trợ của Trung ương triển khai các công trình trọng điểm ứng phó biến đổi khí như Dự án Quản lý nước tỉnh Bến Tre (ứng dụng công nghệ Nhật trong quản lý nước và ứng phó hạn mặn); Xây dựng hệ thống quan trắc chất lượng nước và cảnh báo mặn tự động (Deltares Hà Lan tư vấn thực hiện); Cấp nước sinh hoạt Cù lao Minh trong điều kiện biến đổi khí hậu; Dự án Đê biển Thạnh Phú; Củng cố, nâng cấp đê biển huyện Bình Đại; Cân đối ngân sách tỉnh thực hiện dự án Hồ chứa nước ngọt Kênh lấp huyện Ba Tri; Và cơ hội phát triển điện năng lượng mặt trời, điện gió góp phần giảm phát thải khí nhà kính.

         Thách thức: các tác động của biến đổi khí hậu ngày càng bất thường và có xu hướng gia tăng về cường độ; nguy cơ xâm nhập mặn, khô hạn kéo dài, sạt lở ven biển, triều cường,…vẫn tiếp diễn, mặt khác các công trình trọng điểm ứng phó chưa hoàn thành, khép kín; thêm vào đó, khả năng thông tin, cảnh báo, dự báo mặn còn hạn chế và sự không ổn định của nước thượng nguồn sông Mekong gia tăng áp lực lên công tác ứng phó biến đổi khí hậu.

Huỳnh Lê Duy Anh - Phòng QLTN&KTTV


22/08/2017 8:00 SAĐã ban hành
Hội nghị Sơ kết công tác quản lý hoạt động khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh 06 tháng đầu năm 2018Hội nghị Sơ kết công tác quản lý hoạt động khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh 06 tháng đầu năm 2018
Chiều ngày 24/5/2018, tại Hội trường UBND tỉnh đã diễn ra Hội nghị Sơ kết công tác quản lý hoạt động khai thác khoáng sản tỉnh Bến Tre 06 tháng đầu năm 2018

Chiều ngày 24/5/2018, tại Hội trường UBND tỉnh đã diễn ra Hội nghị Sơ kết công tác quản lý hoạt động khai thác khoáng sản tỉnh Bến Tre 06 tháng đầu năm 2018. Đến tham dự hội nghị có đồng chí Nguyễn Hữu Lập - Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng Ban Chỉ đạo quản lý hoạt động khai thác khoáng sản; ông Nguyễn Văn Chinh - Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường, đại diện lãnh đạo các đơn vị: Văn phòng UBND tỉnh, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, Công an tỉnh, BCH Bộ đội Biên phòng tỉnh, các sở, ban, ngành tỉnh; Ủy ban nhân dân, phòng Tài nguyên và môi trường, Công an các huyện, thành phố và Ủy ban nhân dân một số xã có tình hình khai thác cát đang diễn biến phức tạp.

hoi_nghi_1.jpg

Quang cảnh hội nghị (Ảnh: Ngọc Khoa)

Nội dung hội nghị nhằm đánh giá tình hình, kết quả công tác quản lý hoạt động khai thác khoáng sản cát sông trên địa bàn tỉnh 06 tháng đầu năm 2018, triển khai phương hướng, nhiệm vụ 06 tháng cuối năm 2018 và những năm tiếp theo. Trong đó, tập trung giải quyết, tháo gỡ những tồn tại, hạn chế, khó khăn, vướng mắc; rút ra những bài học kinh nghiệm và đề xuất những biện pháp hiệu quả để phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị, các ngành chức năng, lực lượng công an các cấp nhằm lập lại trật tự trong công tác quản lý hoạt động khoáng sản cát sông trên địa bàn tỉnh trong thời gian tới.

Trong 06 tháng đầu năm 2018, lực lượng Công an tỉnh, BCH Bộ đội Biên phòng tỉnh, các sở, ngành tỉnh và Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố đã ban hành nhiều kế hoạch, công văn chỉ đạo nhằm hướng dẫn, triển khai thực hiện, tăng cường công tác quản hoạt động khai thác khoáng sản thuộc phạm vi quản lý. Trong đó, đặc biệt chú trọng việc xây dựng các kế hoạch thanh tra, kiểm tra nhằm xử lý, ngăn chặn các hoạt động khai thác cát trái phép; tăng cường bảo vệ đối với các khu vực có khoáng sản chưa đưa vào khai thác; công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về khoáng sản tiếp tục được đẩy mạnh theo cả chiều rộng và chiều sâu, đặc biệt hướng đến các đối tượng hành nghề bơm hút cát.


hoi_nghi_2.jpghoi_nghi_3.jpg

Ý kiến phát biểu của các thành viên tham dự Hội nghị (Ảnh: Ngọc Khoa)

Mặc dù công tác quản lý, thanh tra, kiểm tra được các ngành, các cấp thực hiện thường xuyên, đẩy mạnh trong 06 tháng đầu năm 2018, nhưng tình hình khai thác cát trái phép tiếp tục diễn biến phức tạp, đối tượng hoạt động đều khắp ở các tuyến sông trong tỉnh, gây bức xúc trong nhân dân, đặc biệt ở các xã: Thanh Tân (Mỏ Cày Bắc), Vĩnh Bình (Chợ Lách), Thành Thới A (Mỏ Cày Nam), khu vực gần cầu Rạch Miễu (huyện Châu Thành). Công tác kiểm tra, xử lý vi phạm về hóa đơn, chứng từ đối với các doanh nghiệp, hợp tác xã được cấp phép khai thác, các doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ gia đình mua bán cát lòng sông vẫn chưa được thực hiện thường xuyên, chỉ tập trung kiểm tra, xử lý các trường hợp khai thác cát trái phép. Một số địa phương chưa quyết liệt trong việc xử lý các trường hợp vi phạm pháp luật trong hoạt động khoáng sản; chưa triển khai thực hiện nghiêm các chỉ đạo của Ủy ban nhân dân tỉnh, đặc biệt là công tác đăng ký, đăng kiểm, quản lý các phương tiện hành nghề bơm hút cát sông. Công tác phối hợp giữa các ngành, các cấp từng lúc chưa nhịp nhàng, đồng bộ.

hoi_nghi_4.jpg

Phó Chủ tịch UBND tỉnh phát biểu chỉ đạo Hội nghị

Phát biểu chỉ đạo tại hội nghị, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Hữu Lập đề nghị các sở, ngành tỉnh và địa phương cần nghiêm túc rút kinh nghiệm sâu sắc những vấn đề được đánh giá tại hội nghị. Để giải quyết các vấn đề còn tồn tại, vướng mắc trong thời gian qua, Phó Chủ tịch UBND tỉnh chỉ đạo Thường trực BCĐ quản lý hoạt động khoáng sản, Sở Tư pháp, Công an tỉnh phối hợp với các đơn vị có liên quan kiến nghị Chính phủ xin cơ chế đặc thù trong việc quản lý hoạt động khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh. Lực lượng kiểm tra liên ngành các cấp, Ủy ban nhân dân các địa phương tăng cường công tác kiểm tra, kiên quyết xử lý, thực hiện ra quân toàn diện, đồng bộ từ tỉnh đến cơ sở, đặc biệt là các khu vực được xác định là “điểm đen”, “điểm nóng”, các khu vực trọng yếu của tỉnh. Giao Sở Giao thông vận tải chủ trì, hướng dẫn địa phương tổ chức đăng ký, đăng kiểm các phương tiện thủy, đặc biệt là các phương tiện hành nghề bơm hút cát sông. Tăng cường sự giám sát của các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc, sự tham gia giám sát của người dân đối với việc phát hiện các hành vi khai thác cát trái phép và việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước trong quản lý, kiểm tra, xử lý hoạt động khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh. Đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án thăm dò đánh giá trữ lượng đối với 05 mỏ cát trên địa bàn tỉnh để đưa vào đấu giá quyền khai thác theo quy định. Tăng cường công tác phối hợp giữa các địa phương trong địa bàn tỉnh và các tỉnh giáp ranh trong quản lý, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật trong hoạt động khoáng sản./.

Ngọc Khoa - Phòng Quản lý TN&KTTV




28/05/2018 8:00 SAĐã ban hành
Kết quả kiểm tra công tác bảo vệ môi trường các cơ sở dịch vụ du lịch  trên địa bàn tỉnh Bến TreKết quả kiểm tra công tác bảo vệ môi trường các cơ sở dịch vụ du lịch  trên địa bàn tỉnh Bến Tre
Nhằm bảo vệ môi trường du lịch, ngăn ngừa và giảm thiểu các tác động xấu đến môi trường trong quá trình tiến hành các hoạt động du lịch, bảo đảm phát triển du lịch một cách bền vững, góp phần bảo vệ môi trường của tỉnh.



Để đánh giá, dự báo, phòng ngừa, giảm thiểu ô nhiễm và làm sạch môi trường tại các cơ sở dịch vụ du lịch trên địa bàn tỉnh, Chi cục Bảo vệ môi trường và Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Châu Thành, Chợ Lách và thành phố Bến Tre; Ủy ban nhân dân xã Tân Thạch, An Khánh, Phú Túc, huyện Châu Thành; Ủy ban nhân dân xã Sơn Định, huyện Chợ Lách; Ủy ban nhân dân xã Phú Nhuận, thành phố Bến Tre tiến hành kiểm tra công tác bảo vệ môi trường và hoạt động du lịch tại 10 cơ sở dịch vụ du lịch trên địa bàn tỉnh.
Trong 10 cơ sở có: 01 cơ sở hoạt động lĩnh vực du lịch nghĩ dưỡng (khách sạn, ăn uống,….); 03 cơ sở hoạt động lĩnh vực ăn uống; 01 cơ sở hoạt động lĩnh vực lữ hành nội địa; 01 cơ sở hoạt động lĩnh vực ăn uống, khách sạn, karaoke, lữ hành nội địa; 01 cơ sở hoạt động lĩnh vực ăn uống, khách sạn, giải trí môtô nước; 02 cơ sở hoạt động lĩnh vực sản xuất kẹo dừa, giải khát; 01 cơ sở hoạt động lĩnh vực thực hiện hợp đồng và giới thiệu tour cho khách du lịch.
Vì đặc thù của loại hình hoạt động là thường xuyên tiếp đón khách du lịch, nên công tác xây dựng và giữ gìn cảnh quan môi trường của các cơ sở rất tốt, khuôn viên cơ sở thoáng mát, sạch đẹp. Tuy nhiên, ý thức bảo vệ môi trường và ý thức tuân thủ các quy định về hoạt động du lịch của các cơ sở chưa cao, còn nhiều hạn chế.
Trong lĩnh vực bảo vệ môi trường: Trong 10 cơ sở, có 01 cơ sở thuộc đối tượng lập báo cáo đánh giá tác động môi trường và 09 cơ sở thuộc đối tượng lập bản cam kết bảo vệ môi trường. Có 06/10 cơ sở đã đăng ký và được Ủy ban nhân dân huyện Châu Thành hoặc thành phố Bến Tre cấp giấy xác nhận Bản cam kết bảo vệ môi trường. Trong đó, có 01 cơ sở phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường thay thế cho bản cam kết bảo vệ môi trường đã được xác nhận, do quy hoạch diện tích đất của dự án hiện nay là 21 ha, so với diện tích đất của dự án lúc mới thành lập chỉ có 11.490 m2. Có 02/10 cơ sở thực hiện báo cáo chương trình giám sát môi trường định kỳ.
Có 08 cơ sở xây dựng hầm tự hoại để xử lý nước thải, 02 cơ sở thải trực tiếp nước thải ra môi trường. Có 07/10 cơ sở trang bị dụng cụ phòng cháy chữa cháy.
Đối với cơ sở phải thực hiện các quy định đặc thù với quy mô và loại hình hoạt động: có 01/01 cơ sở không đăng ký sổ chủ nguồn thải chất thải nguy hại và xây dựng phương án ứng phó sự cố môi trường; có 02/02 cơ sở không đăng ký giấy phép xả nước thải vào nguồn nước; 01/01 cơ sở không đăng ký giấy phép khai thác nước ngầm và nước mặt.
Trong lĩnh vực hoạt động du lịch: Có 05/10 cơ sở chưa niêm yết công khai giá cả hàng hóa, dịch vụ du lịch; có 08/10 cơ sở treo bảng hiệu. Đối với các cơ sở phải thực hiện các quy định đặc thù với loại hình hoạt động: có 01/05 cơ sở thực hiện nghiêm chỉnh các quy định về an toàn vệ sinh thực phẩm; có 02/02 cơ sở sử dụng hướng dẫn viên du lịch không có thẻ hành nghề, chưa đăng ký xếp hạng cơ sở lưu trú du lịch và giấy phép kinh doanh rượu, thuốc lá.
Với thực trạng công tác bảo vệ môi trường và hoạt động du lịch của các cơ sở dịch vụ du lịch như trên, thời gian tới, Chi cục Bảo vệ môi trường sẽ phối hợp với các cơ quan, đơn vị có liên quan thường xuyên kiểm tra các cơ sở dịch vụ du lịch trên địa bàn tỉnh để nâng cao ý thức bảo vệ môi trường và hoạt động du lịch của các cơ sở dịch vụ du lịch trên địa bàn tỉnh. Đồng thời, Chi cục Bảo vệ môi trường kiến nghị: Thanh tra Sở Tài nguyên và Môi trường và Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tiến hành phúc tra sau 45 ngày kể từ ngày lập biên bản và xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật hiện hành đối với các cơ sở không thực hiện các kiến nghị của Đoàn kiểm tra. Phòng Tài nguyên và Môi trường các huyện, thành phố thường xuyên tiến hành kiểm tra, thanh tra các cơ sở dịch vụ du lịch trên địa bàn.


09/05/2011 12:00 SAĐã ban hành
Cầu Rạch Miễu sẽ thông xe kỹ thuật cuối năm 2007Cầu Rạch Miễu sẽ thông xe kỹ thuật cuối năm 2007
Đó là khẳng định của ông Nguyễn Đình Tuy, Giám đốc Công ty TNHH B.O.T Cầu Rạch Miễu, trong buổi làm việc với báo giới vào sáng ngày 28-2-2007. Ông Nguyễn Đình Tuy cho biết các thủ tục pháp lý và thiết kế Dự án đã xong vào tháng 12-2006.
Ông Nguyễn Đình Tuy cho biết các thủ tục pháp lý và thiết kế Dự án đã xong vào tháng 12-2006. Vốn của Dự án đã được bố trí đủ từ vốn ngân sách nhà nước và vốn BOT. Các đơn vị thi công cũng đã được điều chỉnh lại cho phù hợp với năng lực.

Các hạng mục hiện đang được thi công trên đường găng bao gồm đẩy nhanh thi công 2 trụ tháp T18 và T19, cụ thể đã thi công khối S19, chuẩn bị thi công S20 và KO. Đây là hạng mục quan trọng quyết định tiến độ toàn dự án. Các hạng mục kế tiếp bao gồm thi công đúc hẫng các đốt tiếp theo tại trụ T41 và T42, đồng thời thi công đợt 3 khối KO T40 và KO T43, và lao dầm các nhịp trên cồn Thới Sơn và thi công phần mặt cầu. Trong thi công thân trụ tháp, phần đúc hẫng dầm dây văng (do các chuyên gia của hãng SVL Thụy Sĩ giám sát) dự kiến sẽ hoàn tất vào ngày 30-4-2007; đến ngày 30-6-2007 sẽ hoàn tất xong cầu số 2 và đường dẫn; và ngày 30-12-2007 sẽ thông xe kỹ thuật cầu Rạch Miễu nối liền tỉnh Bến Tre với Tiền Giang.

(theo Website Bến Tre)

19/10/2007 12:00 SAĐã ban hành
Công văn 2831/STNMT-CCBVMT về việc điều chỉnh tên cửa khẩu khẩu nhập khẩu phế liệuCông văn 2831/STNMT-CCBVMT về việc điều chỉnh tên cửa khẩu khẩu nhập khẩu phế liệu
Công văn 2831/STNMT-CCBVMT về việc điều chỉnh tên cửa khẩu khẩu nhập khẩu phế liệu
15/10/2018 8:00 SAĐã ban hành
Ý kiến kết luận, chỉ đạo của Ông Cao Văn Trọng - Trưởng Ban chỉ đạo, Chủ tịch UBND tỉnh tại Hội nghị tổng kết năm 2017 và triển khai kế hoạch ứng phó  biến đổi khí hậu tỉnh Bến Tre năm 2018Ý kiến kết luận, chỉ đạo của Ông Cao Văn Trọng - Trưởng Ban chỉ đạo, Chủ tịch UBND tỉnh tại Hội nghị tổng kết năm 2017 và triển khai kế hoạch ứng phó  biến đổi khí hậu tỉnh Bến Tre năm 2018
Ban chỉ đạo đánh giá công tác ứng phó đạt được những kết quả khả quan trong nâng cao nhận thức và các công trình trọng điểm

      Ngày 31/01/2018, Ban Chỉ đạo ứng phó với biến đổi khí hậu tỉnh Bến Tre đã tổ chức Hội nghị tổng kết năm 2017 và triển khai kế hoạch ứng phó năm 2018. Hội nghị do Ông Cao Văn Trọng - Trưởng Ban Chỉ đạo, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh chủ trì cùng sự tham gia của hơn 50 thành viên Ban Chỉ đạo và Tổ giúp việc Ban Chỉ đạo.

DSC_1266_2018.JPG

Hội nghị Ban chỉ đạo ứng phó biến đổi khí hậu tỉnh Bến Tre (Ảnh: Duy Anh)

       Sau hơn một năm triển khai Kế hoạch hành động 05 năm (2016 - 2020) của tỉnh, Ban chỉ đạo đánh giá công tác ứng phó đạt được những kết quả khả quan trong nâng cao nhận thức và các công trình trọng điểm. Bên cạnh đó, Ban chỉ đạo nhận định: tác động của biến đổi khí hậu đến tỉnh trong thời gian qua tiêu cực hơn và khó dự báo; mặt khác, công tác ứng phó chưa huy động được toàn bộ hệ thống chính trị, nhân dân tham gia, nguồn lực hạn chế, dữ liệu biến đổi khí hậu rời rạc, tỷ lệ hoàn thành chỉ tiêu theo kế hoạch thấp...   

         Qua Hội nghị, Ông Cao Văn Trọng thay mặt Ban Chỉ đạo kết luận, chỉ đạo công tác ứng phó với biến đổi khí hậu của tỉnh năm 2018 và thời gian tới:

         Về nhiệm vụ chung: các thành viên Ban chỉ đạo, các sở, ban ngành, Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố phải tăng cường phối hợp, trao đổi thông tin trong thực hiện Chỉ thị, Chương trình của Tỉnh Ủy và các kế hoạch ứng phó biến đổi khí hậu; chú trọng các hoạt động nâng cao nhận thức cho các cấp, các ngành và nhân dân nhằm đạt sự thay đổi trong cách nghĩ, cách làm để tận dụng thời cơ, giảm thiểu các mối nguy; phát triển kinh tế của tỉnh ưu tiên theo hướng thích ứng và phát thải ít các-bon, trong đó có việc đẩy mạnh phát triển năng lượng sạch (điện gió, mặt trời) tiết kiệm năng lượng, nước và sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên; thực hiện Quán triệt Nghị quyết số 120/NQ-CP ngày 17 tháng 11 năm 2017 của Chính phủ về phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng với biến đổi khí hậu; đặc biệt nhiệm vụ mới trong thời gian tới là triển khai ứng phó với biến đổi khí hậu theo Thỏa thuận Paris tại Quyết định số 2053/QĐ-TTg ngày 28/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ.

        Ý kiến chỉ đạo nêu rõ nhiệm vụ của từng sở, ngành và Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố. Riêng đối với Sở Tài nguyên và Môi trường - cơ quan thường trực Ban chỉ đạo:

    •         + Tập trung đôn đốc, điều phối, hướng dẫn các sở, ban, ngành, Ủy ban nhân dân huyện trong thực hiện các chương trình, kế hoạch, dự án; tham mưu xây dựng kế hoạch thực hiện Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu theo hướng dẫn của Bộ Tài nguyên và Môi trường;
    •        + Đẩy nhanh tiến độ để hoàn thành, đưa vào vận hành Hệ thống quan trắc cảnh báo mặn tự động (thuộc dự án AMD); triển khai dự án tăng cường năng lực quan trắc môi trường;
    •        + Chủ động phối hợp với nhóm chuyên gia Rumani thực hiện các bước tiếp theo để hoàn thành đề xuất, triển khai dự án "Thành lập thí điểm Khu bảo tồn đa dạng sinh học phục vụ phát triển bền vững du lịch sinh thái và Trung tâm tri thức về phát triển du lịch sinh thái tại Đồng bằng sông MeKong";
    •       + Triển khai xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu về biến đổi khí hậu để đáp ứng thông tin, truyền thông và phục vụ công tác quản lý nhà nước.

(Kèm theo Thông báo số 53/TB-UBND ngày 07 tháng 02 năm 2018 về ý kiến kết luận chỉ đạo của Trưởng Ban chỉ đạo)

53_TB_UBND.pdf

Huỳnh Lê Duy Anh - P.QLTN&KTTV

27/02/2018 10:00 SAĐã ban hành
Thông báo các nhà thầu đáp ứng yêu cầu kỹ thuậtThông báo các nhà thầu đáp ứng yêu cầu kỹ thuật
Thông báo các nhà thầu đáp ứng yêu cầu kỹ thuật

​Sở Tài nguyên và Môi trường xin thông báo danh sách các nhà thầu đáp ứng yêu cầu kỹ thuật tham gia dự thầu thực hiện gói thầu Thăm dò đánh giá trữ lượng 05 khu vực mỏ cát lòng sông trên địa bàn tỉnh Bến Tre.2676_STNMT.pdf

03/10/2018 3:00 CHĐã ban hành
Một số hoá chất độc hại có nguy cơ gây bệnh ung thưMột số hoá chất độc hại có nguy cơ gây bệnh ung thư
Theo các nhà khoa học, thì một trong những nguyên nhân chính gây bệnh ung thư cho con người là do các loại hoá chất độc hại, nhiễm vào cơ thể qua thực phẩm, qua đất, nước vào thức ăn, nước uống và không khí để thở.



Hiện nay, bất chấp các bằng chứng hiển nhiên về tác động xấu của các hoá chất độc hại, nhưng chúng ta được cung cấp rất ít thông tin an toàn cần thiết về phần lớn trong khoảng 70.000 hoá chất do con người làm ra trên thị trường, đặc biệt là các hoá chất do con người làm ra tại các nước đang phát triển. Sau đây là một số hoá chất độc hại gây ung thư phổ biến nhất ở nước ta hiện nay:
Chất dioxin: Là một loại cực độc có mặt trong hầu hết các môi trường thành phần, trong đó nguồn phát thải dioxin do đốt cháy túi nilong từ các hoạt động của con người là một nguồn phát sinh không kém phần quan trọng. Dioxin ít tan trong nước, tồn tại nhiều và lâu ở đất, trầm tích (có khi đến 30 – 40 năm), xâm nhiễm qua con đường thực phẩm, vào thực vật, rồi vào tôm cá, vào rau quả và cuối cùng vào con người. Cũng có thể ngộ độc trực tiếp do hô hấp, hay qua da do tiếp xúc, hay qua nước uống. Nếu liều lượng cao có thể gây độc cấp tính, nếu liều lượng thấp gây độc mãn tính, nhất là gây ung thư.
Hóa chất gây ung thư có trong thực phẩm và qua chế biến thực phẩm: Các độc chất từ thuốc trừ sâu và phân hóa học. Chúng tồn dư trong môi trường đất, nước rồi tích lũy vào sản phẩm nông nghiệp như lúa, khoai, rau quả. Chúng cũng có mặt trong thực phẩm dưới vai trò là chất bảo quản, diệt nấm mốc hoặc là tạp chất sinh ra trong quy trình nuôi trồng, sản xuất hoặc chế biến thực phẩm.
Chất formon, hàn the: Là hợp chất hữu cơ rất độc, thế nhưng lại bị lạm dụng làm bánh phở, hủ tiếu, bún, bánh ướt để các loại thực phẩm này dai và lâu thiu. Nó làm biến dị các nhiễm sắc thể, gây nên các bệnh gây ung thư cho con người như: ung thư xoang mũi, họng, phổi, ung thư đường tiêu hóa. Còn hàn the thì khi đưa vào cơ thể, khoảng 20% sẽ tích tụ vĩnh viễn và gây tổn thương các tế bào gan, teo tinh hoàn và là tác nhân gây ung thư không kém formon.
Chất 3-MCPD và 1,3-DCP: có trong nước tương do quy trình công nghệ không hợp lý. Chúng được tạo ra từ quá trình thủy phân chất béo (váng dầu) bằng dung dịch axit clohydric. Chất này có khả năng biến đổi gen, và đặc biệt nguy hiểm hơn khi hàm lượng 3-MCPD cao, tạo điều kiện thuận lợi hình thành một chất gây ung thư mạnh hơn đó là 1,3-DCP (1,3- diclopropan-2-0l) gây nên khối u thận, biểu mô miệng, lưỡi và biểu hiện gây ung thư trên cơ thể động vật, tất nhiên nó sẽ gây ung thư cho người rất cao.
Độc tố gây ung thư của nấm mốc: Mỗi buổi nhậu, người ta bày ra một gói đậu phộng rang hay một gói hạt điều cho thực khách nhấm nháp, uống bia… Nhưng nếu các hạt này bị mốc, thấy rõ ở mầm hạt, màu vàng xám hoặc đen, thì ung thư sẽ có thể xảy ra khi ăn nhiều loại này.
Độc tố gây ung thư do rượu: Khi rượu được đưa vào trong cơ thể người, quá trình chuyển hóa của rượu có sinh ra acetaldehyd (Aa), là một carcinogen trong các mô động vật, là chất gây biến dị vi khuẩn và các tế bào động vật có vú. Sau thời gian nghiện rượu mãn tính, Aa có nồng độ cao trong máu tăng nguy cơ gây ung thư gan và các tổ chức khác trong cơ thể. Aa có khả năng làm DNA (vật liệu di truyền ở cấp độ phân tử tham gia quyết định các tính trạng) đột biến, gây ung thư.
Độc chất gây ung thư từ thuốc lá: Nhiễm độc khói thuốc lá không chỉ cho người hút mà nguy hại hơn là nó ô nhiễm môi trường gây cho người hít phải, nhất là trẻ con bị ung thư phổi. Thành phần khói thuốc lá rất phức tạp, có tới hơn 4.000 hợp chất trong đó 200 loại hóa chất có hại cho sức khỏe và nguy hiểm hơn nữa là số lượng chất gây ung thư cho người lên 40 chất.
Một số hoá chất, khí thải gây ung thư cho con người do ô nhiễm môi trường:
- Các chất khí thải của động cơ và các lò đốt công nghiệp sử dụng nhiên liệu than, củi, xăng... Bụi chì từ khói xe, SO2, N2O, Clo từ khói thải nhà máy, bụi phấn, thậm chí cả nước hoa quá liều nữa. Bụi xi măng, chứa nhiều hạt silic có kích thước từ 1-5 micro mét. Những chất khí này khi vào phổi sẽ nằm lại trong các phế nang, phế quản, gây ung thư phổi, ung thư thanh quản…
- Nhựa Polychlorobipheyl (PCB) được sử dụng rộng rãi dưới dạng các sản phẩm như: dầu nhờn, cồn dán, xi đánh giày, chất hút bụi, thuốc trừ sâu, dưới tác dụng của nhiệt độ môi trường sẽ bị phân hủy thành nhiều chất dioxin cực độc hại dẫn đến ung thư ác tính.
- Bụi amian (cả amian trắng, xanh hay nâu) trong không khí hay sợi amian trong nước từ các mái nhà lợp tôn phibroximăng theo nước mưa chảy xuống, là nguyên nhân gây ung thư phế quản, phổi, biểu mô.
- Chất fenol có trong dầu vỏ hạt điều, là một chất độc trong môi trường nước và cả trong môi trường không khí, nó có mặt trong khói khi đốt vỏ hạt điều có khả năng gây ung thư.
Muốn tránh các bệnh nêu trên, đối với mỗi người phải tự xây dựng cho mình một môi trường sống, sinh hoạt phải sạch và lành mạnh, tránh việc sử dụng các đồ ăn, thức uống có nguy cơ gây độc cao.

Mai Hanh (Tổng hợp nguồn:www.vista.gov.vn)




10/12/2008 12:00 SAĐã ban hành
Tập huấn các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý tài nguyên nước và khoáng sảnTập huấn các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý tài nguyên nước và khoáng sản
Ngày 8 tháng 8 năm 2017, tại Hội trường số 3 Tỉnh Ủy, Sở Tài nguyên và Môi trường tổ chức lớp tập huấn các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý tài nguyên nước và khoáng sản

08.8.TapHuan_VB_QPPL_QLTN-KS-1.jpg

Ông Trịnh Minh Khôi - Chánh Văn phòng Sở phát biểu khai mạc lớp tập huấn. (Ảnh: Duy Anh)

       Trong thời gian qua, tình hình khai thác cát trái phép trên địa bàn tỉnh nói riêng, cả nước nói chung có những diễn biến phức tạp. Nguyên nhân do nhu cầu sử dụng cát làm vật liệu san lấp rất lớn, trong khi lượng cát bổ cập từ thượng nguồn về ngày càng giảm. Trước tình hình trên, Ủy ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo các ngành, các cấp thực hiện nghiêm túc, những quy định pháp luật hiện hành, các văn bản chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; đồng thời triển khai thực hiện quyết liệt, đồng bộ nhiều biện pháp, giải pháp để xử lý có hiệu quả với nạn khai thác cát trái phép này.     

        Nhằm góp phần nâng cao năng lực cán bộ trong thực thi công vụ và hiệu quả công tác quản lý Nhà nước, ngày 8 tháng 8 năm 2017, tại Hội trường số 3 Tỉnh Ủy, Sở Tài nguyên và Môi trường tổ chức lớp tập huấn các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý tài nguyên nước và khoáng sản.

         Đến tham dự và chủ trì có Ông Lê Văn Đáo - Phó Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường cùng sự tham gia của gần 200 Đại biểu là đại diện các sở, ngành liên quan; Công an tỉnh; Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh; Ủy ban nhân dân, Phòng Tài nguyên và Môi trường các huyện, thành phố Bến Tre; Đoàn kiểm tra liên ngành khoáng sản tỉnh, huyện; Ủy ban nhân dân 164 xã, phường, thị trấn; và các Công ty, Hợp tác xã khai thác cát trên địa bàn tỉnh.

08.8.TapHuan_VB_QPPL_QLTN-KS-3.png
                              Quan cảnh lớp tập huấn. (Ảnh: Duy Anh)

        Lớp tập huấn đã phổ biến, cập nhật các chính sách, pháp luật về tài nguyên của Trung ương và Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành trong thời gian gần đây để áp dụng vào công tác thanh tra, kiểm tra và quản lý trên địa bàn tỉnh. Trong đó, nội dung tập huấn tập trung vào các văn bản Quy phạm pháp luật như Nghị định 158/2016/ND-CP ngày 29 tháng 11 năm 2016 quy định chi tiết thi hành một số điều Luật khoáng sản; Nghị định số 33/2017/NĐ-CP ngày 03 tháng 4 năm 2017 xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản; Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18 tháng 11 năm 2016 xử phạt hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường; Quyết định số 27/2017/QĐ-UBND ngày 19 tháng 5 năm 2017 ban hành quy chế quản lý hoạt động khoáng sản tỉnh Bến Tre. Bên cạnh đó, các Đại biểu tham dự tập huấn đã trao đổi, thảo luận, chia sẻ những khó khăn, kinh nghiệm trong thực hiện nhiệm vụ.

Huỳnh Lê Duy Anh
08/08/2017 4:00 CHĐã ban hành
Góp ý Dự thảo Quyết định quy định diện tích tối thiểu được tách thửa đối với các loại đất trên địa bàn tỉnh Bến Tre thay thế Quyết định 59/2017/QĐ-UBNDGóp ý Dự thảo Quyết định quy định diện tích tối thiểu được tách thửa đối với các loại đất trên địa bàn tỉnh Bến Tre thay thế Quyết định 59/2017/QĐ-UBND
Góp ý Dự thảo Quyết định quy định diện tích tối thiểu được tách thửa đối với các loại đất trên địa bàn tỉnh Bến Tre thay thế Quyết định 59/2017/QĐ-UBND

​       Để thống nhất ý kiến trước khi trình Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét, ký ban hành Quyết định, Sở Tài nguyên và Môi trường gửi các Sở, Ngành, Tòa án nhân dân tỉnh, Cục Thi hành án tỉnh, Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố góp ý Dự thảo Quyết định.

        Ý kiến góp ý của các đơn vị gửi bằng văn bản về Sở Tài nguyên và Môi trường (File số gửi về địa chỉ tthien.stnmt@bentre.gov.vn) trước ngày 25 tháng 5 năm 2018 để Sở tổng hợp.

Tải nội dung: 1171_STNMT_DDBD_VT_2018.7z

 

21/05/2018 3:00 CHĐã ban hành
Chính phủ ban hành Nghị định số 136/2018/NĐ-CP sửa đổi một số điều của các Nghị định liên quan đến điều kiện đầu tư kinh doanh thuộc lĩnh vực tài nguyên và môi trường.Chính phủ ban hành Nghị định số 136/2018/NĐ-CP sửa đổi một số điều của các Nghị định liên quan đến điều kiện đầu tư kinh doanh thuộc lĩnh vực tài nguyên và môi trường.
Ngày 05 tháng 10 năm 2018, Chính phủ ban hành Nghị định số 136/2018/NĐ-CP sửa đổi một số điều của các Nghị định liên quan đến điều kiện đầu tư kinh doanh thuộc lĩnh vực tài nguyên và môi trường.

Ngày 05 tháng 10 năm 2018, Chính phủ ban hành Nghị định số 136/2018/NĐ-CP sửa đổi một số điều của các Nghị định liên quan đến điều kiện đầu tư kinh doanh thuộc lĩnh vực tài nguyên và môi trường.

Nghị định sửa đổi về điều kiện năng lực của tổ chức, cá nhân thực hiện điều tra, đánh giá đất đai theo hướng giảm có ít nhất từ 05 (năm) cá nhân xuống còn có ít nhất từ 02 (hai) cá nhân có đủ điều kiện thực hiện, điều tra, đánh giá đất đai trong tổ chức có chức năng điều tra, đánh giá đất đai; giảm có ít nhất từ 10 (mười) xuống còn có ít nhất 05 (năm) cá nhân đối với hoạt động xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai cấp huyện, giảm có ít nhất từ 15 (mười lăm) xuống còn có ít nhất từ 10 (mười) cá nhân đối với hoạt động xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai cấp tỉnh và xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai tại Trung ương.

Bên cạnh đó, Nghị định còn sửa đổi một số nội dung quy định về điều kiện cá nhân hành nghề tư vấn xác định giá đất trong tổ chức có chức năng tư vấn xác định giá đất; sửa đổi, bãi bỏ một số điểm, khoản quy định điều kiện của tổ chức hoạt động dịch vụ môi trường; bãi bỏ quy định về điều kiện của tổ chức thực hiện đánh giá môi trường chiến lược (Điều 9 Nghị định số 18/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 02 năm 2015 của Chính phủ); sửa đổi, bổ sung một số điểm, khoản về quản lý chất thải và phế liệu; điều kiện về cấp giấy phép hành nghề khoan nước dưới đất; điều kiện đối với đội ngũ cán bộ chuyên môn của tổ chức tham gia thực hiện đề án, dự án điều tra cơ bản, tư vấn lập quy hoạch tài nguyên nước; điều kiện cấp phép xử lý chất thải nguy hại, điều kiện cấp giấy phép hoạt động đo đạc và bản đồ; điều kiện về hoạt động dự báo, cảnh báo khí tượng thủy sản của tổ chức…

Nghị định có hiệu lực kể từ ngày 05 tháng 10 năm 2018./.
30/10/2018 5:00 CHĐã ban hành
Kiểm tra, xử lý các đối tượng khai thác cát trái phép trên sông Cổ ChiênKiểm tra, xử lý các đối tượng khai thác cát trái phép trên sông Cổ Chiên
Trong những năm gần đây, trên tuyến sông Cổ Chiên đoạn khu vực cồn Phú Đa, cồn Phú Bình thuộc địa phận xã Vĩnh Bình, huyện Chợ Lách đang trở thành điểm nóng về tình trạng khai thác cát trái phép. Do khu vực này là địa bàn giáp ranh giữa Bến Tre và Vĩnh Long, ít dân cư sinh sống nên các đối tượng bơm hút cát trái phép tập trung khai thác nhiều. Các đối tượng này sử dụng phương tiện có trang bị động cơ, máy bơm hút có công suất lớn để bơm hút nhanh và dễ dàng chạy thoát khi phát hiện có lực lượng kiểm tra. Thời gian hoạt động cao điểm là vào ban đêm, lúc con nước đang lớn.





Ảnh: Đoàn kierm tra triển khai lực lượng trên sông Cổ Chiên

Nắm quy luật trên, đêm ngày 25/3/2011 Thanh tra Sở Tài nguyên và Môi trường phối hợp với Đoàn kiểm tra liên ngành huyện Chợ Lách tổ chức kiểm tra và phát hiện có ba phương tiện đang bơm hút cát trái phép tại khu vực cồn Phú Đa, cồn Phú Bình. Đoàn kiểm tra lập biên bản tạm giữ phương tiện và chuyển về Uỷ ban nhân dân huyện Chợ Lách để xử lý. Sau đó, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện đã ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính mỗi đối tượng với mức phạt tiền là 10.000.000 đồng.


Ảnh: Một đối tượng đang sử dụng vòi bơm hút để lấy cát ngay đầu cồn Phú Bình



21/04/2011 12:00 SAĐã ban hành
Bản tin tình hình xâm nhập mặn tỉnh Bến Tre (Từ ngày 30/5 đến ngày 06/6/2017)Bản tin tình hình xâm nhập mặn tỉnh Bến Tre (Từ ngày 30/5 đến ngày 06/6/2017)
Bản tin dự báo độ mặn từ ngày 30 tháng 5 đến ngày 06 tháng 6 năm 2017 (Tuần 22/2017)

I/ TÓM TẮT TÌNH HÌNH XÂM NHẬP MẶN TỪ NGÀY 23 ĐẾN 07 GIỜ NGÀY 30/05/2017 (TUẦN 21/2017):

Diễn biến xâm nhập mặn cao nhất hàng ngày có xu thế ít biến đổi trong 2-3 ngày đầu, sau đó giảm dần.

Độ mặn xâm nhập sâu nhất xuất hiện trong các ngày 23 đến 25 ở xấp xỉ thấp hơn so với tuần trước và thấp hơn so với cùng thời kỳ năm 2016.

Độ mặn cao nhất đo được tại các nơi như sau:

Ø Trên sông Cửa Đại:

+ Tại Bình Đại (cảng cá Bình Đại - huyện Bình Đại): 20.1 ‰  ngày 24.

+ Tại Lộc Thuận (xã Lộc Thuận - huyện Bình Đại): 8.7 ‰  ngày 25.

+ Tại Giao Hoà (xã Giao Hoà - huyện Châu Thành): 1.9 ‰  ngày 23.

+ Tại Quới Sơn (Ấp 2, xã Quới Sơn - huyện Châu Thành): 0.1 ‰.

+ Tại Long Hòa (xã Long Hòa - huyện Bình Đại): 0.1 ‰ (sông Ba Lai).

Ø Trên sông Hàm Luông:

+ Tại An Thuận (cảng cá Tiệm Tôm – huyện Ba Tri): 19.3 ‰  ngày 24.

+ Tại Sơn Đốc (xã Hưng Lễ – huyện Giồng Trôm): 5.2 ‰  ngày 25.

+ Tại Phú Khánh (xã Phú Khánh – huyện Thạnh Phú): 3.6 ‰ ngày 24.

+ Tại Vàm Cái Quao (xã Bình Khánh Đông – huyện Mõ Cày Nam): 4.0 ‰ ngày 23.

+ Tại Vàm Nước Trong (xã Tân Thành Bình – huyện Mõ Cày Bắc): 1.5 ‰ ngày 23.

+ Tại Mỹ Hoá (phường 07 – Tp. Bến Tre): 0.1 ‰.

+ Tại Thanh Tân (xã Thanh Tân – huyện Mõ Cày Bắc): 0.1 ‰..

+ Tại An Hiệp (xã An Hiệp - huyện Châu Thành): 0.1 ‰.

+ Tại Vàm Mơn (xã Phú Sơn – huyện Chợ Lách): 0.1 ‰.

Ø Trên sông Cổ Chiên:

+ Tại Bến Trại (xã An Thuận – huyện Thạnh Phú): 13.9 ‰  ngày 28.

+ Tại Hương Mỹ (xã Hương Mỹ – huyện Mõ Cày Nam): 5.5 ‰  ngày 24.

+ Tại Cẩm Sơn (xã Cẩm Sơn – huyện Mõ Cày Nam): 2.9 ‰ ngày 23, 24.

+ Tại Thành Thới B (xã Thành Thới B – huyện Mõ Cày Nam): 0.2 ‰ ngày 23-25.

+ Tại Nhuận Phú Tân (xã Nhuận Phú Tân - huyện Mõ Cày Bắc): 0.1 ‰.

Độ mặn 4 ‰ trên các sông chính đã xâm nhập đến:

- Sông Cửa Đại: xã Phú Thuận (huyện Bình Đại), (cách cửa sông khoảng 32-34km).

- Sông Hàm Luông: xã Thạnh Phú Đông (huyện Giồng Trôm) – Bình Khánh Đông (huyện Mõ Cày Nam), (cách cửa sông khoảng 34-36km).

- Sông Cổ Chiên: xã Cẩm Sơn (huyện Mõ Cày Nam), (cách cửa sông khoảng 32-34km).

Độ mặn 1 ‰ trên các sông chính đã xâm nhập đến:

- Sông Cửa Đại: xã Giao Long - Quới Sơn (huyện Châu Thành), (cách cửa sông khoảng 42-44km).

- Sông Hàm Luông: xã Mỹ Thạnh An (Tp. Bến Tre) – Tân Thành Bình (huyện Mõ Cày Bắc), (cách cửa sông khoảng 44-46km).

- Sông Cổ Chiên: xã Thành Thới B (huyện Mõ Cày Nam), (cách cửa sông khoảng 42-44km).

II / DỰ BÁO TÌNH HÌNH XÂM NHẬP MẶN TỪ NGÀY 30/05 ĐẾN NGÀY 06/06/2017 (TUẦN 22/2017):

Diễn biến xâm nhập mặn cao nhất hàng ngày có xu thế tiếp tục giảm dần từ ngày 30/05 đến 02/06, sau đó ít biến đổi rồi tăng dần từ ngày 04 đến 06/06.

Độ mặn xâm nhập sâu nhất xuất hiện trong các ngày 05-06 ở mức tương đương so với tuần qua và xấp xỉ thấp hơn so với cùng thời kỳ năm 2016.

Ø Trên sông Cửa Đại:

+ Tại Bình Đại (cảng cá Bình Đại - huyện Bình Đại): Smax từ  15.0 ‰ đến 18.0 ‰.

+ Tại Lộc Thuận (xã Lộc Thuận - huyện Bình Đại): Smax từ  5.0 ‰ đến 8.0 ‰.

+ Tại Giao Hoà (xã Giao Hoà - huyện Châu Thành): Smax từ  1.0 ‰ đến 3.0 ‰.

+ Tại Quới Sơn (Ấp 2, xã Quới Sơn - huyện Châu Thành): Smax 0.2 ‰ đến 0.5 ‰.

+ Tại Long Hoà (xã Long Hoà – huyện Bình Đại): Smax 0.2 ‰ đến 1.0 ‰. (sông Ba Lai).

Ø Trên sông Hàm Luông:

+ Tại An Thuận (Tiệm Tôm – huyện Ba Tri): Smax từ 16.0  ‰ đến 19.0 ‰.

+ Tại Sơn Đốc (xã Hưng Lễ - huyện Giồng Trôm): Smax từ  4.0 ‰ đến 7.0 ‰.

+ Tại Phú Khánh (xã Phú Khánh – huyện Thạnh Phú): Smax từ 3.0 ‰ đến 6.0 ‰ (trong kênh).

+ Tại Vàm Cái Quao (xã Bình Khánh Đông – huyện Mõ Cày Nam): Smax từ 3.0 ‰ đến 6.0 ‰.

+ Tại Vàm Nước Trong (xã Tân Thành Bình – huyện Mõ Cày Bắc): Smax 0.2 ‰ đến 1.5 ‰.

+ Tại Mỹ Hoá (phường 07 – Tp. Bến Tre): Smax 0.2 ‰ đến 0.5 ‰.

+ Tại Thanh Tân (xã Thanh Tân – huyện Mõ Cày Bắc): Smax 0.2 ‰.

+ Tại An Hiệp (xã An Hiệp – huyện Châu Thành): 0.1 ‰.

+ Tại Vàm Mơn (xã Phú Sơn – huyện Chợ Lách): 0.1 ‰..

+ Tại Hòa Nghĩa (xã Hòa Nghĩa - huyện Chợ Lách): 0.1 ‰.

Ø Trên sông Cổ Chiên:

+ Tại Bến Trại (xã An Thuận – huyện Thạnh Phú): Smax từ  15.0 ‰ đến 18.0 ‰.

+ Tại Hương Mỹ (xã Hương Mỹ - huyện Mõ Cày Nam): Smax từ 3.0 ‰ đến 6.0‰.

+ Tại Cẩm Sơn (xã Cẩm Sơn – huyện Mõ Cày Nam): Smax từ  2.0 ‰ đến 4.0 ‰.

+ Tại Thành Thới B (xã Thành Thới B – huyện Mõ Cày Nam): Smax từ 0.2 ‰ đến 0.5 ‰.

+ Tại Nhuận Phú Tân (xã Nhuận Phú Tân): Smax 0.2 ‰.

Độ mặn 4 ‰ trên các sông chính có khả năng xâm nhập đến:

- Sông Cửa Đại: xã Phú Thuận (huyện Bình Đại), (cách cửa sông khoảng 32-34km).

- Sông Hàm Luông: xã Thạnh Phú Đông (huyện Giồng Trôm) – Bình Khánh Đông (huyện Mõ Cày Nam), (cách cửa sông khoảng 34-36km).

- Sông Cổ Chiên: xã Cẩm Sơn (huyện Mõ Cày Nam), (cách cửa sông khoảng 32-34km).

Độ mặn 1 ‰ trên các sông chính có khả năng xâm nhập đến:

- Sông Cửa Đại: xã Giao Long - Quới Sơn (huyện Châu Thành), (cách cửa sông khoảng 42-44km).

- Sông Hàm Luông: xã Mỹ Thạnh An (Tp. Bến Tre) – Tân Thành Bình (huyện Mõ Cày Bắc), (cách cửa sông khoảng 44-46km).

- Sông Cổ Chiên: xã Thành Thới B (huyện Mõ Cày Nam), (cách cửa sông khoảng 42-44km).

* Cấp độ rủi ro thiên tai do xâm nhập mặn trong tuần này:

Sông Cửa Đại: cấp độ 1.

Sông Hàm Luông:cấp độ 1.

Sông Cổ Chiên: cấp độ 1.

tuan22.png

Ban_tin_man_31_6 (Tuan_22_2017).png

02/06/2017 3:30 CHĐã ban hành
Ngày Nước thế giới 2018 - “Câu trả lời là trong thiên nhiên”Ngày Nước thế giới 2018 - “Câu trả lời là trong thiên nhiên”
“Chúng ta có thể giảm lũ lụt, hạn hán và ô nhiễm nước như thế nào? Bằng cách sử dụng các giải pháp chúng ta tìm thấy trong thiên nhiên”. Đó là thông điệp ngày Nước thế giới năm 2018 mà Ủy ban về nước của Liên hiệp quốc (UN-Water) muốn gửi đến chúng ta.

      "Chúng ta có thể giảm lũ lụt, hạn hán và ô nhiễm nước như thế nào? Bằng cách sử dụng các giải pháp chúng ta tìm thấy trong thiên nhiên". Đó là thông điệp ngày Nước thế giới năm 2018 mà Ủy ban về nước của Liên hiệp quốc (UN-Water) muốn gửi đến chúng ta.

Ngay_nuoc_the_gioi_2018_worldwaterday.png
Nguồn: worldwaterday.org

      Ngày Nước thế giới 22/3 hàng năm tập trung quan tâm vào những vấn đề quan trọng của tài nguyên nước và nước sạch. Năm 2018, UN-Water chọn chủ đề là “Nước với thiên nhiên” với chiến dịch vận động, nâng cao nhận thức trong việc tìm, áp dụng các giải pháp dựa vào tự nhiên trước các thách thức về nước mà chúng ta đối mặt trong thế kỷ 21.


          Giải pháp tiêu biểu dựa vào tự nhiên mà UN-Water đưa ra như:


           -   Trồng cây để bổ sung cho rừng; trồng cây bản địa, cây bụi trong vùng đệm, hành lang bảo vệ dọc theo các dòng nước;

          -    Kết nối lại các dòng sông với vùng ngập lũ và phục hồi đất ngập nước.


           Theo UN-Water, các giải pháp dựa vào tự nhiên có thể giảm đáng kể ô nhiễm, bảo vệ đất khỏi xói mòn. Việc áp dụng giải pháp dựa vào tự nhiên chắc chắn tạo ra "cơ sở hạ tầng xanh", các hệ thống tự nhiên hay bán tự nhiên này mang lại cho chúng ta những lợi ích tương đương hoặc tương tự như cơ sở hạ tầng xám thông thường. Bên cạnh đó, giải pháp dựa vào tự nhiên thường tạo ra lợi ích ngoài các dịch vụ liên quan đến nước, ví dụ đất ngập nước được dùng để xử lý nước thải, cung cấp sinh khối cho sản xuất năng lượng, cải thiện đa dạng sinh học và tạo không gian giải trí, du lịch và việc làm liên quan. Hầu hết giải pháp dựa vào tự nhiên, bao gồm cả cảnh quan đô thị thì chủ yếu liên quan đến việc quản lý thực vật, đất hoặc đất ngập nước, bao gồm sông và hồ. Giải pháp dựa vào tự nhiên không phải là thuốc chữa bách bệnh đối với những thách thức liên quan đến nước mà chúng ta phải đối mặt trong tình trạng gia tăng dân số toàn cầu, nhưng đây là một trong những cách bền vững và tiết kiệm chi phí để giúp cân bằng lại chu trình nước, giảm nhẹ tác động của biến đổi khí hậu, cải thiện sức khoẻ và sinh kế con người.

          Các thông tin về hiện trạng và cảnh báo liên quan đến nước trên thế giới cũng được UN-Water đưa ra:

         + Hiện nay, khoảng 2,1 tỷ người không tiếp cận các dịch vụ nước sạch được quản lý an toàn; Đến năm 2050, dân số thế giới sẽ tăng khoảng 2 tỷ người và nhu cầu nước toàn cầu có thể lên đến 30% so với hiện nay;
         + Nông nghiệp hiện chiếm 70% lượng nước sử dụng toàn cầu, chủ yếu là để tưới tiêu; Công nghiệp chiếm 20% trên tổng số, tập trung vào năng lượng và sản xuất; 10% còn lại là nước sử dụng trong sinh hoạt gia đình.
         + Khoảng 1,9 tỷ người sống trong các khu vực có khả năng khan hiếm nước nghiêm trọng. Đến năm 2050, con số này có thể tăng lên khoảng 3 tỷ người;
        + Trên toàn cầu, hơn 80% nước thải sinh ra từ hoạt động xã hội chảy ngược trở lại môi trường mà không được xử lý hoặc tái sử dụng.
       +   Ít nhất 65% diện tích đất rừng bị suy thoái; từ năm 1900 đến nay, khoảng 64-71% diện tích đất ngập nước tự nhiên mất đi do hoạt động của con người.

          Tỉnh Bến Tre có tiềm năng trong việc ứng dụng các giải pháp dựa vào tự nhiên để góp phần bảo vệ, sử dụng hiệu quả nguồn nước trên địa bàn tỉnh. Có thể xem Bến Tre như là vùng đất ngập nước rộng lớn với hệ thống sông, rạch, kênh, mương dầy đặc; bãi bồi, rừng ngập mặn ven biển, Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Thạnh Phú, Khu bảo tồn sân chim Vàm Hồ; hồ chứa nước ngọt…Bên cạnh đó là hành lang thực vật bản địa ven sông (như bần, dừa nước, sậy,…) và ven biển (mắm, đước,…).

DSC_0369_2018.JPGIMG_1634_201.jpg

Hình: Hành lang thực vật bản địa - bần, dừa nước ven sông tỉnh Bến Tre

(Ảnh: Duy Anh)

       Trước nhu cầu sử dụng nước để phát huy thế mạnh kinh tế của tỉnh về nuôi trồng thủy sản, trồng trọt trong thời gian tới; áp lực nước thải từ phát triển công nghiệp và thách thức liên quan đến khô hạn, xâm nhập mặn thì bên cạnh các biện pháp công trình thủy lợi trọng điểm, việc quản lý và bảo vệ, phát triển "cơ sở hạ tầng xanh" hiện có của tỉnh là một trong những giải pháp cần được quan tâm hơn. Đây sẽ là giải pháp hỗ trợ tích cực trong phát huy hiệu quả các công trình thủy lợi, cải thiện chất lượng nước, bảo tồn đa dạng sinh học và ít tốn kém chi phí trong điều kiện hạn chế về nguồn lực, giải pháp phù hợp với tinh thần Nghị quyết 120/NQ-CP của Chính phủ về phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long thích ứng biến đổi khí hậu.

(Nguồn thông tin ngày Nước thế giới 2018 - website: worldwaterday.org)

Huỳnh Lê Duy Anh - P. Quản lý tài nguyên và Khí tượng thủy văn


13/03/2018 11:00 SAĐã ban hành
Nội dung cơ bản của Nghị định hướng dẫn thi hành  Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảoNội dung cơ bản của Nghị định hướng dẫn thi hành  Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo
Từ ngày 01/7/2016, Luật Tài nguyên môi trường biển và hải đảo có hiệu lực. Đây là thời điểm đánh dấu lần đầu tiên “luật hóa” quy định về phương thức quản lý mới trên biển là “quản lý tổng hợp” và nó được kỳ vọng sẽ đem lại hiệu quả trong sử dụng tài nguyên và quản lý môi trưởng biển, đảo.

         Để thực hiện Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo năm 2015, ngày 15/5/2016 Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 40/2016/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (gọi tắt là Nghị định thi hành Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo). Nghị định thi hành Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo gồm 10 Chương với 71 Điều; phạm vi điều chỉnh các Điều 11, Điều 14, Điều 22, Điều 23, Điều 25, Điều 29, Điều 36; khoản 1 Điều 40; khoản 3 Điều 54; khoản 2 Điều 58; khoản 4 Điều 60 và khoản 3 Điều 76 của Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo. Nghị định có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2016.

Huong_dan_Luat_TNMT_bien_2017.jpg

Một góc bờ biển Thạnh Phú, Bến Tre

Nội dung Nghị định thi hành Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo gồm: (01) Lập, thẩm định, phê duyệt và thực hiện chiến lược khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo; (02) Phạm vi vùng bờ; lập, thẩm định, phê duyệt, điều chỉnh quy hoạch tổng thể khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên vùng bờ; lập, thẩm định, phê duyệt, điều chỉnh chương trình quản lý tổng hợp tài nguyên vùng bờ; (03) Chương trình trọng điểm điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển và hải đảo; (04) Hành lang bảo vệ bờ biển; hạn chế các hoạt động trong hành lang bảo vệ bờ biển; (05) Phân loại các hải đảo; (06) Xác định và thông báo về khu vực hạn chế hoạt động để ưu tiên cho hoạt động cứu hộ, cứu nạn, ứng phó sự cố (07) Cấp, cấp lại, gia hạn, sửa đổi, bổ sung, cho phép trả lại, thu hồi giấy phép nhận chìm ở biển; danh mục vật, chất được nhận chìm ở biển; (08) Cơ chế phối hợp giữa các Bộ, ngành, địa phương trong quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển và hải đảo; (09) Điều khoản thi hành.

Theo đó, nội dung của Nghị định quy định Phạm vi vùng bờ: bao gồm vùng biển ven bờ và vùng đất ven biển; vùng biển ven bờ có ranh giới trong là đường mép nước biển thấp nhất trung bình trong nhiều năm (18,6 năm) và ranh giới ngoài cách đường mép nước biển thấp nhất trung bình trong nhiều năm một khoảng cách 06 hải lý do Bộ Tài nguyên và Môi trường xác định và công bố; quy định việc lập, xác định các khu vực phải thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển; lấy ý kiến, phê duyệt Danh mục các khu vực biển phải thiết lập ranh giới hành lang bảo vệ bờ biển; công bố, cắm mốc giới hành lang bảo vệ bờ biển…tại Chương V của Nghị định về Hành lang bảo vệ bờ biển, hạn chế các hoạt động trong hành lang bảo vệ bờ biển.

          Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo và các văn bản hướng dẫn thi hành ra đời) nhằm thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, từng bước hoàn thiện pháp luật để quản lý tài nguyên biển và hải đảo bảo đảm tài nguyên biển và hải đảo được khai thác, sử dụng hiệu quả, duy trì chức năng và cấu trúc của hệ sinh thái nhằm phát triển bền vững, bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia của Việt Nam trên biển. Đồng thời là hành lang pháp lý quan trọng tạo bước đột phá trong quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường biển và hải đảo, góp phần sớm đưa Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, thực hiện thắng lợi Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020./.

Vĩnh Thịnh

28/11/2017 10:00 SAĐã ban hành
GIẢI PHÁP XỬ LÝ RÁC THẢI CHỢ VÀ KHU DÂN CƯGIẢI PHÁP XỬ LÝ RÁC THẢI CHỢ VÀ KHU DÂN CƯ
Dân số ngày càng tăng, điều kiện kinh tế, xã hội ngày càng phát triển, vì thế, nhu cầu tiêu dùng của người dân trong các vùng nông thôn nói chung và các chợ, khu dân cư nói riêng cũng ngày càng phong phú và đa dạng. Đây cũng là một trong những nguyên nhân chính phát sinh rác thải của người dân ngày càng nhiều, phức tạp và khó xử lý hơn trước.



Năm 2007, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bến Tre đã thực hiện kiểm soát ô nhiễm môi trường tại 10 khu chợ xã, thị trấn. Qua đó, ước tính tổng lượng rác thải từ các hoạt động sinh hoạt, thương mại của các khu chợ thải ra khoảng 0,5 – 02 tấn/ngày. Khối lượng rác thải phát sinh ít, nhưng túi nilong chiếm tỉ trọng rất lớn, đây là loại chất thải khó phân hủy trong môi trường, gây xấu cảnh quan, làm thu hẹp diện tích đất và làm ô nhiễm môi trường nước.

Công tác thu gom và xử lý rác thải phát sinh từ các hộ dân sinh sống và hộ kinh doanh ở các chợ chưa được quan tâm và quản lý đúng mức. Theo kết quả kiểm soát, hầu hết các chợ đều chưa có giải pháp cụ thể hoặc giải pháp chưa đồng bộ về thu gom rác thải. Các chợ đều chưa có bãi chôn lấp rác hợp vệ sinh, tạm thời, rất nhiều xã còn lúng túng trong việc này; vị trí các bãi chôn lấp rác đều gần với nguồn nước, nhà dân, đường giao thông chính, không có tường bao quanh, xử lý nước rỉ rác, mùi hôi và ruồi nhặng. Điều này đã gây ảnh hưởng đến môi trường, cảnh quan nói chung và chất lượng nguồn nước sinh hoạt nói riêng.

Từ hiện trạng trên, đòi hỏi chúng ta cần có giải pháp phù hợp về vấn đề thu gom, xử lý rác thải ở chợ, khu vực đông dân cư ở các xã, thị trấn để giữ môi trường sống trong lành, bảo đảm sức khoẻ cho người dân. Giải pháp cụ thể trước mắt là Ủy ban nhân dân các xã, thị trấn nên quy hoạch bãi bãi xử lý rác thải và thành lập Tổ dịch vụ thu gom rác thải và sẽ được trả công bằng đóng góp của các điểm kinh doanh trong chợ, hộ dân trong xã, thị trấn. Ở những nơi gần thị xã Bến Tre, Công ty TNHH Công trình, đô thị thị xã Bến Tre cần tổ chức thu gom rác thải trực tiếp của các hộ dân, rác thải từ các chợ và đảm bảo xử lý hợp vệ sinh, bảo đảm an toàn về môi trường.

Tổ dịch vụ thu gom rác thải được thành lập theo quy mô cấp xã, thị trấn hoặc 01 khu dân cư, chợ. Tổ thu gom rác có từ 02 - 04 người, có quy chế hoạt động riêng và chịu sự quản lý của Ủy ban nhân dân xã, thị trấn hoặc ban quản lý chợ. Tổ thu gom được trang bị xe chở rác, cuốc, xẻng, quần áo bảo hộ lao động, khẩu trang, chổi...

Tổ thu gom rác hoạt động hằng ngày vào các giờ quy định, các nhân viên thuộc tổ thu gom có trách nhiệm thu gom rác và vệ sinh đường phố, chợ trong xã, thị trấn. Rác thải sau khi thu gom được vận chuyển đến bãi rác đã được quy hoạch thuộc địa giới hành chính của xã hoặc quy hoạch theo khu vực. Tại bãi rác, các nhân viên tiếp tục thực hiện các công đoạn xử lý tiếp theo. Đối với chất thải rắn nông thôn hiện nay nên lựa chọn phương pháp xử lý bằng cách chôn lấp dễ thực hiện và ít tốn kém.

Bãi xử lý rác thải được quy hoạch ở vị trí phù hợp với nguồn phát sinh rác thải, tại khu đất trống, không phá hoại cảnh quan, xa khu dân cư và nên khuất gió. Diện tích bãi xử lý rác thải tuỳ thuộc vào khối lượng rác thải và điều kiện của địa phương. Bãi xử lý rác thải phải cách xa các nguồn nước mặt. Ngăn chặn sự rò rỉ nước rỉ từ bãi rác thấm vào nước ngầm bằng các lớp lót chống thấm và tường bao của bãi chôn lấp. Các yêu cầu thiết kế về mặt bằng, đường vào ra, rào chắn, biển hiệu phải tuân thủ đúng quy định. Lớp lót chống thấm có thể được sử dụng bằng đất sét có độ dày từ 0,5 m trở lên. Bãi chôn lấp được chia thành các ô nhỏ và có độ sâu trung bình hơn 01 m.

Bắt đầu chôn lấp rác từ các ô chứa phía cuối bãi xử lý. Rác thải sau khi được đổ vào ô, thì được trải thành những lớp dày 20 - 40 cm, mỗi lớp rác thải phải được đầm nén chặt, sau đó tiếp tục trải những lớp khác lên trên. Cuối ngày cần phủ lên một lớp đất dày 05 - 10 cm rồi đầm nén. Mỗi ô chứa rác thải phải hoàn chỉnh, trước khi bắt đầu ô chứa tiếp theo. Phun hoá chất diệt côn trùng và rắc vôi bột vào lớp rác thải đã đầm nén trước khi phủ đất lên trên. Đây là phương pháp chôn chất thải rắn có kiểm soát, dễ thực hiện và tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường.

Về lâu dài, hoạt động kinh tế - xã hội ở khu vực nông thôn ngày càng gia tăng, thì cần có một giải pháp mang tính toàn diện về vấn đề thu gom và xử lý rác thải. Bởi việc thu gom của các tổ thu gom rác chỉ là giải pháp mang tính tạm thời, còn đối việc xử lý như thế nào đối với rác thải để không gây ô nhiễm môi trường là những vấn đề mang tính kỹ thuật, tổ thu gom rác thải không thể giải quyết, mà cần sự vào cuộc tích cực, đồng bộ của các cơ quan chức năng.

Mai Hanh



24/01/2008 12:00 SAĐã ban hành
Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ 01/6/2019 đến 06/6/2019Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ 01/6/2019 đến 06/6/2019
Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ 01/6/2019 đến 06/6/2019
07/06/2019 8:00 SAĐã ban hành
Bản tin dự báo tình hình xâm nhập mặn tỉnh Bến Tre (Từ ngày 12/3 đến ngày 19/3/2019)Bản tin dự báo tình hình xâm nhập mặn tỉnh Bến Tre (Từ ngày 12/3 đến ngày 19/3/2019)
Bản tin dự báo  tình hình xâm nhập mặn tỉnh Bến Tre (Từ ngày 12/3 đến ngày 19/3/2019) (Tuần 11/2019)

I/ TóM TẮT TÌNH HÌNH xâm NHẬP MẶN tỪ 07 GIỜ ngày 05 ĐẾN 07 GIỜ NGÀY 12/03/2019 (TUẦN 10/2019):

Trên sông Hàm Luông và Cửa Đại, xâm nhập mặn cao nhất hàng ngày có xu thế giảm nhẹ từ ngày 05 đến ngày 10, sau đó ít biến đổi. Độ mặn xâm nhập sâu nhất xuất hiện trong các ngày 05-07/03 ở mức xấp xỉ ít sâu hơn so với tuần trước. Độ mặn xâm nhập sâu trên các sông ở mức ít sâu hơn so với cùng thời kỳ năm 2015, năm 2018 và ở mức thấp hơn so với cùng thời kỳ năm 2016.

Trên sông Cổ Chiên, xâm nhập mặn cao nhất hàng ngày có xu thế ít biến đổi trong các ngày 05 đến ngày 06, sau đó giảm nhẹ giảm nhẹ đến ngày 09 rồi giảm dần từ ngày 10 đến ngày 12. Độ mặn xâm nhập sâu nhất xuất hiện trong các ngày 05-06 ở mức xấp xỉ sâu hơn so với tuần trước. Độ mặn xâm nhập sâu trên sông ở mức sâu hơn so với cùng thời kỳ năm 2015, năm 2018 và ở mức thấp hơn so với cùng thời kỳ năm 2016.

Độ mặn cao nhất đo được tại các nơi như sau:

Ø Trên sông Cửa Đại:

+ Tại Bình Đại (cảng cá Bình Đại - huyện Bình Đại): 19.3 ‰ ngày 07.

+ Tại Lộc Thuận (xã Lộc Thuận - huyện Bình Đại): 11.7 ‰  ngày 07.

+ Tại Giao Hoà (xã Giao Hoà - huyện Châu Thành): 1.7 ‰  ngày 05-07.

+ Tại Quới Sơn (Ấp 2, xã Quới Sơn - huyện Châu Thành): 0.2 ‰ ngày 05-11.

+ Tại Long Hòa (xã Long Hòa - huyện Bình Đại): 0.4 ‰ ngày 05-09 (sông Ba Lai).

Ø Trên sông Hàm Luông:

+ Tại An Thuận (cảng cá Tiệm Tôm – huyện Ba Tri): 17.8 ‰ ngày 05.

+ Tại Sơn Đốc (xã Hưng Lễ – huyện Giồng Trôm): 8.0 ‰ ngày 05.

+ Tại Phú Khánh (xã Phú Khánh – huyện Thạnh Phú): 4.2 ‰ ngày 05 (trong kênh).

+ Tại Vàm Cái Quao (xã Bình Khánh Đông – huyện Mõ Cày Nam): 5.5 ‰ ngày 05.

+ Tại Vàm Thủ Cửu (xã Phước Long – huyện Giồng Trôm): 2.7 ‰ ngày 05.

+ Tại Vàm Nước Trong (xã Tân Thành Bình – huyện Mõ Cày Bắc): 1.6 ‰ ngày 05-06.

+ Tại Mỹ Hóa (phường 07 – Tp. Bến Tre): 0.8 ‰  ngày 05.

+ Tại Thanh Tân (xã Thanh Tân – huyện Mõ Cày Bắc): 0.1 ‰.

+ Tại An Hiệp (xã An Hiệp - huyện Châu Thành): 0.1 ‰.

+ Tại Vàm Mơn (xã Phú Sơn – huyện Chợ Lách): 0.1 ‰.

Ø Trên sông Cổ Chiên:

+ Tại Bến Trại (xã An Thuận – huyện Thạnh Phú): 16.8 ‰ ngày 06.

+ Tại Hương Mỹ (xã Hương Mỹ – huyện Mõ Cày Nam): 6.3 ‰  ngày 05.

+ Tại Cẩm Sơn (xã Cẩm Sơn – huyện Mõ Cày Nam): 3.9 ‰ ngày 05.

+ Tại Vàm Thom (xã Thành Thới B – huyện Mõ Cày Nam): 1.1 ‰ ngày 06.

+ Tại Nhuận Phú Tân (xã Nhuận Phú Tân - huyện Mõ Cày Bắc): 0.2 ‰ ngày 05.

Độ mặn 4 ‰ trên các sông chính đã xâm nhập đến:

- Sông Cửa Đại: xã Phú Thuận – Tam Hiệp (huyện Bình Đại), (cách cửa sông khoảng 33 - 35km).

- Sông Hàm Luông: xã Thạnh Phú Đông, Phước Long (huyện Giồng Trôm) - xã Bình Khánh Đông (huyện Mõ Cày Nam), (cách cửa sông khoảng 35 - 37km).

- Sông Cổ Chiên: xã Cẩm Sơn - Thành Thới A (huyện Mõ Cày Nam), (cách cửa sông khoảng 36 - 38km).

Độ mặn 1 ‰ trên các sông chính đã xâm nhập đến:

- Sông Cửa Đại: xã Quới Sơn (huyện Châu Thành), (cách cửa sông khoảng 43 - 45km).

- Sông Hàm Luông: xã Mỹ Thạnh An, Phường 07 (Tp. Bến Tre) - xã Thanh Tân (huyện Mõ Cày Bắc), (cách cửa sông khoảng 46 - 48km).

- Sông Cổ Chiên: xã Khánh Thạnh Tân (huyện Mõ Cày Bắc), (cách cửa sông khoảng 48 - 50km).

II / DỰ BÁO TÌNH HÌNH XÂM NHẬP MẶN TỪ NGÀY 12 ĐẾN NGÀY 19/03/2019) (TUẦN 11/2019):

Trên sông Hàm Luông và Cửa Đại, xâm nhập mặn cao nhất hàng ngày có xu thế ít biến đổi trong các ngày 12 đến ngày 13, sau đó sau đó tăng dần từ ngày 14 đến ngày 19. Độ mặn xâm nhập sâu nhất xuất hiện trong các ngày 18-19/03 ở mức sâu hơn so với tuần qua. Độ mặn xâm nhập sâu trên các sông ở mức xấp xỉ so với cùng thời kỳ năm 2015, ở mức thấp hơn so với cùng thời kỳ năm 2016, 2018.

Trên sông Cổ Chiên, xâm nhập mặn cao nhất hàng ngày có xu thế tăng dần từ ngày 13 đến ngày 18, sau đó ít biến đổi. Độ mặn xâm nhập sâu nhất xuất hiện trong các ngày 18-19/03 ở mức sâu hơn so với tuần qua. Độ mặn xâm nhập sâu trên sông ở mức sâu hơn so với cùng thời kỳ năm 2015, ở mức thấp hơn so với cùng thời kỳ năm 2016, 2018.

Ø Trên sông Cửa Đại:

+ Tại Bình Đại (cảng cá Bình Đại - huyện Bình Đại): Smax từ  22.0 ‰ đến 25.0 ‰.

+ Tại Lộc Thuận (xã Lộc Thuận - huyện Bình Đại): Smax từ  8.0 ‰ đến 11.0 ‰.

+ Tại Giao Hoà (xã Giao Hoà - huyện Châu Thành): Smax từ  2.0 ‰ đến 4.0 ‰.

+ Tại Quới Sơn (Ấp 2, xã Quới Sơn - huyện Châu Thành): Smax từ  0.2 ‰ đến 1.0 ‰.

+ Tại Long Hòa (xã Long Hòa - huyện Bình Đại): Smax từ  0.5 ‰ đến 1.5 ‰.

Ø Trên sông Hàm Luông:

+ Tại An Thuận (Tiệm Tôm – huyện Ba Tri): Smax từ 22.0 ‰ đến 25.0 ‰.

+ Tại Sơn Đốc (xã Hưng Lễ - huyện Giồng Trôm): Smax từ 8.0 ‰ đến 11.0 ‰.

+ Tại Phú Khánh (xã Phú Khánh – huyện Thạnh Phú): Smax từ 4.0 ‰ đến 7.0 ‰ (trong kênh).

+ Tại Vàm Cái Quao (xã Bình Khánh Đông – huyện Mõ Cày Nam): Smax từ 4.0 ‰ đến 6.0 ‰.

+ Tại Vàm Thủ Cửu (xã Phước Long – huyện Giồng Trôm): Smax từ 2.5 ‰ đến 4.5 ‰.

+ Tại Vàm Nước Trong (xã Tân Thành Bình – huyện Mõ Cày Bắc): Smax từ 1.0 ‰ đến 3.0 ‰.

+ Tại Mỹ Hoá (phường 07 – Tp. Bến Tre): Smax từ 1.0 ‰ đến 2.5 ‰.

+ Tại Thanh Tân (xã Thanh Tân – huyện Mõ Cày Bắc): Smax từ 0.2 ‰ đến 0.5 ‰.

+ Tại An Hiệp (xã An Hiệp - huyện Châu Thành): Smax từ 0.2 ‰ đến 0.5 ‰.

+ Tại Vàm Mơn (xã Phú Sơn – huyện Chợ Lách): Smax 0.1 ‰.

Ø Trên sông Cổ Chiên:

+ Tại Bến Trại (xã An Thuận – huyện Thạnh Phú): Smax từ  21.0 ‰ đến 24.0 ‰.

+ Tại Hương Mỹ (xã Hương Mỹ - huyện Mõ Cày Nam): Smax từ  6.0 ‰ đến 9.0 ‰.

+ Tại Cẩm Sơn (xã Cẩm Sơn – huyện Mõ Cày Nam): Smax từ  3.5 ‰ đến 5.5 ‰.

+ Tại Vàm Thom (xã Thành Thới B – huyện Mõ Cày Nam): Smax từ  1.0 ‰ đến 2.5 ‰.

+ Tại Nhuận Phú Tân (xã Nhuận Phú Tân - huyện Mõ Cày Bắc): Smax từ 0.2 ‰ đến 0.5 ‰.

Độ mặn 4 ‰ trên các sông chính có khả năng xâm nhập đến:

- Sông Cửa Đại: xã Long Định (huyện Bình Đại), (cách cửa sông khoảng 36 - 38km).

- Sông Hàm Luông: xã Phước Long (huyện Giồng Trôm) - xã Bình Khánh Đông, Phước Hiệp (huyện Mõ Cày Nam), (cách cửa sông khoảng 36 - 38km).

- Sông Cổ Chiên: xã Thành Thới A (huyện Mõ Cày Nam), (cách cửa sông khoảng 38 - 40km).

Độ mặn 1 ‰ trên các sông chính có khả năng xâm nhập đến:

- Sông Cửa Đại: xã Quới Sơn (huyện Châu Thành), (cách cửa sông khoảng 45 - 47km).

- Sông Hàm Luông: xã Bình Phú, Mỹ Thành (Tp. Bến Tre) - xã Thanh Tân (huyện Mõ Cày Bắc), (cách cửa sông khoảng 50 - 52km).

- Sông Cổ Chiên: xã Khánh Thạnh Tân – Nhuận Phú Tân(huyện Mõ Cày Bắc), (cách cửa sông khoảng 50 - 52km).

* Cấp độ rủi ro thiên tai do xâm nhập mặn trong tuần này: cấp độ 1.

Ban tin man 12_3(Tuan 10_2019).png

Ban tin man 12_3(Tuan 10_2019).png

14/03/2019 3:00 CHĐã ban hành
Phó Chủ tịch Ngân hàng thế giới thực tế tỉnh Bến Tre về phát triển bền vững và biến đổi khí hậuPhó Chủ tịch Ngân hàng thế giới thực tế tỉnh Bến Tre về phát triển bền vững và biến đổi khí hậu
Ngày 8 tháng 12 năm 2017, Đoàn WB do Bà Laura Tuck - Phó chủ tịch phụ trách phát triển bền vững làm trưởng Đoàn đã có chuyến thực tế tại tỉnh Bến Tre. Ông Cao Văn Trọng - Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh và Lãnh đạo các Sở: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tài nguyên và Môi trường tiếp và làm việc với Đoàn
       Trong thời gian qua, Bến Tre vinh dự nhận được sự quan tâm, hỗ trợ của Ngân hàng thế giới (WB) trong phát triển bền vững và ứng phó biến đổi khí hậu. Ngày 8 tháng 12 năm 2017, Đoàn WB do Bà Laura Tuck - Phó chủ tịch phụ trách phát triển bền vững làm trưởng Đoàn đã có chuyến thực tế tại tỉnh Bến Tre. Ông Cao Văn Trọng - Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh và Lãnh đạo các Sở: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tài nguyên và Môi trường tiếp và làm việc với Đoàn. Trước đó vào năm 2014, Bà Rachel Kyte - Phó chủ tịch WB và là đại sứ đặc biệt về biến đổi khí hậu tại thời điểm đã đến thực địa ở tỉnh.
worldbank3.jpg

Hình: Bà Laura Tuck - Phó chủ tịch Ngân hàng thế giới (giữa) trao đổi với Lãnh đạo tỉnh Bến Tre (Ảnh: Văn Ngoan)
 

        Trong chương trình thực tế, Đoàn WB đã đến cống đập Ba Lai, xem lúa-tôm xã Tân Xuân và khảo sát sạt lở ven biển Cồn Ngoài xã Bảo Thuận, huyện Ba Tri. Thời gian qua, sạt lở ven biển là một trong những tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu, nước biển dâng đến Bến Tre và có xu hướng gia tăng. Khu vực sạt lở đáng chú ý là Cồn Bửng huyện Thạnh Phú và Cồn Ngoài huyện Ba Tri. Nguyên nhân do mực nước biển ở mức cao kết hợp gió mùa làm gia tăng cường độ sống biển, thêm vào đó vùng ven biển có kết cấu đất yếu và cao độ địa hình thấp, qua đó làm tăng tổn thương cho vùng bờ ven biển. Bên cạnh các tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng, một yếu tố khác tác động lâu dài và đang gia tăng áp lực lên tình trạng sạt lở ven biển của tỉnh Bến Tre nói riêng (và cả ĐBSCL) là việc mất dần phù sa bồi đắp do trầm tích bị giữ lại bởi các đập thủy điện trên dòng chính sông Mekong, vấn đề này đã được các nhà khoa học phản ảnh nhiều trong thời gian qua.


worldbank2.JPGworldbank1.JPG

Hình: Sạt lở ven biển huyện Thạnh Phú (ảnh trái) và huyện Ba Tri thời điểm năm 2017 (Ảnh: Duy Anh)

            Một số dự án do WB hỗ trợ tỉnh Bến Tre đang được triển khai như: Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển sinh kế bền vững cho người dân vùng biển Ba Tri; Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cải thiện sinh kế người dân Bắc Thạnh Phú; và sắp đến là Dự án mở rộng, nâng cấp đô thị Việt Nam - Tiểu dự án thành phố Bến Tre, dự án hướng đến thành phố xanh, thích ứng biến đổi khí hậu và giảm thiểu rủi ro thiên tai.

            Bến Tre xác định ứng phó biến đổi khí hậu là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong quá trình phát triển, tỉnh đã xây dựng và triển khai Kế hoạch hành động ứng phó biến đổi khí hậu giai đoạn 2016 - 2020, tuy nhiên với điều kiện hạn chế, khó khăn tỉnh chưa thể hoàn thành tốt và đầy đủ các nhiệm vụ, giải pháp đặt ra. Nhân chuyến thực địa của Bà Laura Tuck, Bến Tre đề xuất tiếp tục hợp tác, hỗ trợ từ WB qua dự án trọng điểm ứng phó lâu dài - "Đầu tư chống xói lở nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu Bến Tre" và các lĩnh vực khác như:

  •         + Chuyển đổi, phát triển các mô hình sinh kế thích ứng biến đổi khí hậu theo Nghị quyết số 120/NQ-CP ngày 17/11/2017 của Chính phủ về phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long thích ứng biến đổi khí hậu;         
  •         + Đào tạo nguồn nhân lực và nâng cao năng lực cán bộ quản lý;
  •         + Ứng dụng công nghệ thông tin tiên tiến, GIS vào công tác cảnh báo, dự báo; đánh giá tác động;xây dựng cơ sở dữ liệu về biến đổi khí hậu phục vụ công tác quản lý;
  •         + Bảo tồn đa dạng sinh học, phát triển bền vững du lịch sinh thái trong điều kiện biến đổi khí hậu và hợp tác vùng trong chia sẻ, sử dụng bền vững nguồn nước sông Mekong trước thách thức từ biến đổi khí hậu.

Huỳnh Lê Duy Anh - P.QLTN&KTTV, Sở TN&MT

12/12/2017 9:00 SAĐã ban hành
Chương trình hành động số 29 của tỉnh Ủy về thực hiện Nghị quyết số 24 của Ban chấp hành TW ĐảngChương trình hành động số 29 của tỉnh Ủy về thực hiện Nghị quyết số 24 của Ban chấp hành TW Đảng
Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường

​Tải nội dung 1. CHUONG TRINH HANH DONG.PDF

09/01/2017 8:00 SAĐã ban hành
Tác động của biến đổi khí hậu, nước biển dân đến tỉnh Bến Tre theo kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dân Việt Nam năm 2016Tác động của biến đổi khí hậu, nước biển dân đến tỉnh Bến Tre theo kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dân Việt Nam năm 2016
Bộ Tài nguyên và Môi trường đã công bố Kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho Việt Nam năm 2016. Các kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng năm 2016 với mức độ chi tiết đến đơn vị hành chính cấp tỉnh, các đảo, quần đảo và bản đồ nguy cơ ngập do nước biển dâng chi tiết đến cấp huyện. Trước đó, Kịch bản được Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố lần đầu vào năm 2009 và lần thứ hai năm 2012.

Tác động của biến đổi khí hậu, nước biển dân đến tỉnh Bến Tre theo kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dân Việt Nam năm 2016

Bộ Tài nguyên và Môi trường đã công bố Kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho Việt Nam năm 2016. Các kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng năm 2016 với mức độ chi tiết đến đơn vị hành chính cấp tỉnh, các đảo, quần đảo và bản đồ nguy cơ ngập do nước biển dâng chi tiết đến cấp huyện. Trước đó, Kịch bản được Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố lần đầu vào năm 2009 và lần thứ hai năm 2012.

Theo Kịch bản RCP8.5 (tương đương kịch bản A1F1 - kịch bản phát thải cao) của Bộ Tài nguyên và Môi trường đến cuối Thế kỷ XXI: Nhiệt độ của Việt Nam có xu thế tăng rõ rệt, khu vực phía Nam tăng từ 3 ÷ 3,50C, phía Bắc từ 3,3 ÷ 4,00C; Lượng mưa năm tăng từ 5 - 15%, mức tăng nhiều nhất có thể lên đến 20% ở một phần Nam bộ, Tây Nguyên, Trung Trung bộ, hầu hết Bắc Bộ và giá trị trung bình của lượng mưa một ngày lớn nhất có xu thế tăng trên toàn lãnh thổ; Bên cạnh đó là xu hướng tăng số lượng bão mạnh đến rất mạnh; Số ngày nắng nóng (>350C) có xu thế tăng lớn nhất ở khu vực Nam bộ, Nam Trung Bộ và Bắc Trung Bộ; Hạn hán trở nên khắc nghiệt hơn do nhiệt độ tăng và lượng mưa giảm vào mùa khô; Mực nước biển dâng khoảng 77cm ở khu vực biển Đông, mực nước ven biển phía Nam dâng cao hơn phía Bắc, nước biển dâng trung bình cho toàn dãi ven bờ Việt Nam khoảng 73cm (49cm ÷ 103cm); Nước biển dâng 100cm, 38,9% diện tích Đồng bằng sông Cửu Long có nguy cơ ngập.

kich ban nuoc bien dan.jpg

Hình: Bản đồ nguy cơ ngập (vùng đỏ) tỉnh Bến Tre ứng với mực nước biển dâng 100cm

(Nguồn: Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu;http://www.kichbanbdkh.com/)

        Đối với tỉnh Bến Tre, theo Kịch bản RCP8.5, nhiệt độ giai đoạn năm 2016 - 2035 tăng trung bình 0,80C (0,5 ÷ 1,20C), 2046 - 2065 tăng khoảng 1,80C (1,4 ÷ 2,50C) và 2080 - 2099 là 3,30C (2,7 ÷ 4,20C). Bên cạnh đó là xu hướng tăng lượng mưa trung bình: giai đoạn 2016 - 2035 là 14,7% (9,7÷19,8); 2046 - 2065 là 18,1% (11,3÷25,6) và 2080 - 2099 là 21,8% (11,3÷33).

Mặt khác, theo các kịch bản nước biển dâng, Bến Tre là một trong những tỉnh ven biển có nguy cơ ngập cao. Khi mực nước biển dâng 50cm thì 6,21% diện tích tỉnh có nguy cơ ngập, nước biển dâng 80cm là 12,8% và 22,2% khi nước biển dâng 100cm. Trong đó, các huyện có diện tích ngập lớn là Ba Tri (45,91% diện tích), Bình Đại (34,16%), Giồng Trôm (21,06%), Mỏ Cày Nam (17,93%) và thấp nhất là Thành phố Bến Tre (5,7%). Nguy cơ ngập của nước biển dâng chưa tính đến các yếu tố động lực khác như: sự nâng hạ địa chất, thay đổi địa hình; sụt lún do khai thác nước ngầm; ảnh hưởng thủy triều; nước dâng do bão, nước dâng do gió mùa; các công trình thủy điện; các công trình thủy lợi (đê sông, đê biển, đường giao thông,..);…

Năm 2015, Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre đã tiến hành cập nhật Kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho tỉnh dựa trên Kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng Việt Nam năm 2012 và cập nhật số liệu mới đến năm 2014, làm cơ sở khoa học để xây dựng và ban hành Kế hoạch hành động ứng phó biến đổi khí khí hậu và nước biển dâng tỉnh Bến Tre giai đoạn 2016 - 2020.

ngam vung xanh.jpg

Hình: Bản đồ nguy cơ ngập (vùng xanh) ứng với mực nước biển dâng 75cm vào năm 2100

(Nguồn: Kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng tỉnh Bến Tre năm 2016 )





            Kết quả cập nhật Kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng tỉnh Bến Tre đưa ra các dự đoán tương đối phù hợp với Kịch bản của Bộ Tài nguyên và Môi trường năm 2016 về xu hướng tăng nhiệt độ, lượng mưa và vùng có nguy cơ ngập do nước biển dâng trên địa bàn tỉnh. Cụ thể:

            Về nhiệt độ và lượng mưa: nhiệt độ trung bình Bến Tre đến năm 2020 là 27,30 C, nhiệt độ tăng khoảng 10C giai đoạn từ năm 2020 đến 2050; lượng mưa trung bình/năm của tỉnh đến năm 2020 đạt khoảng 1.496mm, lượng mưa có xu hướng tăng đến năm 2050 đạt 1.522mm, mưa tập trung ở khu vực ba huyện biển (Ba Tri, Bình Đại, Thạnh Phú) và một phần huyện Chợ Lách, Châu Thành.

            Về nguy cơ ngập do nước biển dâng: khi nước biển dâng 75cm vào năm 2100 diện tích Bến Tre có nguy cơ ngập chiếm khoảng 29,17% diện tích tỉnh. Các huyện có nguy cơ ngập cao là Ba Tri (49,07% diện tích huyện), Bình Đại (38,70%); Giồng Trôm (31,05%) và Mỏ Cày Nam (26,05%).

                                                                                                                                                          Duy Anh

02/03/2017 5:00 CHĐã ban hành
LÀM CHO THẾ GIỚI SẠCH HƠNLÀM CHO THẾ GIỚI SẠCH HƠN
Ngày 30 tháng 9 năm 2009, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bến Tre phối hợp với Ủy ban nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc tổ chức lễ phát động Chiến dịch Làm cho thế giới sạch hơn năm 2009.



Hiện nay, việc phát triển công nghiệp, các hoạt động canh tác nông nghiệp và chăn nuôi… đang làm tăng nguy cơ gây hiệu ứng nhà kính, đồng thời làm nhiệt độ trái đất ngày càng tăng cao, kèm theo đó làm biến đổi một loạt các đặc trưng của khí hậu. Sự nóng lên của trái đất trên phạm vi toàn cầu đang làm cho thời tiết thay đổi ngày càng khó lường; mực nước biển dâng cao gây xói lở và chìm ngập các vùng đất thấp; bão lũ ngày càng nhiều…, tất cả đang đe dọa đến cuộc sống của chúng ta.
Nhằm góp phần tuyên truyền, nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ môi trường; thúc đẩy mọi tổ chức, cá nhân tham gia tích cực hơn nữa vào việc xây dựng môi trường sống trong lành, sạch đẹp, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, giảm thiểu sự biến đổi khí hậu.
Ngày 30 tháng 9 năm 2009, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bến Tre phối hợp với Ủy ban nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc tổ chức lễ phát động Chiến dịch Làm cho thế giới sạch hơn năm 2009. Chiến dịch làm cho thế giới sạch hơn năm nay nhấn mạnh vai trò của cộng đồng trong việc liên kết để chống lại các ảnh hưởng của biến đổi khí hậu.
Ngay sau lễ mitting phát động để hưởng ứng chiến dịch, lãnh đạo Sở Tài nguyên và Môi trường, Ủy ban nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, Chi cục Kiểm lâm tỉnh, các ban, ngành, đoàn thể huyện; lực lượng đoàn viên, thanh niên, quân đội và dân quân tham gia trồng cây xanh trên tuyến đường từ ngã ba Bền đến ngã ba Cây Trâm; lực lượng học sinh tham gia diễu hành làm 02 hướng: 01 hướng từ trụ sở Ủy ban nhân dân huyện đến ngã ba Bền và 01 hướng từ Ủy ban nhân dân huyện đến ngã ba Cây Trâm và đội vệ sinh của huyện tham gia quét dọn trên tuyến đường trồng cây xanh và xung quanh chợ Ba Vát.
Để thiết thực hưởng ứng Chiến dịch Làm cho thế giới sạch hơn năm nay, Sở Tài nguyên và Môi trường đề nghị ban, ngành, đoàn thể các cấp; Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố tổ chức các hoạt động hưởng ứng chiến dịch với các nội dung chính sau:
Tập trung giải quyết các vấn đề búc xúc về ô nhiễm môi trường của ngành, địa phương, đơn vị. Tăng cường kiểm tra, thanh tra và kiên quyết xử lý kịp thời các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, yêu cầu các cơ sở sản xuất phải chủ động đầu tư và vận hành thường xuyên có hiệu quả hệ thống xử lý nước thải, chất thải đảm bảo tiêu chuẩn môi trường.
Tổ chức các hoạt động mít tinh, kêu gọi, vận động nhân dân tham gia làm vệ sinh môi trường ở các khu vực đông dân cư, làng nghề, khu công nghiệp, lưu vực sông, xây dựng mới các công trình cấp nước sạch, công trình bảo vệ môi trường như trồng cây xanh, trồng rừng, xây dựng trạm xử lý nước thải, chất thải rắn…
Tổ chức các hoạt động nâng cao nhận thức cộng đồng về nguyên nhân và hậu quả của ô nhiễm môi trường, của biến đổi khí hậu tới phát triển kinh tế, xã hội và sức khỏe con người, đặc biệt là đối với Việt Nam; hướng cộng đồng tự giác hạn chế sử dụng nguồn nguyên, nhiên liệu có phát sinh khí thải gây hiệu ứng nhà kính, gây biến đổi khí hậu; tạo thói quen tự giác tham gia các hoạt động, phong trào bảo vệ môi trường, sử dụng tiết kiệm nguồn tài nguyên thiên nhiên không tái tạo, khuyến khích sử dụng các nguồn năng lượng tái tạo như năng lượng mặt trời, gió…
Treo băng rôn, khẩu hiệu, panô, áp phích tuyên truyền về chủ đề bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu tại công sở, trường học, bệnh viện, khu đông dân cư, đường phố nhằm nhắc nhở mọi người cùng hành động bảo vệ môi trường.
Chủ đề của Chiến dịch Làm cho thế giới sạch hơn năm nay là: Cộng đồng liên kết chống lại biến đổi khí hậu.
Chiến dịch Làm cho thế giới sạch hơn do Australia khởi xướng từ năm 1993 và được Chương trình Môi trường Liên hợp quốc phát động trên quy mô toàn thế giới. Chiến dịch là dịp để mọi người dân cùng tham gia vào các hoạt động như trồng cây, giáo dục cộng đồng, phòng ngừa suy thoái, tuyên truyền, cổ động bảo vệ môi trường.
Việt Nam đã tham gia và tổ chức nhiều hoạt động thiết thực hưởng ứng Chiến dịch Làm cho thế giới sạch hơn từ năm 1994. Ngày 20 tháng 9 năm 2009, Bộ Tài nguyên và Môi trường phối hợp với Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, Đại sứ quán Australia tại Việt Nam và Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ tổ chức Lễ phát động quốc gia hưởng ứng Chiến dịch Làm cho thế giới sạch hơn tại thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

Mai Hanh



29/09/2009 12:00 SAĐã ban hành
BÀN GIAO FILE BẢN ĐỒ QUY HOẠCHBÀN GIAO FILE BẢN ĐỒ QUY HOẠCH
Ngày 08/01/2007, Trung tâm Thông tin thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường đã tiến hành bàn giao file bản đồ quy hoạch



- Ngày 08/01/2007, Trung tâm Thông tin thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường đã tiến hành bàn giao files bản đồ quy hoạch đô thị Thị xã Bến Tre cho Phòng Tài nguyên và Môi trường Thị xã. Các files bản đồ này trước đây do Sở Xây dựng thực hiện trên phần mềm Autocad(*.dwg) nên chưa tham chiếu trực tiếp được đến các thửa đất trên bản đồ địa chính. Từ tháng 9-2004, Trung tâm Thông tin Tài nguyên và Môi trường tiếp nhận các files bản đồ này và biên tập, chồng ghép lên bản đồ địa chính trên phần mềm chuyên ngành địa chính là Microstation(*.dgn) để xác nhận thông tin quy hoạch được đến từng thửa đất cho người sử dụng đất.


- Trong thời gian tới, Sở Tài nguyên và Môi trường sẽ có kế hoạch biên tập, chồng ghép các files bản đồ quy hoạch xây dựng đã hoàn thành ở các thị trấn, khu dân cư, khu đô thị mới… lên bản đồ địa chính để chuyển giao cho các địa phương thực hiện công tác quản lý nhà nước về đất đai được hiệu quả vì mục đích phục vụ nhân nhân ngày càng tốt hơn./.


Trung tâm Thông tin



19/09/2007 12:00 SAĐã ban hành
Công văn về việc Thông báo lô hàng phế liệu nhập khẩu để kiểm tra, thông quan cảng nhập Cát LáiCông văn về việc Thông báo lô hàng phế liệu nhập khẩu để kiểm tra, thông quan cảng nhập Cát Lái
Công văn 2244/STNMT-CCBVMT về việc Thông báo lô hàng phế liệu nhập khẩu để kiểm tra, thông quan cảng nhập Cát Lái

Tải nội dung văn bản: 2244_STNMT_CCBVMT_2018.pdf

27/08/2018 9:00 SAĐã ban hành
Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 39-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá XII Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 39-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá XII
Công văn số 41-Ctr/TU ngày 17 tháng 4 năm 2019 của Tỉnh uỷ Bến Tre về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 39-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá XII về nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác, sử dụng và phát huy các nguồn lực của nền kinh tế.
23/04/2019 10:00 SAĐã ban hành
HỎI ĐÁP PHÁP LUẬT VỀ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNGHỎI ĐÁP PHÁP LUẬT VỀ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
<html><br /><body><br /><div align=justify><br /><center><b><font color=0000ff size=3>Góp phần tháo gỡ vướng mắc xung quanh thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất</font></b></center><p><br /><font color=#0000ff size=2><dd>Việc sử dụng đất và xúc tiến thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là vấn đề hệ trọng, có liên quan mật thiết đến quyền lợi và nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức, ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển kinh tế-xã hội, bảo vệ và phát triển môi trường bền vững. Để đáp ứng nhu cầu quản lý và tìm hiểu các quy định của pháp luật về đất đai, trên cơ sở nội dung phản ánh trong các buổi Giao lưu trực tuyến giữa Bộ Tài nguyên và Môi trường với người sử dụng đất; tổng hợp từ các yêu cầu, đề nghị, hướng dẫn, giải đáp pháp luật của các địa phương, và thực tiễn kiểm tra, thực hiện pháp luật tài nguyên và môi trường trong thời gian qua, Sở Tài nguyên và Môi trường Bến Tre có chọn lọc lại nhiều trường hợp điển hình, thường xảy ra để người sử dụng đất tham khảo, vận dụng vào thực tiễn.<br /><p></font><br /><b><font color=#AD591D size=2><li><u>1. Câu hỏi số 104:</u></li></font></b><p><br /><font color=#330099 size=2><dd><b><i>Tôi được Cơ quan (Doanh nghiệp Nhà nước) cấp cho gần 140 m2 đất để làm nhà ở từ năm 1990. Năm 2000, tôi xin làm giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất, được UBND phường xác nhận không tranh chấp, không vướng quy hoạch. Sau đó được tổ 60 CP-Cục thuế tính số tiền phải nộp là gần 27 triệu đồng (20% giá đất). Do chưa có tiền nộp nên cuối năm 2003, tôi liên hệ lại, thì được thông báo phải nộp gần 90 triệu đồng (40% giá đất) như vậy có đúng không? Được biết hiện nay các trường hợp như của tôi, đều được hợp thức hóa và không phải nộp thuế đất?</i></b><p></font><br /><b><font color=#AD591D size=2><li><u>Trả lời:</u></li></font></b><p><br /><font color=#330099 size=2><dd> Câu hỏi của Bạn chưa nói rõ nguồn tiền để làm nhà ở. Trường hợp Bạn tự bỏ tiền để xây dựng nhà ở thì Bạn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 4 Điều 50 Luật Đất đai năm 2003 và Bạn không phải nộp tiền sử dụng đất. Trường hợp nhà ở được xây dựng từ nguồn kinh phí của Nhà nước thì Bạn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Nghị định số 61/CP ngày 05/7/1994 của Chính phủ về mua bán và kinh doanh nhà ở; Bạn phải nộp 40% tiền sử dụng đất.<p></font><br /><b><font color=#AD591D size=2><li><u>2. Câu hỏi số 105:</u></li></font></b><p><br /><font color=#330099 size=2><dd><b><i>Tôi dự định mua đất ở để xây nhà, người bán cho  biết đây là đất tổ tiên, giấy tờ mua bán được viết tay (không có công chứng). Nếu tôi xin xây dựng trước và sau này làm giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà có được không? Và cách đóng thuế ra sao? Nếu sau này Nhà nước qui hoạch vào phần đất này thì tôi có được đền bù không?</i></b><br /><p></font><br /><b><font color=#AD591D size=2><li><u>Trả lời:</u></li></font></b><p><br /><font color=#330099 size=2><dd>Theo quy định của pháp luật về xây dựng, để được cấp giấy phép xây dựng, người sử dụng đất phải xuất trình giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Như vậy, thửa đất phải được cấp giấy chứng nhận sau đó mới được xem xét để được cấp giấy phép xây dựng.<br /><dd>Người nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất muốn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải đóng thuế chuyển quyền sử dụng đất, lệ phí trước bạ và lệ phí địa chính. Trường hợp đất thuộc khu vực chưa có quy hoạch thì sau này khi Nhà nước thu hồi, người sử dụng đất được bồi thường, hỗ trợ tái định cư. Trường hợp đất tại vùng quy hoạch thì chỉ được bồi thường về đất, không được bồi thường về nhà nếu nhà xây dựng sau khi quy hoạch được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và công bố.<p></font><br /><b><font color=#AD591D size=2><li><u>3. Câu hỏi số 106:</u></li></font></b><p><br /><font color=#330099 size=2><dd><b><i>Tôi có 1 mảnh đất 200m2 có nguồn gốc đất là nông nghiệp đã kê khai và đã nộp đầy đủ thuế nhà đất từ trước ngày 15/10/1993 nhưng còn để đất trống. Nay tôi làm đơn xin cấp cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở thì đất đó có được xem là ở ổn định và có được cấp cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở không? nếu được cấp thì tôi phải nộp những loại thuế nào cho Nhà nước?</i></b><p></font><br /><b><font color=#AD591D size=2><li><u>Trả lời:</u></li></font></b><p><br /><font color=#330099 size=2><dd>Việc chuyển mục đích sử dụng đất phải phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xét duyệt. Trường hợp thửa đất của Bạn phù hợp với các quy hoạch và kế hoạch đã được xét duyệt thì Bạn phải thực hiện thủ tục xin chuyển mục đích sử dụng đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khi được UBND cấp huyện nơi có đất cho phép bạn được chuyển mục đích sử dụng đất sang đất ở và Bạn thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước gồm: tiền sử dụng đất (tiền chuyển mục đích sử dụng đất), lệ phí trước bạ, lệ phí địa chính thì Bạn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở. Bạn có thể đến phòng Tài nguyên và Môi trường cấp huyện nơi có đất để được hướng dẫn chi tiết các thủ tục nêu trên.<p></font><br /><b><font color=#AD591D size=2><li><u>4. Câu hỏi số 107:</u></li></font></b><p><br /><font color=#330099 size=2><dd><b><i>Gia đình tôi hiện đã được UBND Thị xã cấp GCNQSDĐ theo hạn mức đất ở là 350m2 trong tổng diện tích 700m2. Số diện tích đất vườn còn lại được xác định là tạm giao. Tôi được biết có quy định: “Nếu hộ gia đình đã được cấp GCNQSDĐ mà nay có nhu cầu chuyển mục đích sử dụng đất của diện tích đất vườn, ao liền kề đất ở trong khu vực dân cư thì không phải nộp tiền sử dụng đất”. Sau khi trực tiếp hỏi cán bộ phòng Tài nguyên và Môi trường thì được trả lời: UBND Thị xã chưa có chủ trương thực hiện quy định này tại địa phương. Vậy cách giải thích này có căn cứ không? Và phải chăng chủ trương này chỉ được thực hiện tại một số địa phương nhất định?</i></b> <p></font><br /><b><font color=#AD591D size=2><li><u>Trả lời:</u> </li></font></b><p><br /><font color=#330099 size=2><dd>Diện tích 350m2 còn lại có phải là đất vườn hay không, phải căn cứ vào quy định của UBND tỉnh về hạn mức công nhận đất ở thì khi chuyển từ vườn sang xây dựng nhà ở thì không phải nộp tiền sử dụng đất; trường hợp 350m2 (vườn) không được công nhận là ở thì khi chuyển mục đích sang xây dựng nhà ở phải nộp tiền sử dụng đất bằng 50% chênh lệch giữa thu tiền sử dụng đất tính theo giá đất ở với thu tiền sử dụng đất tính theo giá đất nông nghiệp.<p></font><br /><b><font color=#AD591D size=2><li><u>5. Câu hỏi số 108:</u> </li></font></b><p><br /><font color=#330099 size=2><dd><b><i>Do khó khăn về nhà ở, vợ chồng tôi được UBND tỉnh bán cho một lô đất. Quyết định giao đất chỉ ghi tên 2 vợ chồng tôi; trong khi đó, bố tôi là thương binh hạng ¾ đang sống chung cùng chúng tôi. Vậy theo Pháp lệnh về người có công với cách mạng và Luật Đất đai năm 2003, vợ chồng tôi có được miễn, giảm việc nộp tiền sử dụng đất không?</i></b> <p></font><br /><b><font color=#AD591D size=2><li><u>Trả lời:</u></li></font></b><p><br /><font color=#330099 size=2><dd>Trong trường hợp chỉ có hai vợ chồng Bạn được giao đất ở thì không được hưởng chế độ miễn, giảm tiền sử dụng đất của bố đẻ của Bạn. Nếu đất ở được giao cho hộ gia đình của Bạn (trong hộ bao gồm cả bố đẻ của Bạn)  thì chế độ miễn, giảm tiền sử dụng đất đối với bố đẻ của Bạn cũng được tính trừ vào số tiền sử dụng đất mà gia đình Bạn phải nộp. <p></font><br /><b><font color=#AD591D size=2><li><u>6. Câu hỏi số 109:</u> </li></font></b><p><br /><font color=#330099 size=2><dd><b><i>Đất trước đây được Nhà nước cấp đất để sản xuất nông nghiệp cho tổ chức. Sau đó, tổ chức lại phân chia đất ở cho cán bộ công nhân viên đã làm nhà ở ổn định trước 15/10/1993. Nay đăng ký quyền sử dụng đất có phải nộp tiền sử dụng đất?</i></b><p></font><br /><b><font color=#AD591D size=2><li><u>Trả lời:</u> </li></font></b><p><br /><font color=#330099 size=2><dd>Trường hợp này, theo quy định của pháp luật hiện hành thì tổ chức phải bàn giao khu đất đã chia cho cán bộ công nhân viên ở cho chính quyền địa phương quản lý. Nếu phù hợp quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng, không có tranh chấp, được UBND cấp xã nơi có đất xác nhận sử dụng đất ổn định trước ngày 15/10/1993 thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất trong thời hạn mức giao đất theo quy định của UBND tỉnh.<p></font><br /><b><font color=#AD591D size=2><li><u>6. Câu hỏi số 59:</u> </li></font></b><p><br /><font color=#330099 size=2><dd><b><i> Phương pháp nhận dạng sổ đỏ thật và giả </i></b><p></font><br /><b><font color=#AD591D size=2><li><u>Trả lời:</u> </li></font></b><p><br /><font color=#330099 size=2><dd>Để thống nhất quản lý về GCNQSDĐ và ngăn ngừa các trường hợp làm giả GCNQSDĐ, Bộ TN & MT đã ban hành Quyết định số 08/2006/QĐ-TNMT ngày 21 tháng 7 năm 2006 ban hành Quy định về GCNQSDĐ (thay thế Quyết định số 24/2004/QĐ-BTNMT ngày 01 tháng 11 năm 2004 ban hành Quy định về GCNQSDĐ). Theo đó GCNQSDĐ được in bằng loại giấy đặc biệt, có số sê-ri phát hành thống nhất trên phạm vi toàn quốc và dấu nổi của Bộ TN & MT.<br /><dd>Để tránh việc làm giả GCNQSDĐ, mọi giao dịch về QSDĐ phải được công chứng tại Phòng công chứng hoặc chứng thực tại UBND xã, Thị trấn nơi có đất và phải đăng ký tại các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật, gồm: Văn phòng đăng ký QSDĐ thuộc Sở TN & MT, Văn phòng đăng ký QSDĐ thuộc Phòng Tài Nguyên và Môi Trường (nơi chưa có Văn phòng Đăng ký QSDĐ thì thực hiện tại Phòng Tài Nguyên và Môi Trường) nơi có đất. Các cơ quan nêu trên khi thực hiện công chứng, chứng thực hoặc đăng ký các giao dịch có trách nhiệm kiểm tra GCNQSDĐ và đối chiếu với hồ sơ địa chính gốc đang lưu giữ để xác nhận tính hợp pháp của GCNQSDĐ.<p></font><br /><b><font color=#AD591D size=2><li><u>8. Câu hỏi số 62:</u></li></font></b><p><br /><font color=#330099 size=2><dd><b><i>Xin cho biết thế nào gọi là đất công? Vì hiện nay thường các cơ quan chính quyền, nhà đất lạm dụng từ này làm khó dân chúng. Việc địa phương tiếp tục quy định có hộ khẩu thì mới được cấp giấy tờ nhà đất có đúng không?</i></b><p></font><br /><b><font color=#AD591D size=2><li><u>Trả lời:</u></li></font></b><p><br /><font color=#330099 size=2><dd>Theo qui định của pháp luật về đất đai, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý.Vì vậy, không có sở hữu tư nhân về đất đai nên không còn khái niệm “đất tư”, mà đất đai ở nước ta thuộc sở hữu toàn dân nên cũng có thể gọi toàn bộ vốn đất đai quốc gia dù đã giao để cho thuê hay chưa được giao, cho thuê cho bất kỳ tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nào sử dụng đều là “đất công”. Trong thực tế hiện nay, thuật ngữ “đất công” hay được sử dụng ở các tỉnh phía Nam nhằm đề cập tới khái niệm “công điền, công thổ” được sử dụng trong các văn bản pháp luật về đất đai của chế độ cũ. Mặt khác, tại các  tỉnh miền Bắc, miền Trung, thuật ngữ “đất công” còn được sử dụng để đề cập đến khái niệm “đất công ích”. Trong pháp luật hiện hành về đất đai chỉ có khái niệm đất được sử dụng vào mục đích gì và do ai sử dụng chứ không có thuật ngữ “đất công”.<br /><dd>Như vậy, việc sử dụng thuật ngữ “đất công” để áp dụng pháp luật là không đúng. Theo qui định của pháp luật về đất đai thì khi cấp GCNQSDĐ không có điều kiện về hộ khẩu thường trú. Việc quy định phải có hộ khẩu thường trú mới cấp GCNQSDĐ là không phù hợp với quy định của pháp luật.<br /><i>(Nguồn: Hỏi đáp pháp luật về tài nguyên và môi trường - Bộ TNMT-Nhà xuất bản bản đồ )</i><p></font><br /><div align=right><b>Phòng QLĐĐ</b></div><br /></div><br /></body><br /></html>
26/08/2008 12:00 SAĐã ban hành
Tình hình thu nộp phí bảo vệ môi trường đối với nước thải  trên địa bàn tỉnh Bến Tre năm 2016Tình hình thu nộp phí bảo vệ môi trường đối với nước thải  trên địa bàn tỉnh Bến Tre năm 2016
Căn cứ Nghị định số 25/2013/NĐ-CP ngày 29 tháng 3 năm 2013 của Chính phủ về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải, để báo cáo kết quả thu nộp phí đến Ủy ban nhân dân tỉnh, Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng như thông tin đến đối tượng nộp phí biết, Sở Tài nguyên và Môi trường tổng hợp kết quả thu nộp phí bảo vệ môi trường đối với nước thải trên địa bàn tỉnh năm 2016

         Căn cứ Nghị định số 25/2013/NĐ-CP ngày 29 tháng 3 năm 2013 của Chính phủ về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải, để báo cáo kết quả thu nộp phí đến Ủy ban nhân dân tỉnh, Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng như thông tin đến đối tượng nộp phí biết, Sở Tài nguyên và Môi trường tổng hợp kết quả thu nộp phí bảo vệ môi trường đối với nước thải trên địa bàn tỉnh năm 2016.

19.6.ThuNopPhi_BVMT_01.png19.6.ThuNopPhi_BVMT_02.png
​ ​Nước thải từ các cơ sở sản xuất và chăn nuôi thuộc đối tượng phải nộp phí bảo vệ môi trường (Ảnh Minh Trí)

Về tình hình nộp phí bảo vệ môi trường đối với nước thải sinh hoạt: Trong năm 2016, Trung tâm nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh Bến Tre và Công ty Cổ phần Cấp thoát nước Bến Tre đã thực hiện thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải sinh hoạt của các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh với số tiền 5.101.798.945 đồng, trong đó đã nộp vào ngân sách nhà nước với số tiền 4.591.619.051 đồng, số phí được giữ tại đơn vị là 510.179.894 đồng.

Về tình hình nộp phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp: Sở Tài nguyên và Môi trường đã tổ chức thực hiện thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp đối với các tổ chức, cá nhân thuộc đối tượng lập báo cáo đánh giá tác động môi trường, đề án bảo vệ môi trường chi tiết với số tiền 602.692.500 đồng, trong đó đã nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 482.154.000 đồng và giữ tại đơn vị số tiền 120.538.500 đồng; Phòng Tài nguyên và Môi trường các huyện, thành phố (Chợ Lách, Mỏ Cày Nam, Giồng Trôm, Ba Tri và thành phố Bến Tre) đã tổ chức thực hiện thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp đối với các tổ chức, cá nhân thuộc đối tượng lập bản cam kết bảo vệ môi trường, đề án bảo vệ môi trường đơn giản với số tiền 1.187.663.632 đồng, trong đó đã nộp vào ngân sách nhà nước số tiền là 978.692.771 đồng và giữ tại các đơn vị số tiền là 208.970.861 đồng.

Việc thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải được các địa phương, đơn vị nghiêm túc triển khai, số phí nộp vào ngân sách nhà nước cũng như số phí được giữ lại tại cơ quan thu phí được sử dụng đúng mục đích và theo quy định; việc kiểm tra thu mẫu nước thải của các cơ sở phục vụ công tác thẩm định tờ khai nộp phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp được thực hiện theo quy định.

Bên cạnh những mặt đạt được, công tác thu phí cũng còn gặp không ít khó khăn như: các cơ sở, hộ chăn nuôi chưa nhận thức đúng và đầy đủ trách nhiệm của mình trong việc kê khai cũng như nộp phí bảo vệ môi trường đối với nước thải do cơ sở thải ra; các đơn vị cung cấp nước sạch trên địa bàn tỉnh chưa thực hiện đóng phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp theo quy định dù được thông báo nhiều lần; việc kê khai lượng nước thải trung bình trong quý tính phí chủ yếu căn cứ vào số liệu do cơ sở cung cấp, đôi khi chưa đảm bảo tính khách quan; việc kê khai và nộp tờ khai nộp phí của các cơ sở chưa đúng thời gian quy định; tuy việc thu phí nước thải đã được triển khai từ năm 2014 nhưng vẫn còn một số địa phương chưa thực hiện việc thu phí nước thải đối với các đối tượng phải nộp phí theo quy định; công tác truyền thông, tuyên truyền nâng cao nhận thức trách nhiệm của người dân trong việc kê khai, nộp phí bảo vệ môi trường đối với nước thải tại một số địa phương chưa được triển khai hoặc triển khai nhưng không đạt hiệu quả.

Ngày 01 tháng 01 năm 2017, Nghị định số 154/2016/NĐ-CP ngày 16/11/2016 của Chính phủ về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải chính thức có hiệu lực thi hành. Để công tác thu nộp phí bảo vệ môi trường đối với nước thải trên địa bàn tỉnh năm 2017 đạt hiệu quả thì trong thời gian tới các ngành, các cấp cần tăng cường tuyên truyền, nâng cao nhận thức của các cơ sở trong việc thực hiện kê khai và nộp phí bảo vệ môi trường đối với nước thải theo quy định.


Nguyễn Minh Trí


22/06/2017 8:00 SAĐã ban hành
1 - 30Tiếp
Ảnh
Video
SỞ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG TỈNH BẾN TRE
Chịu trách nh​iệm chính: Ông Nguyễn Văn Chinh - Chức vụ: Giám đốc Sở TN và MT | Giấy phép số: 139/GP - BC, ngày 16 tháng 4 năm 2007
Địa chỉ trụ sở: Số 01 - Trần Quốc Tuấn - Phường 2 - Thành phố Bến Tre - Tỉnh Bến Tre
Điện thoại: 0275.3822210 - 0275.3211494 - Fax: 0275.3813176; Email: stnmt@bentre.gov.vn