Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksTin tức sự kiện

 
Tin tức sự kiện - Biến đổi khí hậu
 
“Chúng ta có thể giảm lũ lụt, hạn hán và ô nhiễm nước như thế nào? Bằng cách sử dụng các giải pháp chúng ta tìm thấy trong thiên nhiên”. Đó là thông điệp ngày Nước thế giới năm 2018 mà Ủy ban về nước của Liên hiệp quốc (UN-Water) muốn gửi đến chúng ta. 
 
Ban chỉ đạo đánh giá công tác ứng phó đạt được những kết quả khả quan trong nâng cao nhận thức và các công trình trọng điểm 
 
Ngày 8 tháng 12 năm 2017, Đoàn WB do Bà Laura Tuck - Phó chủ tịch phụ trách phát triển bền vững làm trưởng Đoàn đã có chuyến thực tế tại tỉnh Bến Tre. Ông Cao Văn Trọng - Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh và Lãnh đạo các Sở: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tài nguyên và Môi trường tiếp và làm việc với Đoàn 
Hội nghị tập huấn nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu trong hoạt động sản xuất sinh vật cảnh 
 
 
Ngày 18 tháng 8 năm 2017, tại Thành phố Hồ Chí Minh, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tổ chức Hội nghị tập huấn triển khai thực hiện Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu 
 
Ngày 14 tháng 7 năm 2017, Sở Tài nguyên và Môi trường tổ chức cuộc họp các thành viên Tổ giúp việc cho Ban Chỉ đạo ứng phó biến đổi khí hậu tỉnh Bến Tre định kỳ 06 tháng (lần 01) năm 2017 
 
Ngày 15 tháng 3 năm 2017, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định số 543/QĐ-BCĐBĐKH của Trưởng Ban chỉ đạo - Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh về Quy chế hoạt động của Ban Chỉ đạo ứng phó với biến đổi khí hậu tỉnh Bến Tre 
 
Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Công văn số 964/UBND-KT ngày 14 tháng 03 năm 2017 thực hiện Thỏa thuận Paris ở Bến Tre 
 
Bản đồ ngập nguy cơ ngập của tỉnh Bến Tre theo kịch bản 2016 của Bộ Tài nguyên và Môi trường 
 
Bản đồ theo Kịch bản Biến đổi khí hậu và nước biển dâng tỉnh Bến Tre 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
Báo cáo Đánh giá tác động môi trường của "Dự án quản lý nước tỉnh Bến Tre"Báo cáo Đánh giá tác động môi trường của "Dự án quản lý nước tỉnh Bến Tre"
Nội dung báo cáo Đánh giá tác động môi trường của "Dự án quản lý nước tỉnh Bến Tre"

Tải nội dung báo cáo: BAO_CAO_DANH_GIA_TAC_DONG_MOI_TRUONG.rar

01/12/2016 3:00 CHĐã ban hành
Hai Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường mớiHai Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường mới
Ngày 07 tháng 10 năm 2009, Bộ Tài nguyên và Môi trường ký Thông tư số 16/2009/TT-BTNMT ban hành 02 Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường:



1. QCVN 05:2009/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng không khí xung quanh.
Quy chuẩn này qui định giá trị giới hạn các thông số cơ bản, gồm lưu huỳnh đioxit (SO2), cacbon monoxit (CO), nitơ oxit (NOX) ôzôn (O3), bụi lơ lửng, bụi PM10 (bụi £ 10mm) và chì (Pb) trong không khí xung quanh; áp dụng để đánh giá chất lượng không khí xung quanh và giám sát tình trạng ô nhiễm không khí; không áp dụng để đánh giá chất lượng không khí trong phạm vi cơ sở sản xuất hoặc không khí trong nhà.
Qui chuẩn này áp dụng thay thế tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5937:2005 - Chất lượng không khí - Tiêu chuẩn chất lượng không khí xung quanh ban hành kèm theo Quyết định số 22/2006/QĐ-BTNMT ngày 18 tháng 12 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường bắt buộc áp dụng các tiêu chuẩn Việt Nam về môi trường.
2. QCVN 06:2009/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về một số chất độc hại trong không khí xung quanh.
Quy chuẩn này qui định nồng độ tối đa cho phép của một số chất độc hại trong không khí xung quanh; áp dụng để đánh giá chất lượng không khí xung quanh và giám sát tình trạng ô nhiễm không khí; không áp dụng để đánh giá chất lượng không khí trong phạm vi cơ sở sản xuất hoặc không khí trong nhà.
Qui chuẩn này áp dụng thay thế tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5938:2005 - Chất lượng không khí - Nồng độ tối đa cho phép của một số chất độc hại trong không khí xung quanh ban hành kèm theo Quyết định số 22/2006/QĐ-BTNMT ngày 18 tháng 12 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường bắt buộc áp dụng các tiêu chuẩn Việt Nam về môi trường.
Trường hợp các tiêu chuẩn quốc gia hoặc quốc tế về phương pháp phân tích viện dẫn trong 02 Quy chuẩn này sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế thì áp dụng theo văn bản mới.
Hai Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2010.

Bạn xem Thông tư tại đây.

Mai Hanh



09/11/2009 12:00 SAĐã ban hành
BÁO CÁO QUAN TRẮC MÔI TRƯỜNG TỈNH BẾN TREBÁO CÁO QUAN TRẮC MÔI TRƯỜNG TỈNH BẾN TRE
Bến Tre là một tỉnh nằm ở phía Đông vùng đồng bằng sông Cửu Long và nằm ở giữa 2 nhánh của sông Tiền Giang, đây là nhánh chính của sông Mekong. Bến Tre có diện tích tự nhiên là 236.062 km², chiếm 5,84% diện tích vùng ĐBSCL. Hệ thống kênh rạch trong tỉnh chằng chịt, thuận lợi cho giao thông thủy lợi và là nguồn tài nguyên nước dồi dào quanh năm phục vụ phát triển nông nghiệp. Do là một tỉnh ven biển, chịu ảnh hưởng của chế độ thủy triều nên vấn đề xâm nhập mặn vào nội đồng đang là một vấn đề được sự quan tâm của tỉnh.



Cùng với công cuộc đổi mới đất nước và các chính sách đầu tư phát triển, Bến Tre đã cụ thể hóa và ban hành một số chính sách ưu đãi, thu hút đầu tư với chủ trương huy động mọi nguồn lực để tăng tốc đầu tư phát triển nhằm đưa Bến Tre nhanh chóng hòa nhập với các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, tạo đà phát triển về các mặt kinh tế xã hội và đảm bảo an ninh quốc phòng cho toàn vùng.

Quá trình phát triển kinh tế xã hội và đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa bên cạnh việc mang lại những thành tựu kinh tế xã hội nhất định, đồng thời cũng đang làm thay đổi dần chất lượng môi trường tại tỉnh Bến Tre. Tình hình ô nhiễm môi trường trên địa bàn tỉnh Bến Tre diễn biến theo chiều hướng ngày càng phức tạp hơn, nhiều vấn đề môi trường bức xúc xảy ra tại các khu dân cư, nơi công cộng. Tình trạng ô nhiễm môi trường từ rác thải, nước thải sinh hoạt dân cư đô thị, nước thải sản xuất còn diễn ra thường xuyên gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng xấu tới sức khỏe cộng đồng và mỹ quan đô thị, làm phát sinh ngày càng tăng các trường hợp khiếu nại tố cáo của người dân về môi trường. Do đó, công tác quan trắc môi trường, đánh giá hiện trạng môi trường, giám sát, theo dõi diễn biến chất lượng môi trường, kịp thời phát hiện, cảnh báo ô nhiễm môi trường là vấn đề cần phải thực hiện, đặc biệt là tại các khu vực, nơi có nguồn phát sinh chất thải cao như khu/cụm công nghiệp, khu đô thị, chợ, khu dân cư tập trung …

Quan trắc môi trường là hoạt động then chốt, không thể thiếu trong công tác quản lý và bảo vệ môi trường. Luật Bảo vệ môi trường năm 1993 đã quy định rõ nội dung quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trong đó có việc tổ chức, xây dựng, quản lý hệ thống quan trắc môi trường ở phạm vi quốc gia. Luật Bảo vệ môi trường sửa đổi năm 2005 đã dành hẳn một chương (chương X) quy định về quan trắc và thông tin môi trường. Ở nước ta, công tác quy hoạch và thực hiện hệ thống mạng lưới quan trắc môi trường ở cấp trung ương, khu vực và vùng đang được triển khai theo Quyết định số 16/2007/QĐ-TTg ngày 29/01/2007 của Thủ tướng Chính phủ V/v Phê duyệt “Quy hoạch tổng thể mạng lưới quan trắc tài nguyên và môi trường quốc gia đến năm 2020”, trong đó mạng lưới quan trắc môi trường quốc gia đặt trên địa bàn các địa phương, sẽ ngày càng được quan tâm chú trọng phát triển hoàn chỉnh. Có thể nói đây là một quyết định cực kỳ quan trọng mang lại bước đổi mới thật sự trong tư duy và thực thi của công tác điều tra, giám sát tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường ở nước ta với sự tham gia của các cấp, các ngành quốc gia và địa phương. Với quyết định này, Chính phủ đã thể hiện mạnh mẽ quyết tâm thực hiện việc quản lý chặt chẽ tài nguyên thiên nhiên, BVMT trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Do vậy, để có phương hướng bảo vệ môi trường hợp lý, mỗi năm Trung tâm Quan trắc Môi trường tiến hành quan trắc môi trường 02 lần, lần 1 vào đầu mùa mưa và lần 2 vào đầu mùa khô. Kể từ năm 2013, những kết quả phân tích có được từ các lần quan trắc này sẽ được phổ biến cho cộng đồng thông qua website của Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh Bến Tre.

Tải file Kết quả quan trắc môi trường tỉnh Bến Tre lần 1 năm 2013.
Tải file Kết quả quan trắc môi trường tỉnh Bến Tre lần 2 năm 2013.


13/09/2013 12:00 SAĐã ban hành
Kế hoạch nâng cao năng lực ứng phó biến đổi khí hậu tỉnh Bến Tre 2016 - 2020Kế hoạch nâng cao năng lực ứng phó biến đổi khí hậu tỉnh Bến Tre 2016 - 2020
Kế hoạch 4616/KH-UBND ngày 05 tháng 9 năm 2016 của UBND tỉnh nâng cao năng lực ứng phó biến đổi khí hậu tỉnh Bến Tre giai đoạn 2016 - 2020

​Tải nội dung: 6. KE HOACH 4616.pdf

09/01/2017 9:25 SAĐã ban hành
Hưởng ứng Chiến dịch làm cho Thế giới sạch hơn năm 2011Hưởng ứng Chiến dịch làm cho Thế giới sạch hơn năm 2011
Ngày 17-9, tại trường THPT Trương Vĩnh Ký, xã Vĩnh Thành huyện Chợ Lách tỉnh Bến Tre, Sở Tài nguyên và Môi trường đã phối hợp với Ủy ban nhân dân huyện Chợ Lách tổ chức ra quân hưởng ứng Chiến dịch làm cho Thế giới sạch hơn năm 2011.



Chiến dịch làm cho thế giới sạch hơn được khởi xướng bởi một nhà xây dựng, đồng thời là một vận động viên đua thuyền người Australia khởi xướng từ năm 1993 và được Chương trình Môi trường Liên hợp quốc phát động trên phạm vi toàn cầu. Được tổ chức vào tuần thứ 3 của tháng 9 hàng năm nhằm góp phần giảm thiểu một số nguyên nhân dẫn đến sự biến đổi khí hậu. Chiến dịch đã trở thành một trong những sự kiện môi trường quốc tế thường niên quan trọng, thu hút sự tham gia hưởng ứng của hàng trăm triệu người và hơn 120 quốc gia trên thế giới. Chiến dịch là dịp quy tụ các doanh nghiệp, nhóm cộng đồng, cá nhân và các quốc gia trên toàn cầu cùng tham gia các hoạt động và chương trình cải thiện, bảo vệ môi trường như trồng cây, phục hồi tài nguyên, giáo dục cộng đồng, tổ chức cuộc thi, triển lãm về môi trường, thu gom, xử lý và tái chế chất thải …
Với chủ đề: "Nơi sinh sống của chúng ta... Hành tinh của chúng ta... trách nhiệm của chúng ta", chiến dịch năm nay nhằm cảnh báo vấn đề ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu đã và đang là mối quan ngại của toàn xã hội, đe doạ đến sức khoẻ của con người, ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của nhân dân; đồng thời đưa ra thông điệp kêu gọi trách nhiệm của mỗi cá nhân, cũng như cộng đồng xã hội trong việc giữ gìn và bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu.
Hưởng ứng Chiến dịch, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bến Tre phối hợp với Ủy ban nhân dân huyện Chợ Lách đã tổ chức nhiều hoạt động thiết thực để hạn chế việc gây ô nhiễm môi trường. Đến dự buổi mitting có đại diện lãnh đạo sở Tài nguyên và Môi trường, Ủy ban nhân dân huyện Chợ Lách, các ban ngành đoàn thể huyện cùng trên 600 đoàn viên, thanh niên, học sinh tham gia.
Chương trình đã tổ chức nhiều hoạt động cụ thể như: mitting diễu hành tại trường THPT Trương Vĩnh Ký; ra quân trồng 800 cây xanh cặp theo lộ Vĩnh Bắc-Vĩnh Nam xã Vĩnh Thành góp phần cho tuyến đường xanh, sạch đẹp hơn; treo băng rol khẩu hiệu khu vực mitting và một số tuyến đường trên địa bàn huyện Chợ Lách; tổ chức tổng vệ sinh khu vực công cộng như: xung quanh chợ, khu dân cư trên đoạn Quốc lộ 57 qua xã Vĩnh Thành và các xã còn lại trong huyện.
Với Chiến dịch làm cho thế giới sạch hơn đã nâng cao nhận thức cho cộng đồng dân cư về bảo vệ môi trường và biến đổi khí hậu, thay đổi hành vi thân thiện môi trường, hướng đến xây dựng môi trường xanh - sạch - đẹp. Đồng thời, tập trung giải quyết các khu vực bức xúc về môi trường; duy trì thường xuyên các phong trào bảo vệ môi trường, trồng cây xanh, quét dọn vệ sinh.


22/09/2011 12:00 SAĐã ban hành
Tổ chức lễ phát động ra quân làm vệ sinh và trồng cây xanh trong xây dựng nông thôn mới tại các xã điểm năm 2014Tổ chức lễ phát động ra quân làm vệ sinh và trồng cây xanh trong xây dựng nông thôn mới tại các xã điểm năm 2014
Thực hiện các kế hoạch liên tịch về bảo vệ môi trường trong xây dựng nông thôn mới năm 2014, Sở Tài nguyên và Môi trường phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, Hội Cựu chiến binh, Hội Nông dân, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Tỉnh đoàn tổ chức lễ phát động ra quân làm vệ sinh và trồng cây xanh tại 06 xã điểm xây dựng nông thôn mới: xã Tân Thuỷ (huyện Ba Tri), xã Cẩm Sơn (huyện Mỏ Cày Nam), xã Tân Thành Bình (huyện Mỏ Cày Bắc), xã Đại Điền (huyện Thạnh Phú), xã Sơn Định (huyện Chợ Lách) và xã Phú Thuận (huyện Bình Đại).

Tại các buổi lễ phát động có lãnh đạo Chi cục Bảo vệ môi trường, lãnh đạo các đơn vị đoàn thể tỉnh, huyện; Ban Chỉ đạo xây dựng nông thôn mới xã, đông đảo người dân và lực lượng Mùa hè xanh đang sinh hoạt tại địa phương tham gia.

     Là tiêu chí khó thực hiện nhất trong 19 tiêu chí xây dựng nông thôn mới, tiêu chí môi trường đòi hỏi phải có sự tham gia thường xuyên của người dân trong việc bảo vệ môi trường thông qua những việc làm hằng ngày. Để góp phần tạo cảnh quan xanh - sạch - đẹp trên các tuyến đường của xã và tạo thói quen bảo vệ môi trường, hằng tháng các xã phải thường xuyên tổ chức các buổi ra quân làm vệ sinh với sự tham gia của người dân thông qua những việc làm như quét dọn, chỉnh trang nhà cửa vườn tược, cắt tỉa hàng rào cây xanh, phát hoang bụi rậm, khai thông cống rãnh, quét dọn đường làng ngõ xóm… Thông qua các kế hoạch liên tịch giữa Sở Tài nguyên và Môi trường và các đoàn thể đã hỗ trợ cho 06 xã 1.600 cây xanh (Dầu, Bằng lăng) để trồng trên các tuyến đường của xã tạo cảnh quan và bóng mát.

     Thông qua các buổi lễ phát động đã thu hút sự tham gia của đông đảo người dân trên địa bàn vào hoạt động bảo vệ môi trường. Góp phần thay đổi diện mạo nông thôn và xây dựng thành công xã nông thôn mới.





Nguyễn Minh Trí​

04/09/2014 3:00 CHĐã ban hành
Phó Chủ tịch Ngân hàng thế giới thực tế tỉnh Bến Tre về phát triển bền vững và biến đổi khí hậuPhó Chủ tịch Ngân hàng thế giới thực tế tỉnh Bến Tre về phát triển bền vững và biến đổi khí hậu
Ngày 8 tháng 12 năm 2017, Đoàn WB do Bà Laura Tuck - Phó chủ tịch phụ trách phát triển bền vững làm trưởng Đoàn đã có chuyến thực tế tại tỉnh Bến Tre. Ông Cao Văn Trọng - Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh và Lãnh đạo các Sở: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tài nguyên và Môi trường tiếp và làm việc với Đoàn
       Trong thời gian qua, Bến Tre vinh dự nhận được sự quan tâm, hỗ trợ của Ngân hàng thế giới (WB) trong phát triển bền vững và ứng phó biến đổi khí hậu. Ngày 8 tháng 12 năm 2017, Đoàn WB do Bà Laura Tuck - Phó chủ tịch phụ trách phát triển bền vững làm trưởng Đoàn đã có chuyến thực tế tại tỉnh Bến Tre. Ông Cao Văn Trọng - Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh và Lãnh đạo các Sở: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tài nguyên và Môi trường tiếp và làm việc với Đoàn. Trước đó vào năm 2014, Bà Rachel Kyte - Phó chủ tịch WB và là đại sứ đặc biệt về biến đổi khí hậu tại thời điểm đã đến thực địa ở tỉnh.
worldbank3.jpg

Hình: Bà Laura Tuck - Phó chủ tịch Ngân hàng thế giới (giữa) trao đổi với Lãnh đạo tỉnh Bến Tre (Ảnh: Văn Ngoan)
 

        Trong chương trình thực tế, Đoàn WB đã đến cống đập Ba Lai, xem lúa-tôm xã Tân Xuân và khảo sát sạt lở ven biển Cồn Ngoài xã Bảo Thuận, huyện Ba Tri. Thời gian qua, sạt lở ven biển là một trong những tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu, nước biển dâng đến Bến Tre và có xu hướng gia tăng. Khu vực sạt lở đáng chú ý là Cồn Bửng huyện Thạnh Phú và Cồn Ngoài huyện Ba Tri. Nguyên nhân do mực nước biển ở mức cao kết hợp gió mùa làm gia tăng cường độ sống biển, thêm vào đó vùng ven biển có kết cấu đất yếu và cao độ địa hình thấp, qua đó làm tăng tổn thương cho vùng bờ ven biển. Bên cạnh các tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng, một yếu tố khác tác động lâu dài và đang gia tăng áp lực lên tình trạng sạt lở ven biển của tỉnh Bến Tre nói riêng (và cả ĐBSCL) là việc mất dần phù sa bồi đắp do trầm tích bị giữ lại bởi các đập thủy điện trên dòng chính sông Mekong, vấn đề này đã được các nhà khoa học phản ảnh nhiều trong thời gian qua.


worldbank2.JPGworldbank1.JPG

Hình: Sạt lở ven biển huyện Thạnh Phú (ảnh trái) và huyện Ba Tri thời điểm năm 2017 (Ảnh: Duy Anh)

            Một số dự án do WB hỗ trợ tỉnh Bến Tre đang được triển khai như: Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển sinh kế bền vững cho người dân vùng biển Ba Tri; Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cải thiện sinh kế người dân Bắc Thạnh Phú; và sắp đến là Dự án mở rộng, nâng cấp đô thị Việt Nam - Tiểu dự án thành phố Bến Tre, dự án hướng đến thành phố xanh, thích ứng biến đổi khí hậu và giảm thiểu rủi ro thiên tai.

            Bến Tre xác định ứng phó biến đổi khí hậu là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong quá trình phát triển, tỉnh đã xây dựng và triển khai Kế hoạch hành động ứng phó biến đổi khí hậu giai đoạn 2016 - 2020, tuy nhiên với điều kiện hạn chế, khó khăn tỉnh chưa thể hoàn thành tốt và đầy đủ các nhiệm vụ, giải pháp đặt ra. Nhân chuyến thực địa của Bà Laura Tuck, Bến Tre đề xuất tiếp tục hợp tác, hỗ trợ từ WB qua dự án trọng điểm ứng phó lâu dài - "Đầu tư chống xói lở nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu Bến Tre" và các lĩnh vực khác như:

  •         + Chuyển đổi, phát triển các mô hình sinh kế thích ứng biến đổi khí hậu theo Nghị quyết số 120/NQ-CP ngày 17/11/2017 của Chính phủ về phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long thích ứng biến đổi khí hậu;         
  •         + Đào tạo nguồn nhân lực và nâng cao năng lực cán bộ quản lý;
  •         + Ứng dụng công nghệ thông tin tiên tiến, GIS vào công tác cảnh báo, dự báo; đánh giá tác động;xây dựng cơ sở dữ liệu về biến đổi khí hậu phục vụ công tác quản lý;
  •         + Bảo tồn đa dạng sinh học, phát triển bền vững du lịch sinh thái trong điều kiện biến đổi khí hậu và hợp tác vùng trong chia sẻ, sử dụng bền vững nguồn nước sông Mekong trước thách thức từ biến đổi khí hậu.

Huỳnh Lê Duy Anh - P.QLTN&KTTV, Sở TN&MT

12/12/2017 9:00 SAĐã ban hành
Bản đồ ngập nguy cơ ngập của tỉnh Bến Tre theo kịch bản 2016 của Bộ Tài nguyên và Môi trườngBản đồ ngập nguy cơ ngập của tỉnh Bến Tre theo kịch bản 2016 của Bộ Tài nguyên và Môi trường
Bản đồ ngập nguy cơ ngập của tỉnh Bến Tre theo kịch bản 2016 của Bộ Tài nguyên và Môi trường
29/03/2017 1:40 CHĐã ban hành
Nghị định 102/2017/NĐ-CP về Đăng ký biện pháp bảo đảmNghị định 102/2017/NĐ-CP về Đăng ký biện pháp bảo đảm
Nghị định 102/2017/NĐ-CP về Đăng ký biện pháp bảo đảm

​Ngày 01 tháng 9 năm 2017, Chính phủ ban hành Nghị định số 102/2017/NĐ-CP về đăng ký biện pháp bảo đảm. Nghị định định có 05 Chương và 70 Điều quy định thủ tục đăng ký biện pháp bảo đảm, cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm bằng tài sản; quản lý nhà nước về đăng ký biện pháp bảo đảm. Nghị định có số nội dung cụ thể như sau:

- Các biện pháp bảo đảm phải đăng ký như: a) Thế chấp quyền sử dụng đất; b) Thế chấp tài sản gắn liền với đất trong trường hợp tài sản đó đã được chứng nhận quyền sở hữu trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; c) Cầm cố tàu bay, thế chấp tàu bay; d) Thế chấp tàu biển. (Điều 4)

- Về thời điểm có hiệu lực của đăng ký bảo đảm là thời điểm cơ quan đăng ký ghi nội dung đăng ký thay đổi vào sổ đăng ký hoặc cập nhật vào cơ sở dữ liệu về biện pháp bảo đảm (Điều 5); có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký đến thời điểm xóa đăng ký biện pháp bảo đảm (Điều 6).

- Về từ chối đăng ký biện pháp bảo đảm được quy định cụ thể tại Điều 15 của Nghị định, Cơ quan đăng ký từ chối đăng ký khi có một trong các căn cứ sau đây: a) Không thuộc thẩm quyền đăng ký; b) Khi phát hiện thông tin trong hồ sơ đăng ký không phù hợp với thông tin được lưu giữ tại cơ quan đăng ký hoặc có giấy tờ giả mạo; c) Người yêu cầu đăng ký không nộp phí đăng ký, trừ trường hợp không phải nộp phí đăng ký theo quy định của pháp luật; d) Tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất, nhà ở không đủ điều kiện thế chấp theo quy định của Luật đất đai và Luật nhà ở. Trường hợp tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất, nhà ở có tranh chấp, thì cơ quan đăng ký chỉ từ chối đăng ký khi đã có văn bản thụ lý hoặc văn bản chứng minh việc thụ lý giải quyết tranh chấp của cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết tranh chấp; đ) Kê khai nội dung đăng ký không đúng quy định của pháp luật; e) Yêu cầu đăng ký thay đổi, đăng ký văn bản thông báo về việc xử lý tài sản bảo đảm, yêu cầu sửa chữa sai sót trong trường hợp đã xóa đăng ký biện pháp bảo đảm; g) Khi cơ quan đăng ký nhận được văn bản của Chấp hành viên của cơ quan thi hành án dân sự hoặc Thừa phát lại của Văn phòng thừa phát lại yêu cầu tạm dừng hoặc dừng việc đăng ký đối với tài sản bảo đảm mà bên bảo đảm là người phải thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự; h) Khi cơ quan đăng ký nhận được văn bản thông báo về việc kê biên tài sản thi hành án là tài sản bảo đảm do cơ quan thi hành án hoặc Văn phòng thừa phát lại gửi đến.

Trường hợp có căn cứ từ chối đăng ký theo quy định nêu trên, thì người tiếp nhận hồ sơ phải lập văn bản từ chối, trong đó nêu rõ lý do từ chối và hướng dẫn thực hiện theo đúng quy định của pháp luật. Việc từ chối được thực hiện trong ngày nhận hồ sơ; nếu nhận hồ sơ sau 15 giờ, thì việc từ chối được thực hiện trong ngày làm việc tiếp theo.

- Về thời hạn giải quyết hồ sơ: Cơ quan đăng ký, cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm có trách nhiệm giải quyết hồ sơ đăng ký, cung cấp thông tin trong ngày nhận hồ sơ hợp lệ; nếu nhận hồ sơ sau 15 giờ, thì hoàn thành việc đăng ký, cung cấp thông tin ngay trong ngày làm việc tiếp theo; trường hợp phải kéo dài thời gian giải quyết hồ sơ, thì cũng không quá 03 ngày làm việc.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 15 tháng 10 năm 2017 và thay thế Nghị định số 83/2010/NĐ-CP ngày 23 tháng 7 năm 2010 của Chính phủ về đăng ký giao dịch bảo đảm. Bãi bỏ Điều 1 Nghị định số 05/2012/NĐ-CP ngày 02 tháng 02 năm 2012 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về đăng ký giao dịch bảo đảm, trợ giúp pháp lý, luật sư, tư vấn pháp luật./.

ND 102.2017 - GDBD (thay the ND 83).pdf

11/10/2017 8:00 SAĐã ban hành
Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ ngày 19/11/2018 đến ngày 23/11/2018Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ ngày 19/11/2018 đến ngày 23/11/2018
Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ ngày 19/11/2018 đến ngày 23/11/2018
26/11/2018 3:00 CHĐã ban hành
HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG MỘT SỐ HỘ NUÔI CÁ DA TRƠN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẾN TREHIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG MỘT SỐ HỘ NUÔI CÁ DA TRƠN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẾN TRE
Hiện nay, các cơ sở nuôi thủy sản nước ngọt trên địa bàn tỉnh phát triển khá mạnh, đặc biệt là nuôi cá da trơn thâm canh dọc theo các tuyến sông chính, đã mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người dân, góp phần tạo nguồn nguyên liệu chế biến và nâng cao giá trị kim ngạch xuất khẩu.



Tuy nhiên, bên cạnh sự phát triển đó, việc đào ao nuôi cá da trơn trên khu vực cập tuyến sông Ba Lai nói riêng và các sông chính của tỉnh nói chung một cách tự phát, đất đào ao và chất thải trong quá trình nuôi không được xử lý, xả thải ra môi trường gây ô nhiễm nguồn nước mặt nghiêm trọng. Đặt biệt, là sông Ba Lai - hồ chứa nước ngọt chủ yếu của dự án ngọt hoá Bắc Bến Tre, đang có nguy cơ bị ô nhiễm do chất thải từ các cơ sở nuôi cá ven sông xả ra.
Trước tình hình trên, Chi cục Bảo vệ môi trường Bến Tre tiến hành kiểm soát ô nhiễm môi trường 14 cơ sở nuôi cá da trơn tại các xã ven sông Ba Lai, Tiền Giang, Hàm Luông và Cổ Chiên. Qua kết quả kiểm soát cho thấy sự quan tâm bảo vệ môi trường của các cơ sở nuôi cá da trơn trên địa bàn tỉnh Bến Tre chưa cao. Tất cả các cơ sở đều chưa thực hiện đăng ký Bản cam kết bảo vệ môi trường (hoặc Báo cáo đánh giá tác động môi trường), chương trình giám sát môi trường.
Các cơ sở chưa xây dựng hoặc xây dựng công trình xử lý chất thải chưa đúng qui định, dẫn đến nguồn nước mặt xung quanh các cơ sở này có nguy cơ bị ô nhiễm. Hiện có 09 cơ sở không có hệ thống kênh thu gom và ao xử lý nước thải, 05 cơ sở còn lại có hệ thống kênh thu gom, nhưng thể tích ao xử lý nước thải không đáp ứng đủ nhu cầu xử lý toàn bộ lượng nước thải phát sinh từ các ao nuôi. Nước thải chưa được xử lý hoặc xử lý chưa đạt tiêu chuẩn được thải trực tiếp ra môi trường, gây ảnh hưởng đến môi trường nước mặt, đặc biệt là các cơ sở nuôi cá da trơn ven sông Ba Lai.
Đối với chất thải rắn sinh hoạt, sản xuất (bao bì thức ăn) các cơ sở thu gom, xử lý hợp vệ sinh. Tuy nhiên, có đến 10 cơ sở không có ao hoặc khu vực chứa bùn đáy ao phát sinh khi nạo vét ao nuôi, vệ sinh đáy ao khi thu hoạch cá da trơn và chứa các chất thải rắn theo quy định. Bùn đáy ao được các cơ sở xả thải trực tiếp ra sông, kênh, rạch gây ô nhiễm môi trường đất, nước và gây bồi lắng các thủy vực này.
Có 04 cơ sở không có biện pháp xử lý xác cá chết hợp vệ sinh làm phát sinh mùi hôi, ảnh hưởng đến người dân xung quanh.
Đã có 03 cơ sở nuôi cá da trơn tại xã Thới Lai, Phú Long (Bình Đại), An Nhơn (Thạnh Phú) bị người dân sống lân cận khiếu nại đến Ủy ban nhân dân xã về hành vi xả nước thải, bùn đáy ao chưa được xử lý ra môi trường; không có biện pháp xử lý cá chết hợp vệ sinh làm phát sinh mùi hôi,...
Để bảo vệ môi trường nguồn nước mặt các sông, rạch chính của tỉnh, các ngành, các cấp cần quan tâm hơn nữa công tác bảo vệ môi trường trong lĩnh vực nuôi cá da trơn, để từng bước nâng cao ý thức bảo vệ môi trường của các cơ sở.
Trước mắt, Thanh tra Sở Tài nguyên và Môi trường, Cảnh sát môi trường, Phòng Tài nguyên và Môi trường các huyện, thị tiến hành thanh tra, kiểm tra công tác bảo vệ môi trường của các cơ sở nuôi cá da trơn trên địa bàn tỉnh Bến Tre; xử lý nghiêm mọi trường hợp vi phạm các qui định của Luật Bảo vệ môi trường và các văn bản có liên quan về xả thải chất thải chưa được xử lý ra môi trường, gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sức khỏe người dân.
Về lâu dài, Sở Thủy sản nhanh chóng triển khai dự án Quy hoạch chi tiết nuôi cá da trơn trên địa bàn tỉnh Bến Tre, để người dân thực hiện.

Mai Hanh



13/08/2008 12:00 SAĐã ban hành
Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận Từ ngày 16/5 Đến ngày 22/5/2018Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận Từ ngày 16/5 Đến ngày 22/5/2018
Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận Từ ngày 16/5 Đến ngày 22/5/2018
24/05/2018 2:00 CHĐã ban hành
Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Từ 17/12/2019 đến 26/12/2019)Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Từ 17/12/2019 đến 26/12/2019)
Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Từ 17/12/2019 đến 26/12/2019)
27/12/2019 9:00 SAĐã ban hành
Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ ngày 01/02/2020 đến ngày 07/02/2020Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ ngày 01/02/2020 đến ngày 07/02/2020
Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ ngày 01/02/2020 đến ngày 07/02/2020
07/02/2020 3:00 CHĐã ban hành
Hội đồng Khoa học và Công nghệ tỉnh Bến Tre xét duyệt đề cương Dự án Điều tra tổng hợp tài nguyên môi trường vùng biển Tây Nam BộHội đồng Khoa học và Công nghệ tỉnh Bến Tre xét duyệt đề cương Dự án Điều tra tổng hợp tài nguyên môi trường vùng biển Tây Nam Bộ
Dự án “Điều tra tổng hợp tài nguyên và môi trường vùng biển Tây Nam Bộ phục vụ kinh tế biển và an ninh quốc phòng” là dự án thuộc hợp phần 1 của Đề án Tổng thể điều tra cơ bản tài nguyên và môi trường biển giai đoạn 2. Sáng 03/11, Sở Tài nguyên và Môi trường đã tổ chức họp Hội đồng Khoa học và Công nghệ xét duyệt đề cương dự án. Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bến Tre Trần Ngọc Tam, Chủ tịch Hội đồng đến dự và chủ trì cuộc họp.

Dự án đề xuất sẽ nghiên cứu để có được bộ cơ sở dữ liệu đồng bộ và tin cậy về điều tra cơ bản tổng hợp về tài nguyên môi trường biển khu vực Tây Nam Bộ; Xác lập đặc điểm điều kiện tự nhiên, tai biến thiên nhiên, tài nguyên, môi trường sinh thái ven biển bằng quy trình và các thiết bị hiện đại, dự báo xu thế biến động trong bối cảnh biến đổi khí hậu; Xây dựng chiến lược quản lý, bảo tồn sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường biển Tây Nam Bộ đồng thời đề xuất các giải pháp, chính sách, mô hình phát triển kinh tế biển bền vững góp phần đảm bảo an ninh quốc phòng vùng biển Tây Nam Bộ.


Sơ đồ phạm vi vùng nghiên cứu

Phát biểu tại Hội đồng, Phó Chủ tịch tỉnh Trần Ngọc Tam đánh giá cao sự chuẩn bị chu đáo, chi tiết trong việc xây dựng đề án và nhấn mạnh đây là dự án lớn liên quan đến 7 tỉnh ven biển vùng Tây Nam Bộ, tỉnh Bến Tre được Trung ương tin tưởng giao chủ trì thực hiện dự án nên cần được thực hiện nghiêm túc. Dự án có phạm vi điều tra trên diện rộng, sản phẩm, kết quả của dự án sẽ được nhiều tỉnh sử dụng làm cơ sở để phát triển kinh tế và phục vụ công tác an ninh quốc phòng, nên sự phối hợp tham gia thực hiện dự án giữa các địa phương là hết sức cần thiết. Tuy nhiên, Phó Chủ tịch tỉnh cũng lưu ý và đề nghị Chủ nhiệm đề tài cần bổ sung thêm vào đề cương dự án các số liệu, mô hình, thực trạng, nhất là vấn đề ứng phó với biến đổi khí hậu, tận dụng kế thừa những kết quả nghiên cứu trước đây ở khu vực biển Tây Nam Bộ… như ý kiến của các thành viên hội đồng. Hội đồng nhất trí thông qua đề cương dự án để Chủ nhiệm đề tài trình lên Hội đồng thẩm định cấp Nhà nước, sau khi chỉnh sửa theo ý kiến đóng góp của các thành viên Hội đồng.




Vĩnh Thịnh


05/11/2014 4:00 CHĐã ban hành
Góp ý sửa đổi Luật Đất đai 2003:Tiếp tục đổi mới công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đấtGóp ý sửa đổi Luật Đất đai 2003:Tiếp tục đổi mới công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Ngày 5/8 tại Hà Nội, Tổng cục Quản lý Đất đai (TCQLĐĐ)  đã tổ chức Hội thảo “Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và giao đất, cho thuê đất”. Chủ trì Hội thảo có Quyền Tổng cục trưởng TCQLĐĐ Phùng Văn Nghệ và lãnh đạo TCQLĐĐ. Tham dự còn có đại diện Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chính phủ, các Giám đốc, Phó giám đốc Sở TN&MT các tỉnh và đông đảo chuyên gia, các nhà khoa học …



Phát biểu khai mạc Hội thảo, Quyền Tổng cục trưởng TCQLĐĐ Phùng Văn Nghệ khẳng định: Việc lập quy hoạch, kế hoạch quản lý sử dụng đất các cấp đã dần đi vào nền nếp. Theo báo cáo của TCQLĐĐ, tính cho đến nay, cả nước có 63/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hoàn thành việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đến năm 2010 được Chính phủ xét duyệt. Có 616/686 huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh (chiếm 89,8%) và 8706/10815 xã, phường, thị trấn (chiếm 80,50%) hoàn thành việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đến năm 2010. Kết quả này cho thấy, công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thực sự là công cụ quan trọng trong quản lý Nhà nước đối với đất đai; tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho công tác thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất phục vụ các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường.
Tuy nhiên, những quy định về lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất còn phức tạp, còn có sự chồng chéo ở một số quy định làm cho công tác quy hoạch sử dụng đất và quản lý đất đai chưa đạt hiệu quả. “Trình tự, thủ tục giao đất cho thuê đất còn rườm rà, phức tạp, chưa thực sự cải cách thủ tục hành chính, gây cản trở cho quá trình thực hiện dự án đầu tư”, Quyền Tổng cục trưởng TCQLDĐ Phùng Văn Nghệ nêu rõ.


Quyền Tổng cục trưởng TCQLĐĐ Phùng Văn Nghệ phát biểu khai mạc

Để khắc phục những hạn chế trong lĩnh vực quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, các chuyên gia nghiên cứu đều cho rằng, cần phải đổi mới công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, góp phần sửa đổi Luật Đất đai 2003 đạt hiệu quả cao. Theo Báo cáo của TCQLĐĐ, cần thiết phải làm rõ khái niệm về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, bởi việc này liên quan đến pháp luật về đầu tư, quy hoạch xây dựng. Vai trò của quy hoạch đất sẽ được nâng cao khi nó là căn cứ duy nhất để thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất.
Về kỳ (thời gian) lập quy hoạch sử dụng đất, nhiều chuyên gia cho rằng, hạn 10 năm lập lại quy hoạch đất rất tốn kém, mâu thuẫn với thời hạn giao đất, cho thuê đất (50-70 năm hoặc lâu dài), gây tâm lý không ổn định cho người được thuê đất.
TS. Nguyễn Đình Bồng và một số lãnh đạo Sở TN&MT các tỉnh Ninh Bình, Hà Nam nhận xét, việc quy định thẩm quyền xét duyệt quy hoạch sử dụng đất do Chính phủ quyết định. Việc thông qua Hội đồng nhân dân gây ra nhiều bất cập về thủ tục, thời gian…Các cán bộ kiến nghị việc xét duyệt quy hoạch sử dụng đất và kế hoạch sử dụng đất 5 năm cấp tỉnh sẽ do Thủ tướng Chính phủ quyết định và phân cấp cho Chủ tịch Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh xét duyệt kế hoạch sử dụng đất hàng năm (trong kế hoạch 5 năm).
Vấn đề quy hoạch sử dụng đất đô thị gây sự chú ý của đông đảo chuyên gia. Theo tính toán của Chuyên gia cao cấp Tôn Gia Huyên – Hội Khoa học Đất Việt Nam, tính đến năm 2030, 55% dân số ở đô thị, diện tích đất phải tiếp tục chuyển đổi sang mục đích phi nông nghiệp để đảm bảo công nghiệp hóa là 450-500ha, đất đô thị sẽ phải mở 2 triệu ha. Kết quả này đòi hỏi các nhà hoạch đinh chính sách đất đai phải chú tâm tới tương tác giữa quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất với quy hoạch xây dựng đô thị. TS.KTS. Đào Ngọc Nghiêm – Hội Quy hoạch và Phát triển đô thị Việt Nam đề xuất kế hoạch sử dụng đất phải được xây dựng từ quy hoạch đô thị, phân loại lại nhóm đất để phù hợp với tổ chức không gian đô thị, thanh tra xử lý xây dựng luôn gắn liền với quản lý đất đai. “Phải tuân thủ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất để đảm bảo các chiến lược phát triển kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng, an toàn lương thực của quốc gia”, ông Nghiêm nhấn mạnh.


Phó tổng cục trưởng TCQLĐĐ Đào Trung Chính phát biểu kết luận

Kết luận Hội thảo, Phó Tổng cục trưởng TCQLĐĐ Đào Trung Chính đánh giá cao những ý kiến đóng góp của các nhà nghiên cứu và cán bộ các đơn vị. Quy hoạch sử dụng đất phải là cơ sở bảo đảm phân bổ một cách hợp lý nguồn tài nguyên đất đai có hạn của Quốc gia phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội bền vững. Việc quản lý, sử dụng đất thông qua công cụ quy hoạch sử dụng đất để vừa đảm bảo quỹ đất phục vụ mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vừa đảm bảo mục tiêu bảo vệ môi trường, an ninh lương thực, xóa đói giảm nghèo, công bằng xã hội, thích ứng với biến đổi khí hậu, đảm bảo quỹ đất sử dụng phù hợp cho từng giai đoạn và lâu dài. Kết quả của Hội thảo sẽ là cơ sở góp phần sửa đổi Luật Đất đai 2003 đạt được mục tiêu nêu trên.


12/08/2011 12:00 SAĐã ban hành
CÔNG BỐ QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT ĐẾN NĂM 2020 VÀ KẾ HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT 5 NĂM (2011-2015) CỦA TỈNH BẾN TRECÔNG BỐ QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT ĐẾN NĂM 2020 VÀ KẾ HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT 5 NĂM (2011-2015) CỦA TỈNH BẾN TRE
Ngày 25 tháng 4 năm 2013, Sở Tài nguyên và Môi trường tổ chức Hội Nghị công bố Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011- 2015) của tỉnh Bến Tre, tham dự Hội nghị có lãnh đạo các Sở, ngành tỉnh, lãnh đạo Ủy ban nhân dân, phòng Tài nguyên và Môi trường các huyện, thành phố.



Tại Hội nghị ông Trần Quang Minh- Phó Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường, thông qua Nghị quyết số 24/NQ-CP ngày 07 tháng 02 năm 2013 của Chính phủ về việc quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011-2015).

Theo Quy hoạch sử dụng đất đã được Chính phủ xét duyệt thì diện tích tự nhiên đến năm 2020 của tỉnh Bến Tre là 236.062 ha được phân bổ cho các mục đích sử dụng đất như: diện tích đất nông nghiệp đến năm 2020 là 173.653 ha giảm 5.933 ha so với hiện trạng, trong đó: diện tích đất lúa nước là 33.000 ha, giảm 5.123 ha (đất chuyên trồng lúa nước có 31.000 ha); diện tích đất phi nông nghiệp đến năm 2020 là 62.409 ha tăng 6.391ha so với hiện trạng; diện tích đất chưa sử dụng đến năm 2020 là không còn diện tích (đưa vào sử dụng trong giai đoạn 2011-2020 là 408 ha); diện tích đất đô thị đến năm 2020 là 18.571 ha; diện tích đất khu bảo tồn thiên nhiên đến năm là 2.733 ha; diện tích đất khu du lịch là 4.174 ha.

Bên cạnh đó để triển khai thực hiện tốt quy hoạch sử dụng đất Chính phủ yêu cầu UBND tỉnh Bến Tre rà soát quy hoạch của các ngành, lĩnh vực có sử dụng đất cho thống nhất với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của tỉnh đã được Chính phủ xét duyệt; tập trung chỉ đạo Ủy ban nhân dân cấp huyện triển khai lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của địa phương để cụ thể hoá quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của tỉnh sau khi được xét duyệt, xác định và công bố công khai diện tích, mốc giới đất lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng cần bảo vệ nghiêm ngặt; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc quản lý, sử dụng đất theo quy hoạch nhất là khu vực chuyển mục đích sử dụng; ngăn chặn, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật đối với các trường hợp đã được giao đất, cho thuê đất nhưng không sử dụng hoặc sử dụng sai mục đích…

Kết thức Hội nghị, ông Trần Quang Minh- Phó Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường đề nghị các sở, ban, ngành trên cơ sở nội dung Quy hoạch sử dụng đất của tỉnh được xét duyệt, tiến hành rà soát, điều chỉnh, bổ sung, xây dựng mới quy hoạch ngành, các chỉ tiêu sử dụng đất của ngành mình cho phù hợp, đảm bảo sự thống nhất, đồng bộ với quy hoạch sử dụng đất của tỉnh, tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh bố trí vốn thực hiện các công trình đã đăng ký trong kỳ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Đối với UBND các huyện, thành phố phải tiến hành rà soát lại các chỉ tiêu mà huyện đã phân bổ cho các xã trong quy hoạch các xã nông thôn mới, tiến hành điều chỉnh các chỉ tiêu sử dụng đất của các xã chưa phù hợp, trong quản lý sử dụng đất phải tuân thủ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nhất là vấn đề giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất…



07/05/2013 12:00 SAĐã ban hành
BẾN TRE KHỞI ĐỘNG CÔNG TÁC XÂY DỰNG BẢNG GIÁ ĐẤT NĂM 2012BẾN TRE KHỞI ĐỘNG CÔNG TÁC XÂY DỰNG BẢNG GIÁ ĐẤT NĂM 2012
Theo quy định của luật đất đai năm 2003 thì Giá đất do Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quy định được công bố công khai vào ngày 01 tháng 01 hàng năm được sử dụng làm căn cứ để tính thuế sử dụng đất, thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất; tính tiền sử dụng đất và tiền thuê đất khi giao đất, cho thuê đất không thông qua đấu giá quyền sử dụng đất hoặc đấu thầu dự án có sử dụng đất; tính giá trị quyền sử dụng đất khi giao đất không thu tiền sử dụng đất, lệ phí trước bạ, bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất; tính tiền bồi thường đối với người có hành vi vi phạm pháp luật về đất đai mà gây thiệt hại cho Nhà nước.



Để thống nhất triển khai công tác xây dựng bảng giá đất của các tỉnh thành ngày 6/5/2011 Bộ Tài nguyên và Môi trường có Công văn số 1468/BTNMT – TCQLĐĐ về triển khai xây dựng bảng giá đất năm 2012 tại địa phương theo đó thì giá đất 2012 bảng giá đất năm 2012 thực hiện theo quy định tại Thông tư số 02/2010/TTLT-BTNMT-BTC ngày 08/01/2010 của Bộ Tài nguyên và Môi trường, trong đó cần tập trung tổ chức điều tra giá đất tại khu vực có điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất, thay đổi mục đích sử dụng đất, loại đô thị, loại đường phố; khu vực có đầu tư nâng cấp công trình kết cấu hạ tầng trong thời gian từ ngày 10/8/2010 đến ngày 10/8/2011. Đối với các khu vực còn lại, căn cứ kết quả xây dựng bảng giá đất năm 2011 để xây dựng bảng giá đất năm 2012 phù hợp với thực tế tại địa phương và chủ trương của Chính phủ về kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội.
Để gấp rút triển khai công tác xây dựng bảng giá đất năm 2012 trên địa bàn tỉnh Bến Tre theo đúng quy định, ngày 13/6/2011 Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch số 2366/KH-UBND về việc thì Điều tra, khảo sát, xây dựng, ban hành bảng giá đất và điều chỉnh bảng giá các loại đất năm 2012 nhiệm vụ chính của Kế hoạch là: Điều tra khảo sát, thu thập thông tin về điểm điều tra và giá đất thị trường tại điểm điều tra trong phạm vi toàn tỉnh; Tổng hợp, báo cáo kết quả điều tra giá đất thị trường các cấp xã, huyện, tỉnh; Xử lý tính toán, xây dựng bảng dự thảo giá các loại đất năm 2012, xây dựng báo cáo thuyết minh về dự thảo bảng giá đất Tổng hợp tài liệu, trình thẩm định bảng giá đất.
Theo Kế hoạch thỉ Uỷ ban nhân dân tỉnh giao cho Sở Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm chỉ đạo các tổ công tác thực hiện việc kiểm tra, nghiệm thu kết quả điều tra giá đất thị trường tại các điểm điều tra; kết quả tổng hợp giá đất điều tra tại cấp tỉnh và dự kiến bảng giá đất áp dụng cho năm kế tiếp. Nhìn chung quy trình, hồ sơ, số lượng điều tra, loại đất và phân loại khu vực, vị trí các loại đất giống như dự án điều tra xây dựng bảng giá đất năm 2011 bảo đảm bảng giá đất năm 2012 sẽ tương đối sát với giá của thị trường. Theo kế hoạch thì 02/7/2011 sẽ tiến hành điều tra, khảo sát, thu thập thông tin và giá đất thị trường của cấp xã và đến ngày 20/12/2011 Sở Tài nguyên và Môi trường sẽ trình UBND tỉnh về việc ban hành bảng giá đất kèm theo Báo cáo thuyết minh về dự thảo bảng giá đất đến hết ngày 15/01/2012 gửi Bộ Tài nguyên và Môi trường Quyết định ban hành bảng giá đất của UBND tỉnh.
Bảng giá đất của năm 2011 của tỉnh Bến Tre ít thay đổi so với năm 2010. Đối với bảng giá đất năm 2012 sắp tới được xây dựng theo chủ trương chung của Chính phủ về kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội theo nhận định của các nhà chuyên môn thì sẽ ít biến động so với năm 2011.


07/07/2011 12:00 SAĐã ban hành
Bản đồ tình hình xâm nhập mặn tỉnh Bến Tre từ ngày 26/3 đến ngày 02/4/2019Bản đồ tình hình xâm nhập mặn tỉnh Bến Tre từ ngày 26/3 đến ngày 02/4/2019
Bản đồ tình hình xâm nhập mặn tỉnh Bến Tre từ ngày 26/3 đến ngày 02/4/2019

I/ TóM TẮT TÌNH HÌNH xâm NHẬP MẶN tỪ 07 GIỜ ngày 19 ĐẾN 07 GIỜ NGÀY 26/03/2019 (TUẦN 12/2019):

Trên sông Hàm Luông và Cửa Đại, xâm nhập mặn cao nhất hàng ngày có xu thế tăng dần trong các ngày 19 đến ngày 24, sau đó ít biến đổi. Độ mặn xâm nhập sâu nhất xuất hiện trong các ngày 24-26/03 ở mức sâu hơn so với tuần trước. Độ mặn xâm nhập sâu trên các sông ở mức thấp hơn so với cùng thời kỳ năm 2015, 2016 và năm 2018.

Trên sông Cổ Chiên, xâm nhập mặn cao nhất hàng ngày có xu thế tăng dần từ ngày 19 đến ngày 20, 21, sau đó giảm dần. Độ mặn xâm nhập sâu nhất xuất hiện trong các ngày 20-21/03 ở mức sâu hơn so với tuần trước. Độ mặn xâm nhập sâu trên sông ở mức thấp hơn so với cùng thời kỳ năm 2015, 2016 và năm 2018.

Độ mặn cao nhất đo được tại các nơi như sau:

Ø Trên sông Cửa Đại:

+ Tại Bình Đại (cảng cá Bình Đại - huyện Bình Đại): 24.1 ‰ ngày 20.

+ Tại Lộc Thuận (xã Lộc Thuận - huyện Bình Đại): 12.6 ‰  ngày 21.

+ Tại Giao Hoà (xã Giao Hoà - huyện Châu Thành): 1.4 ‰  ngày 21.

+ Tại Quới Sơn (Ấp 2, xã Quới Sơn - huyện Châu Thành): 0.4 ‰ ngày 24-25.

+ Tại Long Hòa (xã Long Hòa - huyện Bình Đại): 0.6 ‰ ngày 21-22 (sông Ba Lai).

Ø Trên sông Hàm Luông:

+ Tại An Thuận (cảng cá Tiệm Tôm – huyện Ba Tri): 20.3 ‰ ngày 21, 22.

+ Tại Sơn Đốc (xã Hưng Lễ – huyện Giồng Trôm): 7.8 ‰ ngày 22.

+ Tại Phú Khánh (xã Phú Khánh – huyện Thạnh Phú): 4.6 ‰ ngày 22 (trong kênh).

+ Tại Vàm Cái Quao (xã Bình Khánh Đông – huyện Mõ Cày Nam): 4.5 ‰ ngày 20, 23.

+ Tại Vàm Thủ Cửu (xã Phước Long – huyện Giồng Trôm): 2.2 ‰ ngày 21.

+ Tại Vàm Nước Trong (xã Tân Thành Bình – huyện Mõ Cày Bắc): 0.9 ‰ ngày 22.

+ Tại Mỹ Hóa (phường 07 – Tp. Bến Tre): 0.7 ‰  ngày 24.

+ Tại Thanh Tân (Ấp Thanh Xuân 1, xã Thanh Tân – huyện Mõ Cày Bắc): 0.1 ‰.

+ Tại An Hiệp (xã An Hiệp - huyện Châu Thành): 0.2 ‰ ngày 21.

+ Tại Vàm Mơn (xã Phú Sơn – huyện Chợ Lách): 0.1 ‰.

Ø Trên sông Cổ Chiên:

+ Tại Bến Trại (xã An Thuận – huyện Thạnh Phú): 18.5 ‰ ngày 20, 21.

+ Tại Hương Mỹ (xã Hương Mỹ – huyện Mõ Cày Nam): 4.0 ‰  ngày 21.

+ Tại Cẩm Sơn (xã Cẩm Sơn – huyện Mõ Cày Nam): 3.0 ‰ ngày 20-21.

+ Tại Vàm Thơm (xã Thành Thới B – huyện Mõ Cày Nam): 0.3 ‰ ngày 20.

+ Tại Nhuận Phú Tân (xã Nhuận Phú Tân - huyện Mõ Cày Bắc): 0.1 ‰.

Độ mặn 4 ‰ trên các sông chính đã xâm nhập đến:

- Sông Cửa Đại: xã Phú Thuận – Long Định (huyện Bình Đại), (cách cửa sông khoảng 34 - 36km).

- Sông Hàm Luông: xã Thạnh Phú Đông (huyện Giồng Trôm) - xã Bình Khánh Đông (huyện Mõ Cày Nam), (cách cửa sông khoảng 33 - 35km).

- Sông Cổ Chiên: xã Hương Mỹ - Cẩm Sơn (huyện Mõ Cày Nam), (cách cửa sông khoảng 30 - 32km).

Độ mặn 1 ‰ trên các sông chính đã xâm nhập đến:

- Sông Cửa Đại: xã Giao Long – Quới Sơn (huyện Châu Thành), (cách cửa sông khoảng 42 - 44km).

- Sông Hàm Luông: Mỹ Thạnh An – Phường 7 (Tp. Bến Tre) - xã Thanh Tân (huyện Mõ Cày Bắc), (cách cửa sông khoảng 46 - 48km).

- Sông Cổ Chiên: xã Thành Thới B (huyện Mõ Cày Nam), (cách cửa sông khoảng 42 - 44km).

II / DỰ BÁO TÌNH HÌNH XÂM NHẬP MẶN TỪ NGÀY 26/03 ĐẾN NGÀY 02/04/2019) (TUẦN 13/2019):

Trên sông Hàm Luông và Cửa Đại, xâm nhập mặn cao nhất hàng ngày có xu thế ít biến đổi trong các ngày 26-27 rồi giảm nhẹ, sau đó tăng dần từ ngày 31/03 đến ngày 02/04. Độ mặn xâm nhập sâu nhất xuất hiện trong các ngày 26-27/03 và các ngày 01-02/04 ở mức xấp xỉ so với tuần qua. Độ mặn xâm nhập sâu trên các sông ở mức thấp hơn so với cùng thời kỳ năm 2015, 2016 và năm 2018.

Trên sông Cổ Chiên, xâm nhập mặn cao nhất hàng ngày có xu thế giảm dần từ ngày 26 đến ngày 29, sau đó tăng dần từ ngày 30/03 đến ngày 02/04. Độ mặn xâm nhập sâu nhất xuất hiện trong các ngày 01-02/04 ở mức xấp xỉ so với tuần qua. Độ mặn xâm nhập sâu trên sông ở mức thấp hơn so với cùng thời kỳ năm 2015, 2016 và năm 2018.

Ø Trên sông Cửa Đại:

+ Tại Bình Đại (cảng cá Bình Đại - huyện Bình Đại): Smax từ  19.0 ‰ đến 22.0 ‰.

+ Tại Lộc Thuận (xã Lộc Thuận - huyện Bình Đại): Smax từ  8.0 ‰ đến 11.0 ‰.

+ Tại Giao Hoà (xã Giao Hoà - huyện Châu Thành): Smax từ  1.0 ‰ đến 3.0 ‰.

+ Tại Quới Sơn (Ấp 2, xã Quới Sơn - huyện Châu Thành): Smax từ  0.2 ‰ đến 1.0 ‰.

+ Tại Long Hòa (xã Long Hòa - huyện Bình Đại): Smax từ  0.5 ‰ đến 1.5 ‰.

Ø Trên sông Hàm Luông:

+ Tại An Thuận (Tiệm Tôm – huyện Ba Tri): Smax từ 18.0 ‰ đến 21.0 ‰.

+ Tại Sơn Đốc (xã Hưng Lễ - huyện Giồng Trôm): Smax từ 5.0 ‰ đến 8.0 ‰.

+ Tại Phú Khánh (xã Phú Khánh – huyện Thạnh Phú): Smax từ 3.5 ‰ đến 6.5 ‰ (trong kênh).

+ Tại Vàm Cái Quao (xã Bình Khánh Đông – huyện Mõ Cày Nam): Smax từ 3.5 ‰ đến 5.5 ‰.

+ Tại Vàm Thủ Cửu (xã Phước Long – huyện Giồng Trôm): Smax từ 1.5 ‰ đến 3.5 ‰.

+ Tại Vàm Nước Trong (xã Tân Thành Bình – huyện Mõ Cày Bắc): Smax từ 0.5 ‰ đến 2.5 ‰.

+ Tại Mỹ Hoá (phường 07 – Tp. Bến Tre): Smax từ 0.5 ‰ đến 2.0 ‰.

+ Tại Thanh Tân (Ấp Thanh Xuân 1, xã Thanh Tân – huyện Mõ Cày Bắc): Smax từ 0.2 ‰ đến 0.5 ‰.

+ Tại An Hiệp (xã An Hiệp - huyện Châu Thành): Smax từ 0.2 ‰ đến 0.5 ‰.

+ Tại Vàm Mơn (xã Phú Sơn – huyện Chợ Lách): Smax 0.1 ‰.

Ø Trên sông Cổ Chiên:

+ Tại Bến Trại (xã An Thuận – huyện Thạnh Phú): Smax từ  18.0 ‰ đến 21.0 ‰.

+ Tại Hương Mỹ (xã Hương Mỹ - huyện Mõ Cày Nam): Smax từ  3.0 ‰ đến 6.0 ‰.

+ Tại Cẩm Sơn (xã Cẩm Sơn – huyện Mõ Cày Nam): Smax từ  1.5 ‰ đến 3.5 ‰.

+ Tại Vàm Thom (xã Thành Thới B – huyện Mõ Cày Nam): Smax từ  0.2 ‰ đến 1.0 ‰.

+ Tại Nhuận Phú Tân (xã Nhuận Phú Tân - huyện Mõ Cày Bắc): Smax 0.2 ‰.

Độ mặn 4 ‰ trên các sông chính có khả năng xâm nhập đến:

- Sông Cửa Đại: xã Phú Thuận – Long Định (huyện Bình Đại), (cách cửa sông khoảng 34 - 36km).

- Sông Hàm Luông: xã Thạnh Phú Đông (huyện Giồng Trôm) - xã Bình Khánh Đông (huyện Mõ Cày Nam), (cách cửa sông khoảng 33 - 35km).

- Sông Cổ Chiên: xã Hương Mỹ - Cẩm Sơn (huyện Mõ Cày Nam), (cách cửa sông khoảng 30 - 32km).

Độ mặn 1 ‰ trên các sông chính có khả năng xâm nhập đến:

- Sông Cửa Đại: xã Giao Long – Quới Sơn (huyện Châu Thành), (cách cửa sông khoảng 42 - 44km).

- Sông Hàm Luông: Mỹ Thạnh An – Phường 7 (Tp. Bến Tre) - xã Thanh Tân (huyện Mõ Cày Bắc), (cách cửa sông khoảng 46 - 48km).

- Sông Cổ Chiên: xã Thành Thới B (huyện Mõ Cày Nam), (cách cửa sông khoảng 42 - 44km).

* Cấp độ rủi ro thiên tai do xâm nhập mặn trong tuần này: cấp độ 1.

Ban tin man 26_3(Tuan 12_2019).png

Ban tin man 26_3(Tuan 12_2019).png

29/03/2019 8:00 SAĐã ban hành
Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ ngày 18/02/2019 đến ngày 22/02/2019Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ ngày 18/02/2019 đến ngày 22/02/2019
Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ ngày 18/02/2019 đến ngày 22/02/2019
26/02/2019 9:00 SAĐã ban hành
Công văn về việc Thông báo lô hàng phế liệu nhập khẩu để kiểm tra, thông quan cảng nhập Cát LáiCông văn về việc Thông báo lô hàng phế liệu nhập khẩu để kiểm tra, thông quan cảng nhập Cát Lái
Công văn 2244/STNMT-CCBVMT về việc Thông báo lô hàng phế liệu nhập khẩu để kiểm tra, thông quan cảng nhập Cát Lái

Tải nội dung văn bản: 2244_STNMT_CCBVMT_2018.pdf

27/08/2018 9:00 SAĐã ban hành
NĂM 2007 NAM BỘ NÓNG THÊM 1 ĐỘ CNĂM 2007 NAM BỘ NÓNG THÊM 1 ĐỘ C
Từ đây đến cuối năm, dự kiến còn 5-6 cơn bão và áp thấp nhiệt đới gây ảnh hưởng đến nước ta. Nhiệt độ ở khu vực Nam Bộ đang nóng lên.Tại Hội nghị Phòng chống lụt bão, tìm kiếm cứu nạn và ứng cứu sự cố tràn dầu khu vực miền Nam tổ chức sáng 6/9 ở TP.HCM, đại diện Đài khí tượng thủy văn khu vực Nam Bộ cho biết, nhiệt độ trung bình ở khu vực Nam Bộ cao hơn nhiệt độ trung bình nhiều năm khoảng 1oC. Và cũng theo nhận định của cơ quan này, từ đây đến cuối năm, dự kiến còn 5-6 cơn bão và áp thấp nhiệt đới gây ảnh hưởng đến nước ta. Nguy cơ bão đổ bộ vào các tỉnh phía Nam là không nhỏ...



Báo cáo của Ban Chỉ đạo phòng chống lụt bão Trung ương cho biết, trong năm 2006 thiên tai đã xảy ra trên phạm vi cả nước gây thiệt hại nghiêm trọng về người, tài sản, cơ sở hạ tầng, gây khó khăn cho sản xuất đời sống của nhân dân. Tổng cộng trong năm 2006, có tới 10 cơn bão và 4 áp thấp nhiệt đới hoạt động trên biển Đông (tên quốc tế là Chanchu, Sangxane, Cimaron và Durian) gây thiệt hại nghiêm trọng đối với các tỉnh Nam Bộ. Trong năm 2006, thiên tai đã làm 312 người chết, 1.721 người bị thương, 65 người mất tích, hàng chục ngàn căn nhà đổ sập, tốc mái... ước tính thiệt hại vào khoảng 7.146 tỷ đồng.

Theo nhận định của Trưởng Ban Chỉ đạo Phòng chống lụt bão Trung ương Cao Đức Phát, công tác phòng chống lụt bão cho ngư dân ven biển vừa qua vẫn thể hiện sự chủ quan, coi thường các biện pháp bảo đảm an toàn khi đi biển của ngư dân. Hệ thống thông tin liên lạc giữa các tàu thuyền đánh cá với nhau và với đất liền không được duy trì thường xuyên, nhất là những khi xảy ra sự cố. “Cần nhân rộng mô hình hỗ trợ, ứng cứu trên biển nhằm giảm thiểu thiệt hại tính mạng của ngư dân”- ông Phát nói.

Về sự cố dầu loang trên mặt biển xuất hiện ở vùng biển từ Hà Tĩnh đến Quảng Ngãi, Bình Thuận, Tiền Giang, Bà Rịa- Vũng Tàu, cơ quan chức năng cho biết đến nay hiện tượng dầu tràn đã tấn công vùng biển của 13 tỉnh, TP từ Bắc vào Nam, tạo thành một vấn nạn quốc gia, gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường biển và các hoạt động nuôi trồng, khai thác thủy sản, du lịch ở nhiều tỉnh ven biển nước ta. Tuy nhiên, cho đến giờ, nguyên nhân gây ra sự cố tràn dầu vẫn chưa thể xác định được.


Trần Duy



11/09/2007 12:00 SAĐã ban hành
TÌNH HÌNH SẢN XUẤT CHỈ XƠ DỪA GÂY Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG DÒNG SÔNG THOM DẦN ĐƯỢC KHẮC PHỤCTÌNH HÌNH SẢN XUẤT CHỈ XƠ DỪA GÂY Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG DÒNG SÔNG THOM DẦN ĐƯỢC KHẮC PHỤC
Ngành sản xuất chỉ xơ dừa đã được hình hành rất lâu và bắt đầu phát triển từ năm 1996, cho đến những năm gần đây ngành sản xuất chỉ xơ dừa mới thật sự phát triển mạnh
Ngành sản xuất chỉ xơ dừa đã được hình hành rất lâu và bắt đầu phát triển từ năm 1996, cho đến những năm gần đây ngành sản xuất chỉ xơ dừa mới thật sự phát triển mạnh, kết quả điều tra năm 2005 có khoảng 200 cơ sở sản xuất chỉ sơ dừa trên toàn huyện Mỏ Cày, phát triển tập trung mạnh nhất ở các xã Khánh Thạnh Tân, Đa Phước Hội, An Thạnh, Thành Thới B nằm dọc theo tuyến sông Thom có khoảng 135 cơ sở.


Sản xuất chỉ xơ thải ra lượng mụn dừa giao động từ 300-500 tấn/ngày, tập trung nhiều nhất vào khoảng tháng 4-9 hằng năm. Phần lớn mụn dừa không có bãi chứa hoặc có bãi chứa khi quá tải thì chủ cơ sở thải đổ trực tiếp xuống sông Thom gây ô nhiễm môi trường và lan rộng ra các nhánh của sông Thom, ảnh hưởng đến chất lượng nước sinh hoạt của người dân và huỷ diệt nguồn lợi thuỷ sinh vật.

Trong thời gian qua, Sở Tài nguyên và Môi trường luôn xem trọng giải quyết vấn đề mụn dừa gây ô nhiễm môi trường, Sở đã thực hiện nhiều đợt khảo sát đánh giá mức độ ảnh hưởng đến môi trường và thực hiện nhiều kế hoạch kiểm soát nhắc nhỡ, kế hoạch thanh kiểm tra nhằm hạn chế mức thấp nhất việc thải mụn dừa xuống sông Thom; kêu gọi các đơn vị đầu tư xử lý mụn dừa; khuyến thích người dân thu gom và sử dụng mụn dừa vào sản xuất nông nghiệp.

Qua đó, ngày càng nhiều lượng mụn dừa được người dân địa phương và một số tỉnh khác thu gom để sử dụng cho nông nghiệp, hiện đã có 2 nhà máy đầu tư lấy mụn dừa để sản xuất đất sạch, từ đó lượng mụn dừa đổ xuống dòng sông Thom giảm đáng kể. Tình hình ô nhiễm môi trường sông Thom được cải thiện.

Trong thời gian tới, để xử lý hết lượng mụn dừa nhằm bảo vệ môi trường nước dòng sông Thom, Sở Tài nguyên và Môi trường phối hợp với Trung tâm Tư vấn, Đào tạo và Chuyển giao công nghệ môi trường thuộc Cục Bảo vệ môi trường xây dựng đề án "Mô hình quản lý và hỗ trợ kỹ thuật xử lý mụn dừa". Đồng thời, Sở cũng sẽ phối hợp với các đơn vị có liên quan tiến hành hoàn chỉnh quy hoạch làng nghề sản xuất chỉ xơ dừa, xây dựng đề án thu gom mụn dừa, khuyến thích các đơn vị đầu tư xử lý mụn dừa.
Văn Ngoan

04/10/2007 12:00 SAĐã ban hành
Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận Tháng 7 năm 2018Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận Tháng 7 năm 2018
Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận Tháng 7 năm 2018

Tải danh sách: danh_sach_huy_gcn_T7_2018.rar

02/08/2018 10:00 SAĐã ban hành
Sơ kết một tháng triển khai kế hoạch kiểm tra, xử lý hoạt động khai thác, vận chuyển, kinh doanh cát lòng sông trên địa bàn tỉnh.Sơ kết một tháng triển khai kế hoạch kiểm tra, xử lý hoạt động khai thác, vận chuyển, kinh doanh cát lòng sông trên địa bàn tỉnh.
Thực hiện Kế hoạch số: 108/KH – CAT ngày 03 tháng 6 năm 2011 của Giám đốc Công an tỉnh, từ ngày 20/6 – 20/7/2011, Đoàn liên ngành Cảnh sát đường thuỷ - Thanh tra Sở Tài nguyên và Môi trường – Thanh tra Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã tổ chức 04 đợt kiểm tra đối với các tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực khai thác, kinh doanh, vận chuyển cát lòng sông trên địa bàn tỉnh Bến Tre. Qua đó, Đoàn kiểm đã phát hiện và xử lý nhiều tổ chức, cá nhân vi phạm các quy định của pháp luật về khoáng sản, bảo vệ môi trường và an toàn giao thông đường thuỷ nội địa



- Đối với các tổ chức, cá nhân khai thác, vận chuyển cát lòng sông: Đoàn kiểm tra phát hiện, lập biên bản xử lý 24 trường hợp vi phạm theo Nghị định 09/2005/NĐ-CP của Chính phủ. Lỗi vi phạm chủ yếu là khai thác khoáng sản trên đường thuỷ nội địa không đúng giấy phép, khai thác khoáng sản trái phép trong phạm vi hành lang bảo vệ luồng giao thông đường thuỷ nội địa, không bằng thuyền trưởng, không giấy chứng nhận đăng ký phương tiện.
- Đối với các bến bãi tập kết, kinh doanh cát lòng sông: Đoàn đã kiểm tra 05 bến tập kết vật liệu xây dựng trên địa bàn huyện Chợ Lách và huyện Mỏ Cày Nam. Nhìn chung, các bến bãi này chấp hành tương đối tốt các quy định của pháp luật, đủ điều kiện hoạt động.
- Đối với các mỏ cát: Đoàn kiểm tra được 12 trong 16 mỏ cát Uỷ ban nhân dân tỉnh đã cấp phép cho các doanh nghiệp, hợp tác xã khai thác, gồm 08 mỏ của Công ty Cổ phần vật liệu xây dựng Bến Tre, 01 mỏ của Hợp tác xã Việt Hùng, 01 mỏ Hợp tác xã huyện Bình Đại, 01 mỏ Hợp tác xã huyện Ba Tri và 01 mỏ của Hợp tác xã huyện Giồng Trôm. Qua kiểm tra, còn nhiều mỏ chưa thực hiện đầy đủ các thủ tục theo quy định của pháp luật đối với hoạt động khai thác khoáng sản. Cụ thể: 12/12 mỏ không có phương án đảm bảo an toàn giao thông đường thuỷ nội địa được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, 12/12 mỏ không ký quỹ phục hồi môi trường, 11/12 mỏ không lập bản đồ hiện trạng mỏ, 11/12 mỏ không thực hiện giám sát môi trường định kỳ, 10/12 mỏ thực hiện không đầy đủ các nội dung trong báo cáo đánh giá tác động môi trường đã được phê duyệt như không đo vẽ địa hình đáy sông theo định kỳ, không giám sát sạt lỡ đường bờ,…, 09/12 mỏ không thả phao xác định vị trí, giới hạn khu vực mỏ, 02/12 mỏ không thực hiện chế độ báo cáo định kỳ về hoạt động khoáng sản, 02/12 mỏ không có hồ sơ thiết kế mỏ và 01/12 mỏ không bổ nhiệm giám đốc điều hành mỏ. Đoàn kiểm tra lập biên bản ghi nhận tất cả các lỗi vi phạm của từng đơn vị và sẽ có kết luận, kiến nghị hình thức xử lý cụ thể sau đợt kiểm tra.


29/07/2011 12:00 SAĐã ban hành
Thông báo về việc kiểm tra hiện trạng sử dụng đất, nhà ở và công trình đã xây dựng và điều kiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất, bán nhà ở của Khu nhà ở Tân Phú Đông của Công ty TNHH MTV thương mại dịch vụ xây dựng Bảo TrâmThông báo về việc kiểm tra hiện trạng sử dụng đất, nhà ở và công trình đã xây dựng và điều kiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất, bán nhà ở của Khu nhà ở Tân Phú Đông của Công ty TNHH MTV thương mại dịch vụ xây dựng Bảo Trâm
Thông báo về việc kiểm tra hiện trạng sử dụng đất, nhà ở và công trình đã xây dựng và điều kiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất, bán nhà ở của Khu nhà ở Tân Phú Đông của Công ty TNHH MTV thương mại dịch vụ xây dựng Bảo Trâm

     Sở Tài nguyên và Môi trường có tiếp nhận hồ sơ đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho người nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua nhà ở trong dự án Khu nhà ở Tân Phú Đông của Công ty TNHH MTV thương mại dịch vụ xây dựng Bảo Trâm đối với các thửa đất số: 1089, 1091, 1092, 1093, 1094, 1095, 1096, 1097, 1098 tờ bản đồ số 4, tại xã Bình Phú, thành phố Bến Tre.

     Qua kết quả kiểm tra về hiện trạng sử dụng đất, nhà ở và công trình đã xây dựng và điều kiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất, bán nhà ở theo Điều 188 của Luật Đất đai năm 2013 đối với các thửa đất số: 1089, 1091, 1092, 1093, 1094, 1095, 1096, 1097, 1098 tờ bản đồ số 4, tại xã Bình Phú, thành phố Bến Tre thuộc dự án Khu nhà ở Tân Phú Đông của Công ty TNHH MTV thương mại dịch vụ xây dựng Bảo Trâm. Sở Tài nguyên và Môi trường chuyển toàn bộ hồ sơ đã kiểm tra cho Văn phòng Đăng ký đất đai để làm thủ tục đăng ký nhà, đất cho bên nhận chuyển nhượng, mua nhà ở tại dự án theo quy định.

Chi tiết xem tại: 2106_2019_TB_STNMT.pdf


16/07/2019 2:00 CHĐã ban hành
Bến Tre thực hiện quy định về thiết lập hành lang bảo vệ bờ biểnBến Tre thực hiện quy định về thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển
Ngày 20/02/2017, UBND tỉnh ban hành Công văn số 585/UBND-KT chỉ đạo các sở, ban ngành và các huyện ven biển về việc thực hiện quy định tại Điều 79 của Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo.

​       Ngày 20/02/2017, UBND tỉnh ban hành Công văn số 585/UBND-KT chỉ đạo các sở, ban ngành và các huyện ven biển về việc thực hiện quy định tại Điều 79 của Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo.

         Theo quy định tại khoản 1, Điều 79 của Luật tài nguyên và môi trường biển và hải đảo "Kể từ thời điểm Luật này được công bố (tức là ngày 08/7/2015), giữ nguyên hiện trạng", không được phép đầu tư, xây dựng mới công trình trong phạm vi 100m tính từ đường mực nước triều cao trung bình nhiều năm về phía đất liền hoặc về phía trong đảo do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có biển xác định theo hướng dẫn của Bộ Tài nguyên và Môi trường (tại Công văn số 3628/BTNMT-TCBHĐVN ngày 01/9/2015 về việc thực hiện quy định tại Điều 79 của Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo) cho đến khi hành lang bảo vệ bờ biển được thiết lập theo quy định của Luật này, trừ các trường hợp sau: (01) Xây dựng mới công trình phục vụ mục đích quốc phòng, an ninh, phòng, chống thiên tai, sạt lở bờ biển, ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng, bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa; (02) Xây dựng mới công trình theo dự án đầu tư phục vụ lợi ích quốc gia, công cộng được Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, người đứng đầu bộ, cơ quan trung ương, Hội đồng nhân dân, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có biển quyết định chủ trương đầu tư; (03) Xây dựng công trình theo dự án đầu tư đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định đầu tư hoặc xây dựng công trình đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép xây dựng trước thời điểm Luật này được công bố.

      Thực hiện Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016, để tăng cường công tác quản lý quy hoạch, đầu tư xây dựng và đảm bảo khai thác hiệu quả, bền vững quỹ đất ven biển, ứng phó, thích nghi với biến đổi khí hậu và nước biển dâng, UBND tỉnh đã có ý kiến chỉ đạo tại Công văn số 585/UBND-KT ngày 20/02/2017 về việc thực hiện quy định tại Điều 79 của Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo. UBND tỉnh Bến Tre yêu cầu các Sở, ban, ngành có liên quan và UBND 3 huyện ven biển thực hiện một số nội dung trọng tâm sau:

       Một là, tiếp tục thực hiện nghiêm Chỉ thị số 20/CT-TTg ngày 27/7/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường công tác quản lý quy hoạch, đầu tư xây dựng và quản lý đất đai các dự án ven biển.

       Hai là, có trách nhiệm rà soát, báo cáo việc quản lý, sử dụng hành lang bờ biển; số lượng cụ thể các công trình, dự án của các tổ chức doanh nghiệp sẽ bị ảnh hưởng và đánh giá sơ bộ mức độ ảnh hưởng của các dự án này khi áp dụng quy định tại Khoản 1 Điều 79 của Luật tài nguyên và môi trường biển và hải đảo, phân loại theo nhóm gồm: các dự án đã được giao đất, cho thuê đất; các dự án đã được phê duyệt quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500, nhưng chưa thực hiện thủ tục giao đất, cho thuê đất; các dự án được chấp thuận chủ trương đầu tư , nhưng chưa phê duyệt quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500; đề xuất UBND tỉnh chủ trương xử lý chung.

        Ba là, kiểm tra, đánh giá sự phù hợp của các dự án đầu tư tại khu vực ven biển với quy hoạch xây dựng đã được phê duyệt; rà soát tổng thể các dự án để điều chỉnh quy hoạch xây dựng gắn với quy hoạch sử dụng đất đảm bảo lợi ích cộng đồng dân cư và doanh nghiệp đầu tư trên địa bàn; khai thác sử dụng không gian ven biển hiệu quả, thích ứng với biến đổi khí hậu và đảm bảo an ninh quốc phòng, đảm bảo quỹ đất bố trí hạ tầng kỹ thuật, khu du lịch, công viên, khu vực bảo tồn, phòng hộ…         

          Đồng thời giao cho Sở Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với các sở, ban, ngành có liên quan và UBND 3 huyện ven biển xây dựng Đề án "Thiết lập và quản lý hành lang bảo vệ bờ biển trên địa bàn tỉnh Bến Tre" đúng theo thời gian Luật định./.

Vĩnh Thịnh

24/02/2017 7:30 SAĐã ban hành
Công văn 2400/STNMT-CCBVMT Về việc thông báo lô hàng phế liệu nhập khẩu để kiểm tra, thông quan cảng nhập Bình DươngCông văn 2400/STNMT-CCBVMT Về việc thông báo lô hàng phế liệu nhập khẩu để kiểm tra, thông quan cảng nhập Bình Dương
Về việc thông báo lô hàng phế liệu nhập khẩu để kiểm tra, thông quan cảng nhập Bình Dương

​Tải văn bản: 2400_STNMT_CCBVMT_2018.pdf

07/09/2018 8:00 SAĐã ban hành
Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận Tháng 5 năm 2018Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận Tháng 5 năm 2018
Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận Tháng 5 năm 2018

Tải nội dung: danh_sach_huy_gcn_T05_2018.xls

31/05/2018 9:00 SAĐã ban hành
HỘI THẢO VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG CHĂN NUÔIHỘI THẢO VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG CHĂN NUÔI
Trong khuôn khổ dự án Hợp phần kiểm soát ô nhiễm môi trường trong khu vực đông dân cư nghèo Việt Nam - Đan Mạch
Trong khuôn khổ dự án Hợp phần kiểm soát ô nhiễm môi trường trong khu vực đông dân cư nghèo Việt Nam - Đan Mạch; trên cơ sở Kế hoạch Liên tịch, ngày 30 tháng 9 năm 2007, Sở Tài nguyên và Môi trường phối hợp với Hội Nông dân tỉnh tổ chức Hội thảo bảo vệ môi trường trong chăn nuôi tại xã Phú Lễ, huyện Ba Tri. Đến tham dự hội thảo có Lãnh đạo Sở Tài nguyên và Môi trường, đại diện Lãnh đạo Ủy ban nhân dân huyện Ba Tri, Hội Nông dân tỉnh, Ủy ban nhân dân xã Phú Lễ và hơn 80 bà con nông dân của xã Phú Lễ.

Nội dung hội thảo giới thiệu dự án Hợp phần kiểm soát ô nhiễm môi trường trong khu vực đông dân cư nghèo Việt Nam - Đan Mạch, báo cáo tình hình phát chăn nuôi, triển khai Luật Bảo vệ môi trường, Quy định chăn nuôi của Ủy ban nhân dân tỉnh và giới thiệu mô hình xử lý chất thải trong chăn nuôi.

Qua buổi hội thảo nhằm giúp cho người dân hiểu biết pháp luật bảo vệ môi trường, nâng cao kiến thức về biện pháp xử lý chất thải trong chăn nuôi để góp phần bảo vệ, giữ gìn môi trường trong sạch./.

Sở TN-MT

04/10/2007 12:00 SAĐã ban hành
1 - 30Next
Ảnh
Video
SỞ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG TỈNH BẾN TRE
Chịu trách nh​iệm chính: Ông Nguyễn Văn Chinh - Chức vụ: Giám đốc Sở TN và MT | Giấy phép số: 139/GP - BC, ngày 16 tháng 4 năm 2007
Địa chỉ trụ sở: Số 01 - Trần Quốc Tuấn - Phường 2 - Thành phố Bến Tre - Tỉnh Bến Tre
Điện thoại: 0275.3822210 - 0275.3211494 - Fax: 0275.3813176; Email: stnmt@bentre.gov.vn