Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksTin tức sự kiện

 
Tin tức sự kiện - Hỏi đáp pháp luật về TN-MT
 
Ngày 5/8 tại Hà Nội, Tổng cục Quản lý Đất đai (TCQLĐĐ) đã tổ chức Hội thảo “Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và giao đất, cho thuê đất”. Chủ trì Hội thảo có Quyền Tổng cục trưởng TCQLĐĐ Phùng Văn Nghệ và lãnh đạo TCQLĐĐ. Tham dự còn có đại diện Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chính phủ, các Giám đốc, Phó giám đốc Sở TN&MT các tỉnh và đông đảo chuyên gia, các nhà khoa học … 



Tìm hiểu về Luật Bảo vệ môi trường


  • Câu hỏi:

  • Chặt phá rừng trái phép và đánh bắt thủy hải sản bằng xung điện, thuốc nổ ở biển, sông, kênh rạch, có bị coi là vi phạm pháp luật? Người vi phạm sẽ bị xử lý như thế nào?




     
     



    Góp phần tháo gỡ vướng mắc xung quanh thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất


    Việc sử dụng đất và xúc tiến thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là vấn đề hệ trọng, có liên quan mật thiết đến quyền lợi và nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức, ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển kinh tế-xã hội, bảo vệ và phát triển môi trường bền vững. Để đáp ứng nhu cầu quản lý và tìm hiểu các quy định của pháp luật về đất đai, trên cơ sở nội dung phản ánh trong các buổi Giao lưu trực tuyến giữa Bộ Tài nguyên và Môi trường với người sử dụng đất; tổng hợp từ các yêu cầu, đề nghị, hướng dẫn, giải đáp pháp luật của các địa phương, và thực tiễn kiểm tra, thực hiện pháp luật tài nguyên và môi trường trong thời gian qua, Sở Tài nguyên và Môi trường Bến Tre có chọn lọc lại nhiều trường hợp điển hình, thường xảy ra để người sử dụng đất tham khảo, vận dụng vào thực tiễn.


  • 1. Câu hỏi số 104:

  • Tôi được Cơ quan (Doanh nghiệp Nhà nước) cấp cho gần 140 m2 đất để làm nhà ở từ năm 1990. Năm 2000, tôi xin làm giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất, được UBND phường xác nhận không tranh chấp, không vướng quy hoạch. Sau đó được tổ 60 CP-Cục thuế tính số tiền phải nộp là gần 27 triệu đồng (20% giá đất). Do chưa có tiền nộp nên cuối năm 2003, tôi liên hệ lại, thì được thông báo phải nộp gần 90 triệu đồng (40% giá đất) như vậy có đúng không? Được biết hiện nay các trường hợp như của tôi, đều được hợp thức hóa và không phải nộp thuế đất?


  • Trả lời:

  • Câu hỏi của Bạn chưa nói rõ nguồn tiền để làm nhà ở. Trường hợp Bạn tự bỏ tiền để xây dựng nhà ở thì Bạn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 4 Điều 50 Luật Đất đai năm 2003 và Bạn không phải nộp tiền sử dụng đất. Trường hợp nhà ở được xây dựng từ nguồn kinh phí của Nhà nước thì Bạn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Nghị định số 61/CP ngày 05/7/1994 của Chính phủ về mua bán và kinh doanh nhà ở; Bạn phải nộp 40% tiền sử dụng đất.


  • 2. Câu hỏi số 105:

  • Tôi dự định mua đất ở để xây nhà, người bán cho biết đây là đất tổ tiên, giấy tờ mua bán được viết tay (không có công chứng). Nếu tôi xin xây dựng trước và sau này làm giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà có được không? Và cách đóng thuế ra sao? Nếu sau này Nhà nước qui hoạch vào phần đất này thì tôi có được đền bù không?


  • Trả lời:

  • Theo quy định của pháp luật về xây dựng, để được cấp giấy phép xây dựng, người sử dụng đất phải xuất trình giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Như vậy, thửa đất phải được cấp giấy chứng nhận sau đó mới được xem xét để được cấp giấy phép xây dựng.
    Người nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất muốn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải đóng thuế chuyển quyền sử dụng đất, lệ phí trước bạ và lệ phí địa chính. Trường hợp đất thuộc khu vực chưa có quy hoạch thì sau này khi Nhà nước thu hồi, người sử dụng đất được bồi thường, hỗ trợ tái định cư. Trường hợp đất tại vùng quy hoạch thì chỉ được bồi thường về đất, không được bồi thường về nhà nếu nhà xây dựng sau khi quy hoạch được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và công bố.


  • 3. Câu hỏi số 106:

  • Tôi có 1 mảnh đất 200m2 có nguồn gốc đất là nông nghiệp đã kê khai và đã nộp đầy đủ thuế nhà đất từ trước ngày 15/10/1993 nhưng còn để đất trống. Nay tôi làm đơn xin cấp cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở thì đất đó có được xem là ở ổn định và có được cấp cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở không? nếu được cấp thì tôi phải nộp những loại thuế nào cho Nhà nước?


  • Trả lời:

  • Việc chuyển mục đích sử dụng đất phải phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xét duyệt. Trường hợp thửa đất của Bạn phù hợp với các quy hoạch và kế hoạch đã được xét duyệt thì Bạn phải thực hiện thủ tục xin chuyển mục đích sử dụng đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khi được UBND cấp huyện nơi có đất cho phép bạn được chuyển mục đích sử dụng đất sang đất ở và Bạn thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước gồm: tiền sử dụng đất (tiền chuyển mục đích sử dụng đất), lệ phí trước bạ, lệ phí địa chính thì Bạn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở. Bạn có thể đến phòng Tài nguyên và Môi trường cấp huyện nơi có đất để được hướng dẫn chi tiết các thủ tục nêu trên.


  • 4. Câu hỏi số 107:

  • Gia đình tôi hiện đã được UBND Thị xã cấp GCNQSDĐ theo hạn mức đất ở là 350m2 trong tổng diện tích 700m2. Số diện tích đất vườn còn lại được xác định là tạm giao. Tôi được biết có quy định: “Nếu hộ gia đình đã được cấp GCNQSDĐ mà nay có nhu cầu chuyển mục đích sử dụng đất của diện tích đất vườn, ao liền kề đất ở trong khu vực dân cư thì không phải nộp tiền sử dụng đất”. Sau khi trực tiếp hỏi cán bộ phòng Tài nguyên và Môi trường thì được trả lời: UBND Thị xã chưa có chủ trương thực hiện quy định này tại địa phương. Vậy cách giải thích này có căn cứ không? Và phải chăng chủ trương này chỉ được thực hiện tại một số địa phương nhất định?


  • Trả lời:

  • Diện tích 350m2 còn lại có phải là đất vườn hay không, phải căn cứ vào quy định của UBND tỉnh về hạn mức công nhận đất ở thì khi chuyển từ vườn sang xây dựng nhà ở thì không phải nộp tiền sử dụng đất; trường hợp 350m2 (vườn) không được công nhận là ở thì khi chuyển mục đích sang xây dựng nhà ở phải nộp tiền sử dụng đất bằng 50% chênh lệch giữa thu tiền sử dụng đất tính theo giá đất ở với thu tiền sử dụng đất tính theo giá đất nông nghiệp.


  • 5. Câu hỏi số 108:

  • Do khó khăn về nhà ở, vợ chồng tôi được UBND tỉnh bán cho một lô đất. Quyết định giao đất chỉ ghi tên 2 vợ chồng tôi; trong khi đó, bố tôi là thương binh hạng ¾ đang sống chung cùng chúng tôi. Vậy theo Pháp lệnh về người có công với cách mạng và Luật Đất đai năm 2003, vợ chồng tôi có được miễn, giảm việc nộp tiền sử dụng đất không?


  • Trả lời:

  • Trong trường hợp chỉ có hai vợ chồng Bạn được giao đất ở thì không được hưởng chế độ miễn, giảm tiền sử dụng đất của bố đẻ của Bạn. Nếu đất ở được giao cho hộ gia đình của Bạn (trong hộ bao gồm cả bố đẻ của Bạn) thì chế độ miễn, giảm tiền sử dụng đất đối với bố đẻ của Bạn cũng được tính trừ vào số tiền sử dụng đất mà gia đình Bạn phải nộp.


  • 6. Câu hỏi số 109:

  • Đất trước đây được Nhà nước cấp đất để sản xuất nông nghiệp cho tổ chức. Sau đó, tổ chức lại phân chia đất ở cho cán bộ công nhân viên đã làm nhà ở ổn định trước 15/10/1993. Nay đăng ký quyền sử dụng đất có phải nộp tiền sử dụng đất?


  • Trả lời:

  • Trường hợp này, theo quy định của pháp luật hiện hành thì tổ chức phải bàn giao khu đất đã chia cho cán bộ công nhân viên ở cho chính quyền địa phương quản lý. Nếu phù hợp quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng, không có tranh chấp, được UBND cấp xã nơi có đất xác nhận sử dụng đất ổn định trước ngày 15/10/1993 thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất trong thời hạn mức giao đất theo quy định của UBND tỉnh.


  • 6. Câu hỏi số 59:

  • Phương pháp nhận dạng sổ đỏ thật và giả


  • Trả lời:

  • Để thống nhất quản lý về GCNQSDĐ và ngăn ngừa các trường hợp làm giả GCNQSDĐ, Bộ TN & MT đã ban hành Quyết định số 08/2006/QĐ-TNMT ngày 21 tháng 7 năm 2006 ban hành Quy định về GCNQSDĐ (thay thế Quyết định số 24/2004/QĐ-BTNMT ngày 01 tháng 11 năm 2004 ban hành Quy định về GCNQSDĐ). Theo đó GCNQSDĐ được in bằng loại giấy đặc biệt, có số sê-ri phát hành thống nhất trên phạm vi toàn quốc và dấu nổi của Bộ TN & MT.
    Để tránh việc làm giả GCNQSDĐ, mọi giao dịch về QSDĐ phải được công chứng tại Phòng công chứng hoặc chứng thực tại UBND xã, Thị trấn nơi có đất và phải đăng ký tại các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật, gồm: Văn phòng đăng ký QSDĐ thuộc Sở TN & MT, Văn phòng đăng ký QSDĐ thuộc Phòng Tài Nguyên và Môi Trường (nơi chưa có Văn phòng Đăng ký QSDĐ thì thực hiện tại Phòng Tài Nguyên và Môi Trường) nơi có đất. Các cơ quan nêu trên khi thực hiện công chứng, chứng thực hoặc đăng ký các giao dịch có trách nhiệm kiểm tra GCNQSDĐ và đối chiếu với hồ sơ địa chính gốc đang lưu giữ để xác nhận tính hợp pháp của GCNQSDĐ.


  • 8. Câu hỏi số 62:

  • Xin cho biết thế nào gọi là đất công? Vì hiện nay thường các cơ quan chính quyền, nhà đất lạm dụng từ này làm khó dân chúng. Việc địa phương tiếp tục quy định có hộ khẩu thì mới được cấp giấy tờ nhà đất có đúng không?


  • Trả lời:

  • Theo qui định của pháp luật về đất đai, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý.Vì vậy, không có sở hữu tư nhân về đất đai nên không còn khái niệm “đất tư”, mà đất đai ở nước ta thuộc sở hữu toàn dân nên cũng có thể gọi toàn bộ vốn đất đai quốc gia dù đã giao để cho thuê hay chưa được giao, cho thuê cho bất kỳ tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nào sử dụng đều là “đất công”. Trong thực tế hiện nay, thuật ngữ “đất công” hay được sử dụng ở các tỉnh phía Nam nhằm đề cập tới khái niệm “công điền, công thổ” được sử dụng trong các văn bản pháp luật về đất đai của chế độ cũ. Mặt khác, tại các tỉnh miền Bắc, miền Trung, thuật ngữ “đất công” còn được sử dụng để đề cập đến khái niệm “đất công ích”. Trong pháp luật hiện hành về đất đai chỉ có khái niệm đất được sử dụng vào mục đích gì và do ai sử dụng chứ không có thuật ngữ “đất công”.
    Như vậy, việc sử dụng thuật ngữ “đất công” để áp dụng pháp luật là không đúng. Theo qui định của pháp luật về đất đai thì khi cấp GCNQSDĐ không có điều kiện về hộ khẩu thường trú. Việc quy định phải có hộ khẩu thường trú mới cấp GCNQSDĐ là không phù hợp với quy định của pháp luật.
    (Nguồn: Hỏi đáp pháp luật về tài nguyên và môi trường - Bộ TNMT-Nhà xuất bản bản đồ )


    Phòng QLĐĐ



     
     
     
     
      
      
    Tóm tắt
    Nội dung
      
      
    Tóm tắt Kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng tỉnh Bến TreTóm tắt Kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng tỉnh Bến Tre
    Kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng tỉnh Bến Tre năm 2015 được cập nhật theo Kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho Việt Nam năm 2012 trên cơ sở kế thừa các nghiên cứu, số liệu Kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng tỉnh Bến Tre năm 2011 và cập nhật mới đến năm 2014

    ​Tải nội dung: 9. KichBan_BĐKH.7z

    09/01/2017 9:40 SAĐã ban hành
    Thông báo mời thầu - Gói thầu: Xây dựng Bảng giá các loại đất trên địa bàn tỉnh Bến Tre giai đoạn 2020 - 2024Thông báo mời thầu - Gói thầu: Xây dựng Bảng giá các loại đất trên địa bàn tỉnh Bến Tre giai đoạn 2020 - 2024
    Gói thầu: Xây dựng Bảng giá các loại đất trên địa bàn tỉnh Bến Tre giai đoạn 2020 - 2024

    Thông tin chung

    Tên Bên mời thầu: Chi cục Quản lý đất đai tỉnh Bến Tre

    Tên gói thầu: Xây dựng Bảng giá các loại đất trên địa bàn tỉnh Bến Tre giai đoạn 2020 - 2024

    Số E-TBMT trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia: 20190625575-00.

    Ngày đăng tải trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia: Lúc 11 giờ 24 phút ngày 13/6/2019

    Số báo 109 ngày 14/6/2019 trên Báo đấu thầu.

    Nguồn vốn: Sự nghiệp kinh tế năm 2019 và năm 2020

    Hình thức lựa chọn nhà thầu: Đấu thầu rộng rãi trong nước.

    Phương thức lựa chọn nhà thầu: Một giai đoạn 02 túi hồ sơ.

    Loại hợp đồng: Trọn gói

    Chi tiết xem tại: 48_2019_TB_CCQLDD.pdf

    17/06/2019 3:00 CHĐã ban hành
    Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Tháng 12 năm 2019Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Tháng 12 năm 2019
    Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Tháng 12 năm 2019
    31/12/2019 10:00 SAĐã ban hành
    Tập huấn các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý tài nguyên nước và khoáng sảnTập huấn các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý tài nguyên nước và khoáng sản
    Ngày 8 tháng 8 năm 2017, tại Hội trường số 3 Tỉnh Ủy, Sở Tài nguyên và Môi trường tổ chức lớp tập huấn các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý tài nguyên nước và khoáng sản

    08.8.TapHuan_VB_QPPL_QLTN-KS-1.jpg

    Ông Trịnh Minh Khôi - Chánh Văn phòng Sở phát biểu khai mạc lớp tập huấn. (Ảnh: Duy Anh)

           Trong thời gian qua, tình hình khai thác cát trái phép trên địa bàn tỉnh nói riêng, cả nước nói chung có những diễn biến phức tạp. Nguyên nhân do nhu cầu sử dụng cát làm vật liệu san lấp rất lớn, trong khi lượng cát bổ cập từ thượng nguồn về ngày càng giảm. Trước tình hình trên, Ủy ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo các ngành, các cấp thực hiện nghiêm túc, những quy định pháp luật hiện hành, các văn bản chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; đồng thời triển khai thực hiện quyết liệt, đồng bộ nhiều biện pháp, giải pháp để xử lý có hiệu quả với nạn khai thác cát trái phép này.     

            Nhằm góp phần nâng cao năng lực cán bộ trong thực thi công vụ và hiệu quả công tác quản lý Nhà nước, ngày 8 tháng 8 năm 2017, tại Hội trường số 3 Tỉnh Ủy, Sở Tài nguyên và Môi trường tổ chức lớp tập huấn các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý tài nguyên nước và khoáng sản.

             Đến tham dự và chủ trì có Ông Lê Văn Đáo - Phó Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường cùng sự tham gia của gần 200 Đại biểu là đại diện các sở, ngành liên quan; Công an tỉnh; Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh; Ủy ban nhân dân, Phòng Tài nguyên và Môi trường các huyện, thành phố Bến Tre; Đoàn kiểm tra liên ngành khoáng sản tỉnh, huyện; Ủy ban nhân dân 164 xã, phường, thị trấn; và các Công ty, Hợp tác xã khai thác cát trên địa bàn tỉnh.

    08.8.TapHuan_VB_QPPL_QLTN-KS-3.png
                                  Quan cảnh lớp tập huấn. (Ảnh: Duy Anh)

            Lớp tập huấn đã phổ biến, cập nhật các chính sách, pháp luật về tài nguyên của Trung ương và Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành trong thời gian gần đây để áp dụng vào công tác thanh tra, kiểm tra và quản lý trên địa bàn tỉnh. Trong đó, nội dung tập huấn tập trung vào các văn bản Quy phạm pháp luật như Nghị định 158/2016/ND-CP ngày 29 tháng 11 năm 2016 quy định chi tiết thi hành một số điều Luật khoáng sản; Nghị định số 33/2017/NĐ-CP ngày 03 tháng 4 năm 2017 xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản; Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18 tháng 11 năm 2016 xử phạt hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường; Quyết định số 27/2017/QĐ-UBND ngày 19 tháng 5 năm 2017 ban hành quy chế quản lý hoạt động khoáng sản tỉnh Bến Tre. Bên cạnh đó, các Đại biểu tham dự tập huấn đã trao đổi, thảo luận, chia sẻ những khó khăn, kinh nghiệm trong thực hiện nhiệm vụ.

    Huỳnh Lê Duy Anh
    08/08/2017 4:00 CHĐã ban hành
    BÀN GIAO FILE BẢN ĐỒ QUY HOẠCHBÀN GIAO FILE BẢN ĐỒ QUY HOẠCH
    Ngày 08/01/2007, Trung tâm Thông tin thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường đã tiến hành bàn giao file bản đồ quy hoạch



    - Ngày 08/01/2007, Trung tâm Thông tin thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường đã tiến hành bàn giao files bản đồ quy hoạch đô thị Thị xã Bến Tre cho Phòng Tài nguyên và Môi trường Thị xã. Các files bản đồ này trước đây do Sở Xây dựng thực hiện trên phần mềm Autocad(*.dwg) nên chưa tham chiếu trực tiếp được đến các thửa đất trên bản đồ địa chính. Từ tháng 9-2004, Trung tâm Thông tin Tài nguyên và Môi trường tiếp nhận các files bản đồ này và biên tập, chồng ghép lên bản đồ địa chính trên phần mềm chuyên ngành địa chính là Microstation(*.dgn) để xác nhận thông tin quy hoạch được đến từng thửa đất cho người sử dụng đất.


    - Trong thời gian tới, Sở Tài nguyên và Môi trường sẽ có kế hoạch biên tập, chồng ghép các files bản đồ quy hoạch xây dựng đã hoàn thành ở các thị trấn, khu dân cư, khu đô thị mới… lên bản đồ địa chính để chuyển giao cho các địa phương thực hiện công tác quản lý nhà nước về đất đai được hiệu quả vì mục đích phục vụ nhân nhân ngày càng tốt hơn./.


    Trung tâm Thông tin



    19/09/2007 12:00 SAĐã ban hành
    “Hãy bảo vệ đất ngập nước vì tương lai chúng ta”“Hãy bảo vệ đất ngập nước vì tương lai chúng ta”
    Công ước về các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế (công ước Ramsar) được ký ngày 02/02/1971 tại thành phố Ramsar, Iran. Để kỷ niệm sự kiện này, các nước đã chọn ngày 02/02 hàng năm là Ngày Đất ngập nước thế giới và tổ chức các hoạt động kỷ niệm nhằm nâng cao nhận thức về các giá trị, lợi ích của đất ngập nước, khuyến khích bảo tồn và sử dụng bền vững các vùng đất ngập nước.

     Việt Nam tham gia công ước từ năm 1989, là quốc gia đầu tiên trong khu vực Đông Nam Á và là một trong 168 quốc gia tham gia công ước này. Kể từ năm 1997 đến nay, kỷ niệm Ngày Đất ngập nước đã trở thành một hoạt động thường niên và được các địa phương tích cực hưởng ứng.




         Chủ đề Ngày Đất ngập nước thế giới năm 2015 là “Hãy bảo vệ đất ngập nước vì tương lai chúng ta” nhằm nâng cao nhận thức của quần chúng nhân dân về tầm quan trọng của các vùng đất ngập nước và kêu gọi cộng đồng cùng tham gia vào các hoạt động bảo tồn, phát triển bền vững tại các vùng đất ngập nước.
    Đất ngập nước là gì?

         Theo công ước Ramsar, đất ngập nước gồm: những vùng đầm lầy, miền đầm lầy, vùng đất than bùn, vùng đất tự nhiên hoặc nhân tạo, có thể tồn tại lâu dài hay tạm thời, có nước tĩnh hoặc nước chảy, là nước ngọt, nước lợ hay nước mặn, bao gồm cả những vùng nước biển có độ sâu không quá 6 mét khi triều kiệt.

         Đất ngập nước có vai trò như thế nào?

         Đất ngập nước đảm bảo cung cấp nước sạch: Chỉ 3% lượng nước trên thế giới là nước ngọt và hầu hết chúng tồn tại ở dạng đóng băng. Tuy nhiên, mỗi người cần 20-50 lít nước phục vụ ăn uống và làm sạch hàng ngày. Đất ngập nước cung cấp nước và bổ sung các tầng chứa nước ngầm phục vụ nhu cầu của con người.

         Đất ngập nước làm sạch và lọc các chất có hại từ nước thải: Các loài thực vật trong vùng đất ngập nước có thể giúp hấp thụ phân bón, thuốc trừ sâu, kim loại nặng và các chất độc từ ngành công nghiệp. Một vùng đất ngập nước vài chục hecta có khả năng lọc và xử lý nước thải tương đương với một trạm xử lý nước nhiều triệu đô-la.

         Đất ngập nước nuôi sống nhân loại: Đất ngập nước cung cấp 20% nguồn thực phẩm trên toàn cầu. Lúa nước là cây lương thực nuôi sống gần 3 tỉ người trên thế giới và chúng được trồng trên các ruộng đất ngập nước. Hằng năm, mỗi người tiêu thụ 19 kg cá. Hầu hết các giống cá sinh sản và phát triển trong đầm lầy ven biển và cửa sông. 70% nước ngọt trên thế giới được sử dụng để tưới cho cây trồng.

         Đất ngập nước chứa đựng giá trị đa dạng sinh học cao: Đất ngập nước là nhà của hơn 100.000 loài nước ngọt, là nơi cần thiết cho cuộc sống của nhiều loài động vật hoang dã, đặc biệt là các loài chim nước.

         Đất ngập nước đóng vai trò hấp thụ nước tự nhiên: Vùng đất than bùn và cỏ ướt trong lưu vực sông hấp thụ nước mưa. Bằng cách giữ và điều hòa lượng nước mưa như “bồn chứa” tự nhiên, giải phóng nước lũ từ từ, từ đó có thể làm giảm hoặc hạn chế lũ lụt ở vùng hạ lưu.

         Đất ngập nước giúp chống lại biến đổi khí hậu: Nhiều nghiên cứu cho thấy, đất ngập nước có thể làm giảm những tác động từ biến đổi khí hậu, mặc dù chỉ chiếm 6-8% diện tích bề mặt Trái đất. Các vùng đất than bùn lưu trữ lượng các-bon gấp đôi so với tất cả các khu rừng trên thế giới. Đối mặt với nước biển dâng, vùng đất ngập nước ven biển giảm tác động của bão và sóng thần, giúp giảm thiểu và chống xói mòn.

         Đất ngập nước cung cấp các sản phẩm và sinh kế bền vững: Gần 62 triệu người trên thế giới phụ thuộc trực tiếp đánh bắt thủy sản để kiếm sống. Các hệ sinh thái đất ngập nước có nhiều thuận lợi cho du lịch sinh thái, xây dựng các khu dự trữ sinh quyển, vườn quốc gia,..
    Điều gì sẽ xảy ra khi tương lai không có đất ngập nước?

         Theo ước tính 64% các vùng đất ngập nước trên thế giới đã biến mất kể từ năm 1900. Sự suy giảm nhanh chóng của các vùng đất ngập nước đồng nghĩa với việc tiếp cận nguồn nước ngọt của 1-2 tỉ người trên thế giới bị ảnh hưởng. Đa dạng sinh học cũng bị ảnh hưởng, quần thể các loài nước ngọt đã giảm 76% trong giai đoạn từ năm 1970-2010.

         Nguyên nhân chính làm mất và suy thoái các vùng đất ngập nước là những thay đổi lớn trong sử dụng đất, đặc biệt gia tăng trong nông nghiệp và chăn thả gia súc. Ô nhiễm không khí, nước và dư thừa chất dinh dưỡng.

         Bảo vệ tương lai của chúng ta: bạn có thể làm gì?

         Bằng kinh nghiệm của bản thân bạn có thể giúp nâng cao nhận thức của mọi người xung quanh về những lợi ích mà các vùng đất ngập nước mang lại.

         Tổ chức các hoạt động làm sạch môi trường ở nơi sống và ở các vùng đất ngập nước, tuyên truyền nâng cao nhận thức của người dân về bảo vệ môi trường.

         Việt Nam có những khu Ramsar nào được quốc tế công nhận?

         Đến tháng 11/2014, Việt Nam có 6 khu ramsar được công nhận: khu ramsar Côn Đảo (Bà Rịa-Vũng Tàu), khu ramsar Tràm Chim (Đồng Tháp), khu ramsar Mũi Cà Mau (Cà Mau), khu ramsar Giao Thủy (Nam Định), khu ramsar Bàu Sấu (Đồng Nai) và khu ramsar Ba Bể (Bắc Kạn).

         Bến Tre bảo tồn đất ngập nước như thế nào?

         Bến Tre được hình thành từ 3 dãi cù lao lớn nằm ở cuối nguồn sông Cửu Long, nơi giao lưu giữa sông và biển, vùng cửa sông đã hình thành hệ sinh thái đất ngập nước khá độc đáo và có tầm quan trọng trong việc bảo vệ môi trường sinh thái, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

         Đất ngập nước Bến Tre thuộc 02 nhóm chính là đất thấp ngập nước ven biển và đất ngập nước triều, với 11 kiểu loại khác nhau, hình thành nên 04 hệ sinh thái: nông nghiệp ven biển, vùng cửa sông hình phểu, bãi cát biển và rừng ngập mặn. Từ năm 1998 đến nay, với sự hỗ trợ của Trung ương, Bến Tre đã đầu tư kinh phí xây dựng và bảo vệ các vùng đất ngập nước phân bố ở 03 huyện: Bình Đại, Ba Tri và Thạnh Phú. Đặc biệt tỉnh đã thành lập sân chim Vàm Hồ (Ba Tri) và Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Thạnh Phú là 02 vùng đất ngập nước có tầm quan trọng khu vực, quốc gia và quốc tế, là nơi cư trú của các loài chim nước.




    25/02/2015 4:00 CHĐã ban hành
    Bến Tre thực hiện quy định về thiết lập hành lang bảo vệ bờ biểnBến Tre thực hiện quy định về thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển
    Thực hiện Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016, để tăng cường công tác quản lý quy hoạch, đầu tư xây dựng và đảm bảo khai thác hiệu quả, bền vững quỹ đất ven biển, ứng phó, thích nghi với biến đổi khí hậu và nước biển dâng, UBND tỉnh đã có ý kiến chỉ đạo tại Công văn số 585/UBND-KT ngày 20/02/2017 về việc thực hiện quy định tại Điều 79 của Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo

    Theo quy định tại khoản 1, Điều 79 của Luật tài nguyên và môi trường biển và hải đảo "Kể từ thời điểm Luật này được công bố (tức là ngày 08/7/2015), giữ nguyên hiện trạng", không được phép đầu tư, xây dựng mới công trình trong phạm vi 100m tính từ đường mực nước triều cao trung bình nhiều năm về phía đất liền hoặc về phía trong đảo do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có biển xác định theo hướng dẫn của Bộ Tài nguyên và Môi trường (tại Công văn số 3628/BTNMT-TCBHĐVN ngày 01/9/2015 về việc thực hiện quy định tại Điều 79 của Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo) cho đến khi hành lang bảo vệ bờ biển được thiết lập theo quy định của Luật này, trừ các trường hợp sau: (01) Xây dựng mới công trình phục vụ mục đích quốc phòng, an ninh, phòng, chống thiên tai, sạt lở bờ biển, ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng, bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa; (02) Xây dựng mới công trình theo dự án đầu tư phục vụ lợi ích quốc gia, công cộng được Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, người đứng đầu bộ, cơ quan trung ương, Hội đồng nhân dân, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có biển quyết định chủ trương đầu tư; (03) Xây dựng công trình theo dự án đầu tư đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định đầu tư hoặc xây dựng công trình đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép xây dựng trước thời điểm Luật này được công bố.

    Thực hiện Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016, để tăng cường công tác quản lý quy hoạch, đầu tư xây dựng và đảm bảo khai thác hiệu quả, bền vững quỹ đất ven biển, ứng phó, thích nghi với biến đổi khí hậu và nước biển dâng, UBND tỉnh đã có ý kiến chỉ đạo tại Công văn số 585/UBND-KT ngày 20/02/2017 về việc thực hiện quy định tại Điều 79 của Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo. UBND tỉnh Bến Tre yêu cầu các Sở, ban, ngành có liên quan và UBND 3 huyện ven biển thực hiện một số nội dung trọng tâm sau:

    Một là, tiếp tục thực hiện nghiêm Chỉ thị số 20/CT-TTg ngày 27/7/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường công tác quản lý quy hoạch, đầu tư xây dựng và quản lý đất đai các dự án ven biển.

    Hai là, có trách nhiệm rà soát, báo cáo việc quản lý, sử dụng hành lang bờ biển; số lượng cụ thể các công trình, dự án của các tổ chức doanh nghiệp sẽ bị ảnh hưởng và đánh giá sơ bộ mức độ ảnh hưởng của các dự án này khi áp dụng quy định tại Khoản 1 Điều 79 của Luật tài nguyên và môi trường biển và hải đảo, phân loại theo nhóm gồm: các dự án đã được giao đất, cho thuê đất; các dự án đã được phê duyệt quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500, nhưng chưa thực hiện thủ tục giao đất, cho thuê đất; các dự án được chấp thuận chủ trương đầu tư , nhưng chưa phê duyệt quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500; đề xuất UBND tỉnh chủ trương xử lý chung.

                  Ba là, kiểm tra, đánh giá sự phù hợp của các dự án đầu tư tại khu vực ven biển với quy hoạch xây dựng đã được phê duyệt; rà soát tổng thể các dự án để điều chỉnh quy hoạch xây dựng gắn với quy hoạch sử dụng đất đảm bảo lợi ích cộng đồng dân cư và doanh nghiệp đầu tư trên địa bàn; khai thác sử dụng không gian ven biển hiệu quả, thích ứng với biến đổi khí hậu và đảm bảo an ninh quốc phòng, đảm bảo quỹ đất bố trí hạ tầng kỹ thuật, khu du lịch, công viên, khu vực bảo tồn, phòng hộ…

    so_do_pham_vi_nc.jpg

    Đồng thời giao cho Sở Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với các sở, ban, ngành có liên quan và UBND 3 huyện ven biển xây dựng Dự án “Thiết lập và quản lý hành lang bảo vệ bờ biển trên địa bàn tỉnh Bến Tre” đúng theo thời gian Luật định./.

    Bài và ảnh: Vĩnh Thịnh

    28/11/2017 10:00 SAĐã ban hành
    Bản đồ tình hình xâm nhập mặn tỉnh Bến Tre từ ngày 17/4 đến ngày 25/4/2019Bản đồ tình hình xâm nhập mặn tỉnh Bến Tre từ ngày 17/4 đến ngày 25/4/2019
    Bản đồ tình hình xâm nhập mặn tỉnh Bến Tre từ ngày 17/4 đến ngày 25/4/2019
    26/04/2019 11:00 SAĐã ban hành
    Chỉ thị số 10 của tỉnh Ủy về nâng cao năng lực ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trườngChỉ thị số 10 của tỉnh Ủy về nâng cao năng lực ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường
    Chỉ thị số 10-CT/TU của tỉnh Ủy về nâng cao năng lực ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường

    ​Tải nội dung: 2. CHI THI 10.PDF

    09/01/2017 8:15 SAĐã ban hành
    GIẢI PHÁP XỬ LÝ RÁC THẢI CHỢ VÀ KHU DÂN CƯGIẢI PHÁP XỬ LÝ RÁC THẢI CHỢ VÀ KHU DÂN CƯ
    Dân số ngày càng tăng, điều kiện kinh tế, xã hội ngày càng phát triển, vì thế, nhu cầu tiêu dùng của người dân trong các vùng nông thôn nói chung và các chợ, khu dân cư nói riêng cũng ngày càng phong phú và đa dạng. Đây cũng là một trong những nguyên nhân chính phát sinh rác thải của người dân ngày càng nhiều, phức tạp và khó xử lý hơn trước.



    Năm 2007, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bến Tre đã thực hiện kiểm soát ô nhiễm môi trường tại 10 khu chợ xã, thị trấn. Qua đó, ước tính tổng lượng rác thải từ các hoạt động sinh hoạt, thương mại của các khu chợ thải ra khoảng 0,5 – 02 tấn/ngày. Khối lượng rác thải phát sinh ít, nhưng túi nilong chiếm tỉ trọng rất lớn, đây là loại chất thải khó phân hủy trong môi trường, gây xấu cảnh quan, làm thu hẹp diện tích đất và làm ô nhiễm môi trường nước.

    Công tác thu gom và xử lý rác thải phát sinh từ các hộ dân sinh sống và hộ kinh doanh ở các chợ chưa được quan tâm và quản lý đúng mức. Theo kết quả kiểm soát, hầu hết các chợ đều chưa có giải pháp cụ thể hoặc giải pháp chưa đồng bộ về thu gom rác thải. Các chợ đều chưa có bãi chôn lấp rác hợp vệ sinh, tạm thời, rất nhiều xã còn lúng túng trong việc này; vị trí các bãi chôn lấp rác đều gần với nguồn nước, nhà dân, đường giao thông chính, không có tường bao quanh, xử lý nước rỉ rác, mùi hôi và ruồi nhặng. Điều này đã gây ảnh hưởng đến môi trường, cảnh quan nói chung và chất lượng nguồn nước sinh hoạt nói riêng.

    Từ hiện trạng trên, đòi hỏi chúng ta cần có giải pháp phù hợp về vấn đề thu gom, xử lý rác thải ở chợ, khu vực đông dân cư ở các xã, thị trấn để giữ môi trường sống trong lành, bảo đảm sức khoẻ cho người dân. Giải pháp cụ thể trước mắt là Ủy ban nhân dân các xã, thị trấn nên quy hoạch bãi bãi xử lý rác thải và thành lập Tổ dịch vụ thu gom rác thải và sẽ được trả công bằng đóng góp của các điểm kinh doanh trong chợ, hộ dân trong xã, thị trấn. Ở những nơi gần thị xã Bến Tre, Công ty TNHH Công trình, đô thị thị xã Bến Tre cần tổ chức thu gom rác thải trực tiếp của các hộ dân, rác thải từ các chợ và đảm bảo xử lý hợp vệ sinh, bảo đảm an toàn về môi trường.

    Tổ dịch vụ thu gom rác thải được thành lập theo quy mô cấp xã, thị trấn hoặc 01 khu dân cư, chợ. Tổ thu gom rác có từ 02 - 04 người, có quy chế hoạt động riêng và chịu sự quản lý của Ủy ban nhân dân xã, thị trấn hoặc ban quản lý chợ. Tổ thu gom được trang bị xe chở rác, cuốc, xẻng, quần áo bảo hộ lao động, khẩu trang, chổi...

    Tổ thu gom rác hoạt động hằng ngày vào các giờ quy định, các nhân viên thuộc tổ thu gom có trách nhiệm thu gom rác và vệ sinh đường phố, chợ trong xã, thị trấn. Rác thải sau khi thu gom được vận chuyển đến bãi rác đã được quy hoạch thuộc địa giới hành chính của xã hoặc quy hoạch theo khu vực. Tại bãi rác, các nhân viên tiếp tục thực hiện các công đoạn xử lý tiếp theo. Đối với chất thải rắn nông thôn hiện nay nên lựa chọn phương pháp xử lý bằng cách chôn lấp dễ thực hiện và ít tốn kém.

    Bãi xử lý rác thải được quy hoạch ở vị trí phù hợp với nguồn phát sinh rác thải, tại khu đất trống, không phá hoại cảnh quan, xa khu dân cư và nên khuất gió. Diện tích bãi xử lý rác thải tuỳ thuộc vào khối lượng rác thải và điều kiện của địa phương. Bãi xử lý rác thải phải cách xa các nguồn nước mặt. Ngăn chặn sự rò rỉ nước rỉ từ bãi rác thấm vào nước ngầm bằng các lớp lót chống thấm và tường bao của bãi chôn lấp. Các yêu cầu thiết kế về mặt bằng, đường vào ra, rào chắn, biển hiệu phải tuân thủ đúng quy định. Lớp lót chống thấm có thể được sử dụng bằng đất sét có độ dày từ 0,5 m trở lên. Bãi chôn lấp được chia thành các ô nhỏ và có độ sâu trung bình hơn 01 m.

    Bắt đầu chôn lấp rác từ các ô chứa phía cuối bãi xử lý. Rác thải sau khi được đổ vào ô, thì được trải thành những lớp dày 20 - 40 cm, mỗi lớp rác thải phải được đầm nén chặt, sau đó tiếp tục trải những lớp khác lên trên. Cuối ngày cần phủ lên một lớp đất dày 05 - 10 cm rồi đầm nén. Mỗi ô chứa rác thải phải hoàn chỉnh, trước khi bắt đầu ô chứa tiếp theo. Phun hoá chất diệt côn trùng và rắc vôi bột vào lớp rác thải đã đầm nén trước khi phủ đất lên trên. Đây là phương pháp chôn chất thải rắn có kiểm soát, dễ thực hiện và tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường.

    Về lâu dài, hoạt động kinh tế - xã hội ở khu vực nông thôn ngày càng gia tăng, thì cần có một giải pháp mang tính toàn diện về vấn đề thu gom và xử lý rác thải. Bởi việc thu gom của các tổ thu gom rác chỉ là giải pháp mang tính tạm thời, còn đối việc xử lý như thế nào đối với rác thải để không gây ô nhiễm môi trường là những vấn đề mang tính kỹ thuật, tổ thu gom rác thải không thể giải quyết, mà cần sự vào cuộc tích cực, đồng bộ của các cơ quan chức năng.

    Mai Hanh



    24/01/2008 12:00 SAĐã ban hành
    Công văn 2831/STNMT-CCBVMT về việc điều chỉnh tên cửa khẩu khẩu nhập khẩu phế liệuCông văn 2831/STNMT-CCBVMT về việc điều chỉnh tên cửa khẩu khẩu nhập khẩu phế liệu
    Công văn 2831/STNMT-CCBVMT về việc điều chỉnh tên cửa khẩu khẩu nhập khẩu phế liệu
    15/10/2018 8:00 SAĐã ban hành
    Công văn 2501 /STNMT - ĐĐBĐ&VT về việc triển khai thực hiện Quyết định số 38/2018/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnhCông văn 2501 /STNMT - ĐĐBĐ&VT về việc triển khai thực hiện Quyết định số 38/2018/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh
    Công văn 2501 /STNMT - ĐĐBĐ&VT về việc triển khai thực hiện Quyết định số 38/2018/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh

    Tải nội dung văn bản:

    1) 2501_STNMT_DDBD_VT_2018.pdf

    2) 38_2018_QD_UBND.pdf

    14/09/2018 2:00 CHĐã ban hành
    Hội nghị tập huấn nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu trong hoạt động sản xuất sinh vật cảnhHội nghị tập huấn nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu trong hoạt động sản xuất sinh vật cảnh
    Hội nghị tập huấn nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu trong hoạt động sản xuất sinh vật cảnh

    Ngày 14 tháng 10 năm 2017, tại thành phố Bến Tre, Sở Tài nguyên và Môi trường phối hợp với Hội sinh vật cảnh tỉnh tổ chức hội nghị tập huấn nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu trong hoạt động sản xuất sinh vật cảnh cho các hội viên Hội sinh vật cảnh trên địa bàn tỉnh.

    untitled.JPG

    Tham dự hội nghị có lãnh đạo Sở Tài nguyên và Môi trường, Chi cục Bảo vệ môi trường, lãnh đạo Hội sinh vật cảnh tỉnh và gần 220 hội viên hội sinh vật cảnh tỉnh.

    Tại lớp tập huấn các học viên đã được nghe báo cáo viên trình bày các nội dung về: Cập nhật thông tin, tình hình biến đổi khí hậu trên thế giới và tại Việt Nam; tác động của biến đổi khí hậu đến tỉnh Bến Tre; kịch bản biến đổi khí hậu Bến Tre và giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu. Theo đó, Bến Tre là một trong những tỉnh chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu và nước biển dâng thể hiện qua việc mực nước biển đã dâng khoảng 20cm so với cách đây 10 năm, nhiệt độ trung bình tăng khoảng 0,05 – 0,150C, lượng mưa thay đổi thất thường cả về thời gian và cường độ, các hiện tượng cực đoan xuất hiện (bão, áp thấp nhiệt đới, lốc xoáy, mưa trái mùa, khô hạn, nắng nóng gay gắt, xâm nhập mặn,…) đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống, sản xuất người dân trên địa bàn tỉnh. Tại hội nghị, các tác động của biến đổi khí hậu (chủ yếu là diễn biến thất thường của thời tiết và xâm nhập mặn) đối với hoạt động sản xuất sinh vật cảnh cũng được các đại biểu tập trung thảo luận, phân tích. Đồng thời, các đại biểu cũng chia sẻ những kinh nghiệm trong quá trình sản xuất giúp ứng phó hiệu quả với các hiện tượng thời tiết trên.

    untitled1.JPG

    Qua hội nghị đã trang bị cho các đại biểu những kiến thức cơ bản liên quan đến tình hình, diễn biến và tác động của biến đổi khí hậu trên địa bàn tỉnh, từ đó giúp các đại biểu có thể chủ động thực hiện các biện pháp ứng phó với biến đổi khí hậu trong quá trình sản xuất sinh vật cảnh, góp phần có hiệu quả vào công tác ứng phó với biến đổi khí hậu trên địa bàn tỉnh trong thời gian tới./.

    19/10/2017 9:00 SAĐã ban hành
    Triển khai quyết định số 47/2019/QĐ-UBND của UBND tỉnh về bảng giá đất 2020-2024Triển khai quyết định số 47/2019/QĐ-UBND của UBND tỉnh về bảng giá đất 2020-2024
    Triển khai quyết định số 47/2019/QĐ-UBND của UBND tỉnh về bảng giá đất 2020-2024

    Ngày 17 tháng 12 năm 2019, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Quyết định số 47/2019/QĐ-UBND ban hành quy định Bảng giá các loại đất trên địa bàn tỉnh Bến Tre giai đoạn 2020-2024. Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2020.


                  Để thực hiện việc quản lý tài chính về đất đai và giá đất trên địa bàn tỉnh đúng quy định, Sở Tài nguyên và Môi trường đề nghị các đơn vị tổ chức thực hiện Quyết định số 47/2019/QĐ-UBND  của Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre ban hành quy định Bảng giá các loại đất trên địa bàn tỉnh Bến Tre giai đoạn 2020-2024.


    Tải quyết định: QD47_2019_BangGiaDat.zip

    27/12/2019 10:00 SAĐã ban hành
    Góp ý Dự thảo Quyết định về Đơn giá dịch vụ đo đạc và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn tỉnh Bến TreGóp ý Dự thảo Quyết định về Đơn giá dịch vụ đo đạc và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn tỉnh Bến Tre
    Góp ý Dự thảo Quyết định về Đơn giá dịch vụ đo đạc và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn tỉnh Bến Tre

    Sở Tài nguyên và Môi trường dự thảo Quyết định về việc ban hành đơn giá dịch vụ đo đạc trên địa bàn tỉnh Bến Tre và Quyết định về việc quy định đơn giá dịch vụ đăng ký đất đai, tài sản  gắn liền với đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất trên địa bàn tỉnh Bến Tre

    Để hoàn thiện dự thảo, Sở Tài nguyên và Môi trường đề nghị Quý cơ quan đóng góp ý kiến cho dự thảo. Văn bản phúc đáp xin gửi về Sở Tài nguyên và Môi trường (địa chỉ số 1, đường Trần Quốc Tuấn, phường 2, thành phố Bến Tre) và file số xin gửi về hộp thư điện tử tthien.stnmt@bentre.gov.vn trước ngày 20 tháng 10 năm 2019.

    Tải nội dung: 3071_2019_STNMT_DDBD_VT.7z

    17/10/2019 4:00 CHĐã ban hành
    Quyết định số 560/QĐ-UBND ngày 27 tháng 3 năm 2019 Về việc công bố danh mục 16 thủ tục hành chính thay thế và danh mục 02 thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực môi trường thuộc thẩm quyền giải quyết của Sở Tài nguyên và Môi trườngQuyết định số 560/QĐ-UBND ngày 27 tháng 3 năm 2019 Về việc công bố danh mục 16 thủ tục hành chính thay thế và danh mục 02 thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực môi trường thuộc thẩm quyền giải quyết của Sở Tài nguyên và Môi trường
    Quyết định số 560/QĐ-UBND ngày 27 tháng 3 năm 2019 Về việc công bố danh mục 16 thủ tục hành chính thay thế và danh mục 02 thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực môi trường thuộc thẩm quyền giải quyết của Sở Tài nguyên và Môi trường
    23/04/2019 9:00 SAĐã ban hành
    BẢN TIN TÌNH HÌNH XÂM NHẬP MẶN TỈNH BẾN TRE (Tháng 3 năm 2016)BẢN TIN TÌNH HÌNH XÂM NHẬP MẶN TỈNH BẾN TRE (Tháng 3 năm 2016)
    Độ mặn xâm nhập sâu nhất xuất hiện trong các ngày 05 đến 08 và ở mức sâu nhất từ đầu mùa mặn đến nay và sâu nhất lịch sử nhiều năm. Đặc biệt độ mặn xâm nhập rất mạnh từ sông Hàm Luông sang sông Tiền.

            Độ mặn 4 %o trên các sông chính có khả năng xâm nhập đến:

    •         - Sông Cửa Đại: xã Quới Sơn – Tân Thạch (huyện Châu Thành), (cách cửa sông khoảng 46 – 48 km)
    •         - Sông Hàm Luông: xã Long Thới (huyện Chợ Lách) – Tiên Long (huyện Châu Thành), (cách cửa sông khoảng 68 – 70 km).
    •         - Sông Cổ Chiên: xã Nhuận Phú Tân (huyện Mỏ Cày Bắc) – Hưng Khánh Trung B (huyện Chợ Lách), (cách cửa sông khoảng 56 – 58 km)
              Độ mặn 1%o trên các sông chính có khả năng xâm nhập đến:
    •         - Sông Cửa Đại: xã Phú Túc (huyện Châu Thành), (cách cửa sông khoảng 58 – 60 km).
    •         - Sông Hàm Luông: thị trấn Chợ Lách (huyện Chợ Lách), (cách cửa sông khoảng 75 – 77km).
    •         - Sông Cổ Chiên: xã Tân Thiềng (huyện Chợ Lách), (cách cửa sông khoảng 64 – 66km).

              Cấp độ rủi ro thiên tai do xâm nhập mặn trong đợt này trên các hệ thống sông đạt cấp độ 2.

       (Kèm theo bản đồ vùng bị ảnh hưởng mặn: BDXNM-3-2016.PNG
    22/03/2016 11:00 SAĐã ban hành
    Thông tư số 63/2017/TT-BTNMT Quy định kỹ thuật đo vẽ bản đồ địa hình đáy biển tỷ lệ 1:5.000Thông tư số 63/2017/TT-BTNMT Quy định kỹ thuật đo vẽ bản đồ địa hình đáy biển tỷ lệ 1:5.000
    Ngày 22 tháng 12 năm 2017, Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành Thông tư số 63/2017/TT-BTNMT Quy định kỹ thuật đo vẽ bản đồ địa hình đáy biển tỷ lệ 1:5.000

    ​Tải nội dung: TT_63_2017_TT_BTNMT.pdf

    10/01/2018 4:00 CHĐã ban hành
    Kết quả kiểm tra công tác bảo vệ môi trường các cơ sở dịch vụ du lịch  trên địa bàn tỉnh Bến TreKết quả kiểm tra công tác bảo vệ môi trường các cơ sở dịch vụ du lịch  trên địa bàn tỉnh Bến Tre
    Nhằm bảo vệ môi trường du lịch, ngăn ngừa và giảm thiểu các tác động xấu đến môi trường trong quá trình tiến hành các hoạt động du lịch, bảo đảm phát triển du lịch một cách bền vững, góp phần bảo vệ môi trường của tỉnh.



    Để đánh giá, dự báo, phòng ngừa, giảm thiểu ô nhiễm và làm sạch môi trường tại các cơ sở dịch vụ du lịch trên địa bàn tỉnh, Chi cục Bảo vệ môi trường và Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Châu Thành, Chợ Lách và thành phố Bến Tre; Ủy ban nhân dân xã Tân Thạch, An Khánh, Phú Túc, huyện Châu Thành; Ủy ban nhân dân xã Sơn Định, huyện Chợ Lách; Ủy ban nhân dân xã Phú Nhuận, thành phố Bến Tre tiến hành kiểm tra công tác bảo vệ môi trường và hoạt động du lịch tại 10 cơ sở dịch vụ du lịch trên địa bàn tỉnh.
    Trong 10 cơ sở có: 01 cơ sở hoạt động lĩnh vực du lịch nghĩ dưỡng (khách sạn, ăn uống,….); 03 cơ sở hoạt động lĩnh vực ăn uống; 01 cơ sở hoạt động lĩnh vực lữ hành nội địa; 01 cơ sở hoạt động lĩnh vực ăn uống, khách sạn, karaoke, lữ hành nội địa; 01 cơ sở hoạt động lĩnh vực ăn uống, khách sạn, giải trí môtô nước; 02 cơ sở hoạt động lĩnh vực sản xuất kẹo dừa, giải khát; 01 cơ sở hoạt động lĩnh vực thực hiện hợp đồng và giới thiệu tour cho khách du lịch.
    Vì đặc thù của loại hình hoạt động là thường xuyên tiếp đón khách du lịch, nên công tác xây dựng và giữ gìn cảnh quan môi trường của các cơ sở rất tốt, khuôn viên cơ sở thoáng mát, sạch đẹp. Tuy nhiên, ý thức bảo vệ môi trường và ý thức tuân thủ các quy định về hoạt động du lịch của các cơ sở chưa cao, còn nhiều hạn chế.
    Trong lĩnh vực bảo vệ môi trường: Trong 10 cơ sở, có 01 cơ sở thuộc đối tượng lập báo cáo đánh giá tác động môi trường và 09 cơ sở thuộc đối tượng lập bản cam kết bảo vệ môi trường. Có 06/10 cơ sở đã đăng ký và được Ủy ban nhân dân huyện Châu Thành hoặc thành phố Bến Tre cấp giấy xác nhận Bản cam kết bảo vệ môi trường. Trong đó, có 01 cơ sở phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường thay thế cho bản cam kết bảo vệ môi trường đã được xác nhận, do quy hoạch diện tích đất của dự án hiện nay là 21 ha, so với diện tích đất của dự án lúc mới thành lập chỉ có 11.490 m2. Có 02/10 cơ sở thực hiện báo cáo chương trình giám sát môi trường định kỳ.
    Có 08 cơ sở xây dựng hầm tự hoại để xử lý nước thải, 02 cơ sở thải trực tiếp nước thải ra môi trường. Có 07/10 cơ sở trang bị dụng cụ phòng cháy chữa cháy.
    Đối với cơ sở phải thực hiện các quy định đặc thù với quy mô và loại hình hoạt động: có 01/01 cơ sở không đăng ký sổ chủ nguồn thải chất thải nguy hại và xây dựng phương án ứng phó sự cố môi trường; có 02/02 cơ sở không đăng ký giấy phép xả nước thải vào nguồn nước; 01/01 cơ sở không đăng ký giấy phép khai thác nước ngầm và nước mặt.
    Trong lĩnh vực hoạt động du lịch: Có 05/10 cơ sở chưa niêm yết công khai giá cả hàng hóa, dịch vụ du lịch; có 08/10 cơ sở treo bảng hiệu. Đối với các cơ sở phải thực hiện các quy định đặc thù với loại hình hoạt động: có 01/05 cơ sở thực hiện nghiêm chỉnh các quy định về an toàn vệ sinh thực phẩm; có 02/02 cơ sở sử dụng hướng dẫn viên du lịch không có thẻ hành nghề, chưa đăng ký xếp hạng cơ sở lưu trú du lịch và giấy phép kinh doanh rượu, thuốc lá.
    Với thực trạng công tác bảo vệ môi trường và hoạt động du lịch của các cơ sở dịch vụ du lịch như trên, thời gian tới, Chi cục Bảo vệ môi trường sẽ phối hợp với các cơ quan, đơn vị có liên quan thường xuyên kiểm tra các cơ sở dịch vụ du lịch trên địa bàn tỉnh để nâng cao ý thức bảo vệ môi trường và hoạt động du lịch của các cơ sở dịch vụ du lịch trên địa bàn tỉnh. Đồng thời, Chi cục Bảo vệ môi trường kiến nghị: Thanh tra Sở Tài nguyên và Môi trường và Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tiến hành phúc tra sau 45 ngày kể từ ngày lập biên bản và xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật hiện hành đối với các cơ sở không thực hiện các kiến nghị của Đoàn kiểm tra. Phòng Tài nguyên và Môi trường các huyện, thành phố thường xuyên tiến hành kiểm tra, thanh tra các cơ sở dịch vụ du lịch trên địa bàn.


    09/05/2011 12:00 SAĐã ban hành
    Sở Tài nguyên và Môi trường mở lớp đào tạo nghiệp vụ Bảo vệ môi trường trong kinh doanh xăng dầu năm 2019Sở Tài nguyên và Môi trường mở lớp đào tạo nghiệp vụ Bảo vệ môi trường trong kinh doanh xăng dầu năm 2019
    Nhằm đáp ứng nhu cầu của các đơn vị, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu trên địa bàn tỉnh. Sở Tài nguyên và Môi trường tổ chức khóa "Đào tạo nghiệp vụ bảo vệ môi trường trong kinh doanh xăng dầu"

    ​1. Đối tượng, hình thức đào tạo

        - Đối tượng: Quản lý và nhân viên trực tiếp phục vụ kinh doanh tại cơ sở kinh doanh xăng dầu.

       - Hình thức: Sở Tài nguyên và Môi trường phối hợp với các đơn vị có liên quan tổ chức thực hiện.

    2. Thời gian và địa điểm

        - Thời gian: 03 ngày (ngày 10, 11 và 12 tháng 6 năm 2019). Đăng ký từ ngày thông báo đến ngày 10 tháng 6 năm 2019.

       - Địa điểm: Hội trường Lầu 1 Trụ sở làm việc các cơ quan khối mặt trận đoàn thể tỉnh. Địa chỉ: Số 58, đường 3 tháng 2, phường 3, Tp Bến Tre, tỉnh Bến Tre

    3. Học phí: 1.000.000 đồng/học viên

    Chi tiết xem tại: 1571_2019_STNMT_TTQTTNMT.pdf


    06/06/2019 4:00 CHĐã ban hành
    Quyết định số 2965/QĐ-BTNMT Phê duyệt Kế hoạch thanh tra năm 2018Quyết định số 2965/QĐ-BTNMT Phê duyệt Kế hoạch thanh tra năm 2018
    Ngày 23 tháng 11 năm 2017, Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành Quyết định số 2965/QĐ-BTNMT Phê duyệt Kế hoạch thanh tra năm 2018

    ​Quyết định Phê duyệt Kế hoạch thanh tra năm 2018 của Bộ Tài nguyên và Môi trường (Có Danh mục các cuộc thanh tra kèm theo).

    Tải nội dung chi tiết: 2965_QD_BTNMT.zip

    29/11/2017 3:00 CHĐã ban hành
    Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ ngày 02/01/2020 đến ngày 08/01/2020Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ ngày 02/01/2020 đến ngày 08/01/2020
    Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ ngày 02/01/2020 đến ngày 08/01/2020
    09/01/2020 9:00 SAĐã ban hành
    Bản tin tình hình xâm nhập mặn tỉnh Bến Tre (Từ ngày 30/4 đến ngày 07/5/2019)Bản tin tình hình xâm nhập mặn tỉnh Bến Tre (Từ ngày 30/4 đến ngày 07/5/2019)
    Bản tin dự báo độ mặn Từ ngày 30/04 đến ngày 07/05/2019 (Tuần 18/2019)

    I/ TÓM TẮT TÌNH HÌNH XÂM NHẬP MẶN TỪ 07 GIỜ NGÀY 23 ĐẾN 07 GIỜ NGÀY 30/04/2019 (TUẦN 17/2019):

    Diễn biến xâm nhập mặn cao nhất hàng ngày có xu thế giảm nhẹ từ ngày 23 đến ngày 26, sau đó tăng dần từ ngày 27 đến ngày 30.

    Độ mặn xâm nhập sâu nhất xuất hiện trong các ngày 23-24 và ngày 29-30 ở mức xấp xỉ và thấp hơn so với tuần trước. Độ mặn xâm nhập sâu trên các sông ở mức xấp xỉ và thấp hơn năm 2015, năm 2018 cùng thời kỳ.

    Độ mặn cao nhất đo được tại các nơi như sau:

    Ø Trên sông Cửa Đại:

    + Tại Bình Đại (cảng cá Bình Đại - huyện Bình Đại): 17.2 ‰ ngày 23.

    + Tại Lộc Thuận (xã Lộc Thuận - huyện Bình Đại): 9.7 ‰  ngày 23.

    + Tại Giao Hoà (xã Giao Hoà - huyện Châu Thành): 1.6 ‰  ngày 29.

    + Tại Quới Sơn (Ấp 2, xã Quới Sơn - huyện Châu Thành): 0.6 ‰ ngày 23-24.

    + Tại Long Hòa (xã Long Hòa - huyện Bình Đại): 0.6 ‰ ngày 23-24 (sông Ba Lai).

    Ø Trên sông Hàm Luông:

    + Tại An Thuận (cảng cá Tiệm Tôm – huyện Ba Tri): 14.8 ‰ ngày 24.

    + Tại Sơn Đốc (xã Hưng Lễ – huyện Giồng Trôm): 3.8 ‰ ngày 24.

    + Tại Phú Khánh (xã Phú Khánh – huyện Thạnh Phú): 4.2 ‰ ngày 29 (trong kênh).

    + Tại Vàm Cái Quao (xã Bình Khánh Đông – huyện Mõ Cày Nam): 4.2 ‰ ngày 24.

    + Tại Vàm Thủ Cửu (xã Phước Long – huyện Giồng Trôm): 1.5 ‰ ngày 29.

    + Tại Vàm Nước Trong (xã Tân Thành Bình – huyện Mõ Cày Bắc): 0.8 ‰ ngày 23-24.

    + Tại Mỹ Hóa (phường 07 – Tp. Bến Tre): 0.5 ‰  ngày 23.

    + Tại Thanh Tân (Ấp Thanh Xuân 1, xã Thanh Tân – huyện Mõ Cày Bắc): 0.1‰.

    + Tại An Hiệp (xã An Hiệp - huyện Châu Thành): 0.1 ‰.

    + Tại Vàm Mơn (xã Phú Sơn – huyện Chợ Lách): 0.1 ‰.

    Ø Trên sông Cổ Chiên:

    + Tại Bến Trại (xã An Thuận – huyện Thạnh Phú): 15.3 ‰ ngày 27.

    + Tại Hương Mỹ (xã Hương Mỹ – huyện Mõ Cày Nam): 1.6 ‰  ngày 27.

    + Tại Cẩm Sơn (xã Cẩm Sơn – huyện Mõ Cày Nam): 1.1 ‰ ngày 29.

    + Tại Vàm Thom (xã Thành Thới B – huyện Mõ Cày Nam): 0.2 ‰ ngày 23-30.

    + Tại Nhuận Phú Tân (xã Nhuận Phú Tân - huyện Mõ Cày Bắc): 0.1 ‰.

    Độ mặn 4 ‰ trên các sông chính đã xâm nhập đến:

    - Sông Cửa Đại: xã Phú Thuận (huyện Bình Đại), (cách cửa sông khoảng 32 - 34km).

    - Sông Hàm Luông: xã Thạnh Phú Đông (huyện Giồng Trôm) – xã Bình Khánh Đông (huyện Mõ Cày Nam), (cách cửa sông khoảng 34-36km).

    - Sông Cổ Chiên: xã Thới Thạnh (huyện Thạnh Phú) - Hương Mỹ(huyện Mõ Cày Nam), (cách cửa sông khoảng 26 - 28km).

    Độ mặn 1 ‰ trên các sông chính đã xâm nhập đến:

    - Sông Cửa Đại: xã Quới Sơn (huyện Châu Thành), (cách cửa sông khoảng 44 - 46km).

    - Sông Hàm Luông: xã Mỹ Thạnh An – Phường 07 (Tp. Bến Tre) – (Ấp Thanh Sơn 1) xã Thanh Tân (huyện Mõ Cày Bắc), (cách cửa sông khoảng 46 - 48km).

    - Sông Cổ Chiên: xã Cẩm Sơn - Thành Thới A (huyện Mõ Cày Nam), (cách cửa sông khoảng 36 - 38km).

    II / DỰ BÁO TÌNH HÌNH XÂM NHẬP MẶN TỪ NGÀY 30/04 ĐẾN NGÀY 07/05/2019) (TUẦN 18/2019):

    Diễn biến xâm nhập mặn cao nhất hàng ngày có xu thế tăng nhanh từ ngày 30/04 đến ngày 03/05, sau đó ít biến đổi rồi giảm dần từ ngày 06 đến 07.

    Độ mặn xâm nhập sâu nhất xuất hiện trong các ngày 03-06/05 ở mức sâu hơn so với tuần qua. Độ mặn xâm nhập sâu trên các sông ở mức xấp xỉ cùng thời kỳ năm 2015 và sâu hơn cùng thời kỳ năm 2018.

    Ø Trên sông Cửa Đại:

    + Tại Bình Đại (cảng cá Bình Đại - huyện Bình Đại): Smax từ  18.0 ‰ đến 21.0 ‰.

    + Tại Lộc Thuận (xã Lộc Thuận - huyện Bình Đại): Smax từ  9.0 ‰ đến 12.0 ‰.

    + Tại Giao Hoà (xã Giao Hoà - huyện Châu Thành): Smax từ  2.5 ‰ đến 4.5 ‰.

    + Tại Quới Sơn (Ấp 2, xã Quới Sơn - huyện Châu Thành): Smax từ  0.5 ‰ đến 1.0 ‰.

    + Tại Long Hòa (xã Long Hòa - huyện Bình Đại): Smax từ  1.0 ‰ đến 2.0 ‰.

    Ø Trên sông Hàm Luông:

    + Tại An Thuận (Tiệm Tôm – huyện Ba Tri): Smax từ 17.0 ‰ đến 20.0 ‰.

    + Tại Sơn Đốc (xã Hưng Lễ - huyện Giồng Trôm): Smax từ 7.0 ‰ đến 10.0 ‰.

    + Tại Phú Khánh (xã Phú Khánh – huyện Thạnh Phú): Smax từ 4.0 ‰ đến 7.0 ‰ (trong kênh).

    + Tại Vàm Cái Quao (xã Bình Khánh Đông – huyện Mõ Cày Nam): Smax từ 4.5 ‰ đến 6.5 ‰.

    + Tại Vàm Thủ Cửu (xã Phước Long – huyện Giồng Trôm): Smax từ 2.5 ‰ đến 4.5 ‰.

    + Tại Vàm Nước Trong (xã Tân Thành Bình – huyện Mõ Cày Bắc): Smax từ 1.0 ‰ đến 2.5 ‰.

    + Tại Mỹ Hoá (phường 07 – Tp. Bến Tre): Smax từ 0.5 ‰ đến 1.5 ‰.

    + Tại Thanh Tân (Ấp Thanh Xuân 1, xã Thanh Tân – huyện Mõ Cày Bắc): Smax từ 0.2 ‰ đến 0.5 ‰.

    + Tại An Hiệp (xã An Hiệp - huyện Châu Thành): Smax từ 0.2 ‰ đến 0.5 ‰.

    + Tại Vàm Mơn (xã Phú Sơn – huyện Chợ Lách): 0.1 ‰.

    Ø Trên sông Cổ Chiên:

    + Tại Bến Trại (xã An Thuận – huyện Thạnh Phú): Smax từ  16.0 ‰ đến 19.0 ‰.

    + Tại Hương Mỹ (xã Hương Mỹ - huyện Mõ Cày Nam): Smax từ  4.0 ‰ đến 7.0 ‰.

    + Tại Cẩm Sơn (xã Cẩm Sơn – huyện Mõ Cày Nam): Smax từ  3.0 ‰ đến 5.0 ‰.

    + Tại Vàm Thom (xã Thành Thới B – huyện Mõ Cày Nam): Smax từ 0.5 ‰ đến 1.5 ‰.

    + Tại Nhuận Phú Tân (xã Nhuận Phú Tân - huyện Mõ Cày Bắc): Smax từ 0.2 ‰ đến 1.0 ‰.

    Độ mặn 4 ‰ trên các sông chính có khả năng xâm nhập đến:

    - Sông Cửa Đại: xã Long Định (huyện Bình Đại) – Giao Hòa (huyện Châu Thành), (cách cửa sông khoảng 38 - 40km).

    - Sông Hàm Luông: xã Phước Long, Hưng Phong (huyện Giồng Trôm) – xã Phước Hiệp (huyện Mõ Cày Nam), (cách cửa sông khoảng 36 - 38km).

    - Sông Cổ Chiên: xã Cẩm Sơn – Thành Thới A (huyện Mõ Cày Nam), (cách cửa sông khoảng 36 - 38km).

    Độ mặn 1 ‰ trên các sông chính có khả năng xâm nhập đến:

    - Sông Cửa Đại: xã Quới Sơn – Tân Thạch (huyện Châu Thành), (cách cửa sông khoảng 47 - 49km).

    - Sông Hàm Luông: Phường 07 – xã Bình Phú (Tp. Bến Tre) – (Ấp Thanh Sơn 2-3) xã Thanh Tân (huyện Mõ Cày Bắc), (cách cửa sông khoảng 48 - 50km).

    - Sông Cổ Chiên: xã Nhuận Phú Tân (huyện Mõ Cày Bắc), (cách cửa sông khoảng 50 - 52km).

    * Cấp độ rủi ro thiên tai do xâm nhập mặn trong tuần này: cấp độ 1.

    Ban_tin_man_30_4(Tuan_18_2019).jpgBan_tin_man_30_4_2019(Tuan_18_2019).jpg

    13/05/2019 4:00 CHĐã ban hành
    Quy chế phối hợp quản lý tổng hợp  tài nguyên và bảo vệ môi trường biển trên địa bàn tỉnh Bến TreQuy chế phối hợp quản lý tổng hợp  tài nguyên và bảo vệ môi trường biển trên địa bàn tỉnh Bến Tre
    Ngày 04/10/2017, Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre ký Quyết định số 52/2017/QĐ-UBND ban hành Quy chế phối hợp quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển tỉnh Bến Tre

              Ngày 04/10/2017, Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre ký Quyết định số 52/2017/QĐ-UBND ban hành Quy chế phối hợp quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển tỉnh Bến Tre. Việc ban hành quy chế nhằm mục đích đưa hoạt động quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển trên địa bàn tỉnh đảm bảo chặt chẽ, hiệu quả theo đúng quy định pháp luật; thiết lập cơ chế phối hợp đồng bộ, phân định và nâng cao trách nhiệm phối hợp giữa các sở, ban, ngành, đoàn thể, các tổ chức có liên quan và Ủy ban nhân dân các huyện ven biển trong hoạt động quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển; và nâng cao hiệu quả khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm tài nguyên và bảo vệ môi trường biển theo hướng bền vững.

    mot_goc_bo_ThanhPhu.png

    Một góc bờ biển Thạnh Phú, Bến Tre

    Quy chế phối hợp được thực hiện theo nguyên tắc bảo đảm sự quản lý thống nhất, đồng bộ, hiệu quả, phân công rõ nhiệm vụ của từng sở, ban, ngành, Ủy ban nhân dân các huyện ven biển và các tổ chức có liên quan trong việc chủ trì, phối hợp thực hiện quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển; việc thực hiện các nhiệm vụ phối hợp phải trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao, bảo đảm bí mật quốc gia và bảo mật thông tin theo quy định của pháp luật; tuân thủ các quy định của Quy chế này và các quy định của pháp luật có liên quan; không cản trở các hoạt động khai thác, sử dụng hợp pháp tài nguyên biển, hải đảo và các hoạt động hợp pháp khác của tổ chức, cá nhân trên vùng biển của tỉnh.

    Quy chế gồm có 03 Chương và 11 Điều, các nội dung phối hợp được nêu trong quy chế gồm:

    - Phối hợp xây dựng, thực hiện văn bản pháp luật về quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển.

    - Phối hợp lập và tổ chức thực hiện các chương trình, kế hoạch sử dụng khai thác bền vững tài nguyên, bảo vệ môi trường biển; quy hoạch, kế hoạch sử dụng biển; quy hoạch khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên vùng bờ; chương trình quản lý tổng hợp tài nguyên vùng bờ.

    - Phối hợp quản lý, thực hiện hoạt động điều tra cơ bản, nghiên cứu khoa học về tài nguyên môi trường biển.

    - Phối hợp thiết lập hệ thống quan trắc, giám sát tổng hợp về tài nguyên, môi trường biển; xây dựng hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu tài nguyên, môi trường biển.

    - Phối hợp kiểm soát ô nhiễm môi trường biển; ứng phó, khắc phục sự cố tràn dầu, hóa chất độc trên biển.

    - Phối hợp tuyên truyền về biển và hải đảo; phổ biến giáo dục pháp luật về quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển và hải đảo.

    - Phối hợp hợp tác quốc tế về quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo.

    - Thanh tra, kiểm tra giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển.

    Quy chế phối hợp quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển tỉnh Bến Tre có hiệu lực thi hành kể từ ngày 16/10/2017./.

    Vĩnh Thịnh


    28/11/2017 10:00 SAĐã ban hành
    Truyền thông về "Ngày Nước thế giới 2018" và "Ngày Khí tượng thế giới 2018"Truyền thông về "Ngày Nước thế giới 2018" và "Ngày Khí tượng thế giới 2018"
    Truyền thông về "Ngày Nước thế giới 2018" và "Ngày Khí tượng thế giới 2018"
    16/03/2018 9:00 SAĐã ban hành
    Thông báo về việc Kiểm tra hiện trạng sử dụng đất, nhà ở và công trình đã xây dựng và điều kiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất, bán nhà ở của Khu nhà ở Tân Phú Đông của Công ty TNHH MTV thương mại dịch vụ xây dựng Bảo TrâmThông báo về việc Kiểm tra hiện trạng sử dụng đất, nhà ở và công trình đã xây dựng và điều kiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất, bán nhà ở của Khu nhà ở Tân Phú Đông của Công ty TNHH MTV thương mại dịch vụ xây dựng Bảo Trâm
    Kiểm tra hiện trạng sử dụng đất, nhà ở và công trình đã xây dựng và điều kiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất, bán nhà ở của Khu nhà ở Tân Phú Đông của Công ty TNHH MTV thương mại dịch vụ xây dựng Bảo Trâm

    ​   Sở Tài nguyên và Môi trường có tiếp nhận hồ sơ đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho người nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua nhà ở trong dự án Khu nhà ở Tân Phú Đông của Công ty TNHH MTV thương mại dịch vụ xây dựng Bảo Trâm đối với các thửa đất số: 1100, 1101, 1102, 1103, 1104, 1105, 1106, 1107, 1108, 1109, 1110, 1111, 1112, 1113, 1114, 1090, tờ bản đồ số 4, tại xã Bình Phú, thành phố Bến Tre.

    Tải nội dung chi tiết văn bản: 2832_2019_TB_STNMT.pdf


    25/09/2019 10:00 SAĐã ban hành
    Khung chính sách bồi thường, hỗ trợ tái định cư (RPF)Khung chính sách bồi thường, hỗ trợ tái định cư (RPF)
    Để thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và khôi phục đời sống những người bị ảnh hưởng bởi Dự án Quản lý nước Bến Tre vay vốn Tổ chức JICA - Nhật Bản (sau đây gọi tắt là Dự án B-SWAMP) do bị thu hồi đất, thiệt hại nhà cửa và những tài sản khác, Chính phủ Việt Nam (GoV) với Quyết định số 2418/QĐ-TTg, ngày 12/12/2016 đã phê duyệt Khung Chính sách Bồi thường, hỗ trợ, Tái định cư (sau đây gọi là Khung chính sách tái định cư) của Dự án

         1. Tóm tắt nội dung dự án 

          Trước tình hình biến đổi khí hậu phức tạp, sự ấm dần lên của trái đất dẫn đến hiện tượng tan băng ở 2 cực, sự dâng cao mực nước biển dẫn đến ngập các vùng đất thấp ở các quốc gia nằm ven biển, khí hậu thay đổi khắc liệt mưa, hạn bất thường và lưu lượng sông Mêkông giảm đáng kể do hiện tại và trong tương lai các quốc gia nằm thượng lưu như Trung Quốc, Thái Lan, Lào…có kế hoạch đẩy mạnh phát triển thuỷ điện để thay thế cho các nguồn năng lượng đang ngày một cạn kiệt. Tất cả các yêu tố trên dẫn đến ngập, lụt, hạn hán, xâm nhập mặn khốc liệt, thiệt hại nghiêm trọng đến sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Bến Tre nói riêng và Đồng bằng sông Cửu Long nói chung.

           Bộ Nông nghiệp và PTNT cùng UBND tỉnh Bến Tre xây dựng dự án "Quản lý nước Bến Tre" được điều chỉnh từ dự án "Hệ thống thủy lợi Bến Tre" (JICA3) với quy mô từ 03 tỉnh (Trà Vinh, Vĩnh Long, Bến Tre), tập trung cho 01 tỉnh (Bến Tre), nhằm mục tiêu chủ động kiểm soát mặn, nước biển dâng, lấy nước, tiêu nước, lấy phù sa, thau chua, rửa phèn phục vụ sản xuất nông nghiệp kết hợp nuôi trồng thủy sản, tạo địa bàn phân bố dân cư & kết hợp giao thông thủy bộ, tạo thành mạng lưới giao thông thủy bộ liên tục trong vùng, hoàn thiện khép kín hệ thống thủy lợi của tỉnh nhằm mục tiêu phát triển vùng kinh tế, xã hội trọng điểm của tỉnh Bến Tre, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia.

          2. Mục tiêu chung của dự án

          Bảo vệ ngành nông nghiệp và đời sống của nhân dân khu vực dự án không bị đe dọa bởi xâm nhập mặn gây ra bởi biến đổi khí hậu, kiểm soát mặn và cung cấp nước ngọt để phục vụ sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, du lịch...  phục vụ phát triển kinh tế - xã hội cho tỉnh Bến Tre.

    Tải nội dung chi tiết:

    1. QD 2353-QĐ-TTg phe duyet chu truong dau tu.pdf

    2. QD 2418-QĐ-TTg phe duyet RPF.pdf

    3. 12122016_RPF B-SWAMP_VN-Approval.doc

    4. Bando DA.pdf

    16/05/2017 8:00 SAĐã ban hành
    Dự thảo danh mục khu vực thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển tỉnh Bến TreDự thảo danh mục khu vực thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển tỉnh Bến Tre
    Dự thảo danh mục khu vực thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển tỉnh Bến Tre
              Sở Tài nguyên và Môi trường đang triển khai thực hiện Dự án “Thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển tỉnh Bến Tre”, dự án đang trong giai đoạn lập danh mục các khu vực phải thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển.
               Để danh mục khu vực hành lang bảo vệ bờ biển được thiết lập đúng, đủ quy định của pháp luật hiện hành. Sở Tài nguyên và Môi trường kính đề nghị các cơ quan, tổ chức, cá nhân góp ý.

    14/09/2018 2:00 CHĐã ban hành
    Phó Chủ tịch Ngân hàng thế giới thực tế tỉnh Bến Tre về phát triển bền vững và biến đổi khí hậuPhó Chủ tịch Ngân hàng thế giới thực tế tỉnh Bến Tre về phát triển bền vững và biến đổi khí hậu
    Ngày 8 tháng 12 năm 2017, Đoàn WB do Bà Laura Tuck - Phó chủ tịch phụ trách phát triển bền vững làm trưởng Đoàn đã có chuyến thực tế tại tỉnh Bến Tre. Ông Cao Văn Trọng - Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh và Lãnh đạo các Sở: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tài nguyên và Môi trường tiếp và làm việc với Đoàn
           Trong thời gian qua, Bến Tre vinh dự nhận được sự quan tâm, hỗ trợ của Ngân hàng thế giới (WB) trong phát triển bền vững và ứng phó biến đổi khí hậu. Ngày 8 tháng 12 năm 2017, Đoàn WB do Bà Laura Tuck - Phó chủ tịch phụ trách phát triển bền vững làm trưởng Đoàn đã có chuyến thực tế tại tỉnh Bến Tre. Ông Cao Văn Trọng - Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh và Lãnh đạo các Sở: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tài nguyên và Môi trường tiếp và làm việc với Đoàn. Trước đó vào năm 2014, Bà Rachel Kyte - Phó chủ tịch WB và là đại sứ đặc biệt về biến đổi khí hậu tại thời điểm đã đến thực địa ở tỉnh.
    worldbank3.jpg

    Hình: Bà Laura Tuck - Phó chủ tịch Ngân hàng thế giới (giữa) trao đổi với Lãnh đạo tỉnh Bến Tre (Ảnh: Văn Ngoan)
     

            Trong chương trình thực tế, Đoàn WB đã đến cống đập Ba Lai, xem lúa-tôm xã Tân Xuân và khảo sát sạt lở ven biển Cồn Ngoài xã Bảo Thuận, huyện Ba Tri. Thời gian qua, sạt lở ven biển là một trong những tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu, nước biển dâng đến Bến Tre và có xu hướng gia tăng. Khu vực sạt lở đáng chú ý là Cồn Bửng huyện Thạnh Phú và Cồn Ngoài huyện Ba Tri. Nguyên nhân do mực nước biển ở mức cao kết hợp gió mùa làm gia tăng cường độ sống biển, thêm vào đó vùng ven biển có kết cấu đất yếu và cao độ địa hình thấp, qua đó làm tăng tổn thương cho vùng bờ ven biển. Bên cạnh các tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng, một yếu tố khác tác động lâu dài và đang gia tăng áp lực lên tình trạng sạt lở ven biển của tỉnh Bến Tre nói riêng (và cả ĐBSCL) là việc mất dần phù sa bồi đắp do trầm tích bị giữ lại bởi các đập thủy điện trên dòng chính sông Mekong, vấn đề này đã được các nhà khoa học phản ảnh nhiều trong thời gian qua.


    worldbank2.JPGworldbank1.JPG

    Hình: Sạt lở ven biển huyện Thạnh Phú (ảnh trái) và huyện Ba Tri thời điểm năm 2017 (Ảnh: Duy Anh)

                Một số dự án do WB hỗ trợ tỉnh Bến Tre đang được triển khai như: Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển sinh kế bền vững cho người dân vùng biển Ba Tri; Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cải thiện sinh kế người dân Bắc Thạnh Phú; và sắp đến là Dự án mở rộng, nâng cấp đô thị Việt Nam - Tiểu dự án thành phố Bến Tre, dự án hướng đến thành phố xanh, thích ứng biến đổi khí hậu và giảm thiểu rủi ro thiên tai.

                Bến Tre xác định ứng phó biến đổi khí hậu là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong quá trình phát triển, tỉnh đã xây dựng và triển khai Kế hoạch hành động ứng phó biến đổi khí hậu giai đoạn 2016 - 2020, tuy nhiên với điều kiện hạn chế, khó khăn tỉnh chưa thể hoàn thành tốt và đầy đủ các nhiệm vụ, giải pháp đặt ra. Nhân chuyến thực địa của Bà Laura Tuck, Bến Tre đề xuất tiếp tục hợp tác, hỗ trợ từ WB qua dự án trọng điểm ứng phó lâu dài - "Đầu tư chống xói lở nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu Bến Tre" và các lĩnh vực khác như:

    •         + Chuyển đổi, phát triển các mô hình sinh kế thích ứng biến đổi khí hậu theo Nghị quyết số 120/NQ-CP ngày 17/11/2017 của Chính phủ về phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long thích ứng biến đổi khí hậu;         
    •         + Đào tạo nguồn nhân lực và nâng cao năng lực cán bộ quản lý;
    •         + Ứng dụng công nghệ thông tin tiên tiến, GIS vào công tác cảnh báo, dự báo; đánh giá tác động;xây dựng cơ sở dữ liệu về biến đổi khí hậu phục vụ công tác quản lý;
    •         + Bảo tồn đa dạng sinh học, phát triển bền vững du lịch sinh thái trong điều kiện biến đổi khí hậu và hợp tác vùng trong chia sẻ, sử dụng bền vững nguồn nước sông Mekong trước thách thức từ biến đổi khí hậu.

    Huỳnh Lê Duy Anh - P.QLTN&KTTV, Sở TN&MT

    12/12/2017 9:00 SAĐã ban hành
    Kế hoạch thanh tra về tài nguyên và môi trường năm 2019Kế hoạch thanh tra về tài nguyên và môi trường năm 2019
    Quyết định số 3549/QĐ-BTNMT ngày 23 tháng 11 năm 2018 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc phê duyệt Kế hoạch thanh tra năm 2019.
    29/01/2019 4:00 CHĐã ban hành
    1 - 30Next
    Ảnh
    Video
    SỞ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG TỈNH BẾN TRE
    Chịu trách nh​iệm chính: Ông Nguyễn Văn Chinh - Chức vụ: Giám đốc Sở TN và MT | Giấy phép số: 139/GP - BC, ngày 16 tháng 4 năm 2007
    Địa chỉ trụ sở: Số 01 - Trần Quốc Tuấn - Phường 2 - Thành phố Bến Tre - Tỉnh Bến Tre
    Điện thoại: 0275.3822210 - 0275.3211494 - Fax: 0275.3813176; Email: stnmt@bentre.gov.vn