Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksTin tức sự kiện

 
Tin tức sự kiện - Thông tin quy hoạch
(TN&MT) - Từ tháng 9/2014, gần 1.000 hộ gia đình hiện đang sinh sống tại 9 block nhà thuộc Chung cư Tây Thạnh sẽ cam kết thực hiện và duy trì vĩnh viễn hoạt động phân loại và chuyển giao rác vô cơ cho lực lượng thu gom và xử lý chất thải của Công ty TNHH MTV Môi trường Đô thị. Đây là sự kiện nằm trong kế hoạch xây dựng khu dân cư xanh kiểu mẫu.  
 
Thực hiện Chỉ thị số 01/CT-BTNMT ngày 17 tháng 3 năm 2010 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc tăng cường công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Ngày 30 tháng 6 năm 2010 Uỷ ban nhân dân tỉnh tổ chức Hội nghị tổng kết công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất giai đoạn 2001-2010. 
 
Chuyên mục Bản đồ quy hoạch sử dụng đất của trang tin điện tử Sở Tài nguyên và Môi trường Bến Tre phục vụ cho các tổ chức và người dân cần xem thông tin quy hoạch về thửa đất của đang sử dụng. 
 
Ngày 06 tháng 05 năm 2009, Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất Bến Tre phối hợp với Chi nhánh Cục công nghệ thông tin tại TP. Hồ Chí Minh nâng cấp trang xem thông tin quy hoạch tỉnh Bến Tre nhằm đáp ứng nhu cầu tra cứu thông tin quy hoạch đất đai trên địa bàn tỉnh Bến Tre. 
 
Hiện tại người truy cập có thể xem thông tin quy hoạch các đơn vị hành chính thuộc tỉnh Bến Tre như sau:- Thành phố Bến Tre: P1, P2, P3, P4, P5, P6, P7, P8, một phần xã: Bình Phú, xã Sơn Đông, xã Mỹ Thạnh An.- Huyện Thạnh Phú: Thị trấn Thạnh Phú, xã Phú Khánh, xã Đại Điền, xã Quới Điền, xã Tân Phong, xã Thới Thạnh.Chúng tôi sẽ cố gắng cập nhật thông tin các huyện còn lại thuộc tỉnh... 
 
THÔNG BÁO (25/03/2008)
Ban biên tập Website Sở Tài nguyên và Môi trường tiếp tục cập nhật chạy thử nghiệm các đồ án Quy hoạch - Khu quy hoạch đô thị Thành phố Bến Tre (giai đoạn đến năm 2020) 
 
Ngày 08/01/2007, Trung tâm Thông tin thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường đã tiến hành bàn giao file bản đồ quy hoạch 
 
Nội dung kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2006 - 2010) tỉnh Bến Tre đã được Chính phủ xét duyệt tại Nghị quyết số 17/2006/NQ-CP ngày 29 tháng 8 năm 2006, Sở Tài nguyên và Môi trường xin thông báo công khai các nội dung đã được xét duyệt như sau: 
 
Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 tỉnh Bến Tre đã được Chính phủ xét duyệt tại Nghị quyết số 17/2006/NQ-CP ngày 29 tháng 8 năm 2006, Sở Tài nguyên và Môi trưòng xin thông báo công khai các nội dung đã được xét duyệt. 
 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
Thông báo về việc đấu giá quyền khai thác khoáng sảnThông báo về việc đấu giá quyền khai thác khoáng sản
Thông báo đấu giá quyền khai thác khoáng sản tại 02 khu vực khoáng sản Quới Sơn và Cẩm Sơn

​1) Mỏ cát Quới Sơn, thuộc xã Quới Sơn, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre

- Tổng trữ lượng khoáng sản: 1.073.695 m3

- Loại khoáng sản: cát san lấp

- Giá khởi điểm: 4.296.280.000đ (Bốn tỷ, hai trăm chín mươi sáu triệu, hai trăm tám mươi ngàn đồng)

2) Mỏ cát Cẩm Sơn, thuộc xã Cẩm Sơn, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre

- Tổng trữ lượng khoáng sản: 510.740 m3

- Loại khoáng sản: cát san lấp

- Giá khởi điểm: 2.043.680.000đ (Hai tỷ, không trăm bốn mươi ba triệu, sáu trăm tám mươi ngàn đồng)

Chi tiết xem tại: TB_DauGia_QKTKS_2019.7z




03/06/2019 8:00 SAĐã ban hành
Thông báo về việc tư vấn gói thầu: Lập hồ sơ mời thầu và đánh giá hồ sơ dự thầu thuộc dự án Thăm dò đánh giá trữ lượng 05 khu vực mỏ cát lòng sông trên địa bàn tỉnh Bến TreThông báo về việc tư vấn gói thầu: Lập hồ sơ mời thầu và đánh giá hồ sơ dự thầu thuộc dự án Thăm dò đánh giá trữ lượng 05 khu vực mỏ cát lòng sông trên địa bàn tỉnh Bến Tre
Thông báo về việc tư vấn gói thầu: Lập hồ sơ mời thầu và đánh giá hồ sơ dự thầu thuộc dự án Thăm dò đánh giá trữ lượng 05 khu vực mỏ cát lòng sông trên địa bàn tỉnh Bến Tre

​         Sở Tài nguyên và Môi trường Bến Tre thông báo đến Quý cơ quan, đơn vị có quan tâm để thực hiện gói thầu lập hồ sơ mời thầu và đánh giá hồ sơ dự thầu dự án "Thăm dò đánh giá trữ lượng 05 khu vực mỏ cát lòng sông trên sông địa bàn tỉnh Bến Tre".

         Nơi nhận hồ sơ: Sở Tài nguyên và Môi trường (Số 01, Trần Quốc Tuấn, phường 2, Thành phố Bến Tre. Điện thoại: 02753 822 210)

        Thời gian nhận hồ sơ: đến hết ngày 28 tháng 4 năm 2018 trong giờ hành chính.


Tải nội dung: 959_2018_TB_STNMT.7z

26/04/2018 2:00 CHĐã ban hành
Thông báo mời thầu - Gói thầu: Thăm dò đánh giá trữ lượng 05 khu vực mỏ cát lòng sông trên địa bàn tỉnh Bến TreThông báo mời thầu - Gói thầu: Thăm dò đánh giá trữ lượng 05 khu vực mỏ cát lòng sông trên địa bàn tỉnh Bến Tre
Ngày 15 tháng 6 năm 2018, Sở Tài nguyên và Môi trường ban hành thông báo số 1549/TB-STNMT Thông báo mời thầu - Gói thầu: Thăm dò đánh giá trữ lượng 05 khu vực mỏ cát lòng sông trên địa bàn tỉnh Bến Tre

​Tên bên mời thầu: Sở Tài nguyên và Môi trường Bến Tre

Tên gói thầu: Thăm dò đánh giá trữ lượng 05 khu vực mỏ cát lòng sông trên địa bàn tỉnh Bến Tre

Thời gian phát hành Hồ sơ mời thầu (HSMT): từ 08 giờ, ngày 18 tháng 6 năm 2018 đến trước 08 giờ, ngày 03 tháng 7 năm 2018 (trong giờ hành chính).

Địa điểm phát hành HSMT: Phòng Kế hoạch tài chính - Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bến Tre.

- Địa chỉ: số 01 Trần Quốc Tuấn, Phường 2, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

Tải nội dung: 1549_2018_TB_STNMT.pdf


18/06/2018 8:00 SAĐã ban hành
GIẢI PHÁP XỬ LÝ RÁC THẢI CHỢ VÀ KHU DÂN CƯGIẢI PHÁP XỬ LÝ RÁC THẢI CHỢ VÀ KHU DÂN CƯ
Dân số ngày càng tăng, điều kiện kinh tế, xã hội ngày càng phát triển, vì thế, nhu cầu tiêu dùng của người dân trong các vùng nông thôn nói chung và các chợ, khu dân cư nói riêng cũng ngày càng phong phú và đa dạng. Đây cũng là một trong những nguyên nhân chính phát sinh rác thải của người dân ngày càng nhiều, phức tạp và khó xử lý hơn trước.



Năm 2007, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bến Tre đã thực hiện kiểm soát ô nhiễm môi trường tại 10 khu chợ xã, thị trấn. Qua đó, ước tính tổng lượng rác thải từ các hoạt động sinh hoạt, thương mại của các khu chợ thải ra khoảng 0,5 – 02 tấn/ngày. Khối lượng rác thải phát sinh ít, nhưng túi nilong chiếm tỉ trọng rất lớn, đây là loại chất thải khó phân hủy trong môi trường, gây xấu cảnh quan, làm thu hẹp diện tích đất và làm ô nhiễm môi trường nước.

Công tác thu gom và xử lý rác thải phát sinh từ các hộ dân sinh sống và hộ kinh doanh ở các chợ chưa được quan tâm và quản lý đúng mức. Theo kết quả kiểm soát, hầu hết các chợ đều chưa có giải pháp cụ thể hoặc giải pháp chưa đồng bộ về thu gom rác thải. Các chợ đều chưa có bãi chôn lấp rác hợp vệ sinh, tạm thời, rất nhiều xã còn lúng túng trong việc này; vị trí các bãi chôn lấp rác đều gần với nguồn nước, nhà dân, đường giao thông chính, không có tường bao quanh, xử lý nước rỉ rác, mùi hôi và ruồi nhặng. Điều này đã gây ảnh hưởng đến môi trường, cảnh quan nói chung và chất lượng nguồn nước sinh hoạt nói riêng.

Từ hiện trạng trên, đòi hỏi chúng ta cần có giải pháp phù hợp về vấn đề thu gom, xử lý rác thải ở chợ, khu vực đông dân cư ở các xã, thị trấn để giữ môi trường sống trong lành, bảo đảm sức khoẻ cho người dân. Giải pháp cụ thể trước mắt là Ủy ban nhân dân các xã, thị trấn nên quy hoạch bãi bãi xử lý rác thải và thành lập Tổ dịch vụ thu gom rác thải và sẽ được trả công bằng đóng góp của các điểm kinh doanh trong chợ, hộ dân trong xã, thị trấn. Ở những nơi gần thị xã Bến Tre, Công ty TNHH Công trình, đô thị thị xã Bến Tre cần tổ chức thu gom rác thải trực tiếp của các hộ dân, rác thải từ các chợ và đảm bảo xử lý hợp vệ sinh, bảo đảm an toàn về môi trường.

Tổ dịch vụ thu gom rác thải được thành lập theo quy mô cấp xã, thị trấn hoặc 01 khu dân cư, chợ. Tổ thu gom rác có từ 02 - 04 người, có quy chế hoạt động riêng và chịu sự quản lý của Ủy ban nhân dân xã, thị trấn hoặc ban quản lý chợ. Tổ thu gom được trang bị xe chở rác, cuốc, xẻng, quần áo bảo hộ lao động, khẩu trang, chổi...

Tổ thu gom rác hoạt động hằng ngày vào các giờ quy định, các nhân viên thuộc tổ thu gom có trách nhiệm thu gom rác và vệ sinh đường phố, chợ trong xã, thị trấn. Rác thải sau khi thu gom được vận chuyển đến bãi rác đã được quy hoạch thuộc địa giới hành chính của xã hoặc quy hoạch theo khu vực. Tại bãi rác, các nhân viên tiếp tục thực hiện các công đoạn xử lý tiếp theo. Đối với chất thải rắn nông thôn hiện nay nên lựa chọn phương pháp xử lý bằng cách chôn lấp dễ thực hiện và ít tốn kém.

Bãi xử lý rác thải được quy hoạch ở vị trí phù hợp với nguồn phát sinh rác thải, tại khu đất trống, không phá hoại cảnh quan, xa khu dân cư và nên khuất gió. Diện tích bãi xử lý rác thải tuỳ thuộc vào khối lượng rác thải và điều kiện của địa phương. Bãi xử lý rác thải phải cách xa các nguồn nước mặt. Ngăn chặn sự rò rỉ nước rỉ từ bãi rác thấm vào nước ngầm bằng các lớp lót chống thấm và tường bao của bãi chôn lấp. Các yêu cầu thiết kế về mặt bằng, đường vào ra, rào chắn, biển hiệu phải tuân thủ đúng quy định. Lớp lót chống thấm có thể được sử dụng bằng đất sét có độ dày từ 0,5 m trở lên. Bãi chôn lấp được chia thành các ô nhỏ và có độ sâu trung bình hơn 01 m.

Bắt đầu chôn lấp rác từ các ô chứa phía cuối bãi xử lý. Rác thải sau khi được đổ vào ô, thì được trải thành những lớp dày 20 - 40 cm, mỗi lớp rác thải phải được đầm nén chặt, sau đó tiếp tục trải những lớp khác lên trên. Cuối ngày cần phủ lên một lớp đất dày 05 - 10 cm rồi đầm nén. Mỗi ô chứa rác thải phải hoàn chỉnh, trước khi bắt đầu ô chứa tiếp theo. Phun hoá chất diệt côn trùng và rắc vôi bột vào lớp rác thải đã đầm nén trước khi phủ đất lên trên. Đây là phương pháp chôn chất thải rắn có kiểm soát, dễ thực hiện và tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường.

Về lâu dài, hoạt động kinh tế - xã hội ở khu vực nông thôn ngày càng gia tăng, thì cần có một giải pháp mang tính toàn diện về vấn đề thu gom và xử lý rác thải. Bởi việc thu gom của các tổ thu gom rác chỉ là giải pháp mang tính tạm thời, còn đối việc xử lý như thế nào đối với rác thải để không gây ô nhiễm môi trường là những vấn đề mang tính kỹ thuật, tổ thu gom rác thải không thể giải quyết, mà cần sự vào cuộc tích cực, đồng bộ của các cơ quan chức năng.

Mai Hanh



24/01/2008 12:00 SAĐã ban hành
Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ ngày 10/7/2019 đến ngày 15/7/2019NewDanh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ ngày 10/7/2019 đến ngày 15/7/2019
Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ ngày 10/7/2019 đến ngày 15/7/2019
17/07/2019 9:00 SAĐã ban hành
Bản đồ tình hình xâm nhập mặn tỉnh Bến Tre từ ngày 17/4 đến ngày 25/4/2019Bản đồ tình hình xâm nhập mặn tỉnh Bến Tre từ ngày 17/4 đến ngày 25/4/2019
Bản đồ tình hình xâm nhập mặn tỉnh Bến Tre từ ngày 17/4 đến ngày 25/4/2019
26/04/2019 11:00 SAĐã ban hành
KẾT QUẢ THANH TRA VỀ KHOÁNG SẢN VÀ TÀI NGUYÊN NƯỚC CỦA  BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG TẠI BẾN TREKẾT QUẢ THANH TRA VỀ KHOÁNG SẢN VÀ TÀI NGUYÊN NƯỚC CỦA  BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG TẠI BẾN TRE
Hiện nay, ở đồng bằng Sông Cửu Long mực nước ngầm đang tụt giảm và suy giảm về chất lượng do việc khai thác và sử dụng nước dưới đất chưa hợp lý. Bên cạnh đó, tình trạng sạt lở bờ sông, thay đổi dòng chảy, ô nhiễm môi trường,… do hoạt động khai thác cát, sỏi lòng sông diễn ra trong những năm gần đây. Trước thực trạng đó, ngày 12/3/ 2010 Bộ Tài nguyên và Môi trường thành lập 4 đoàn thanh tra diện rộng về tình hình khai thác cát, sỏi lòng sông và khai thác, sử dụng nước dưới đất tại 13 tỉnh, thành ở đồng bằng Sông Cửu Long.



Tại Bến Tre, đoàn làm việc với Ủy ban nhân dân tỉnh về công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực khoáng sản và tài nguyên nước. Qua đó, đoàn đánh giá cao công tác quản lý của tỉnh trong thời gian qua đã góp phần đưa các hoạt động trong lĩnh vực khoáng sản và tài nguyên nước đi vào nề nếp và ổn định. Để đáp ứng công tác quản lý nhà nước về khoáng sản và tài nguyên nước trong thời gian tới, đoàn kiến nghị tỉnh cần thực hiện các nhiệm vụ như: Thực hiện khoanh định, phê duyệt vùng cấm, tạm thời cấm hoạt động khoáng sản, vùng cấm, vùng hạn chế khai thác, sử dụng nước dưới đất; Chỉ đạo các ngành chức năng tiếp tục rà soát, hệ thống các văn ban quy phạm pháp luật ngành tài nguyên và môi trường, sửa đổi bổ sung, ban hành các văn bản mới theo thẩm quyền; Bố trí ngân sách, tăng cường đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường; Chỉ đạo Sở Tài nguyên và Môi trường thường xuyên thanh tra, kiểm tra các đơn vị đã được cấp phép hoạt động khoáng sản, khai thác sử dụng tài nguyên nước và phối hợp với các Sở, Ban, ngành liên quan giải quyết các vấn đề liên quan đến tài nguyên và môi trường,…
Đồng thời, đoàn tiến hành thanh tra việc chấp hành pháp luật của 8 tổ chức có hoạt động trong lĩnh vực khai thác cát, sỏi lòng sông và khai thác, sử dụng nước dưới đất tại tỉnh. Qua thanh tra, đoàn đã lập biên bản vi phạm hành chính và đề nghị Sở Tài nguyên và Môi trường xử phạt vi phạm hành chính đối với các tổ chức vi phạm. Lĩnh vực khoáng sản có các tổ chức vi phạm gồm: Công ty Cổ phần vật liệu xây dựng Bến Tre, Hợp tác xã khai thác cát Bình Đại, Hợp tác xã khai thác cát Ba Tri và Hợp tác xã khai thác cát Việt Hùng. Lỗi vi phạm chủ yếu của các tổ chức này là không thông báo kế hoạch khai thác cho cơ quan có thẩm quyền, không lập bản đồ hiện trạng khu vực khai thác, không có thiết kế khai thác mỏ, không ký quỹ phục hồi môi trường, không thực hiện quan trắc môi trường, …Lĩnh vực tài nguyên nước, có các tổ chức vi phạm gồm: Công ty Cổ phần XNK thuỷ sản Bến Tre, Công ty Cổ phần XNK lâm thuỷ sản Bến Tre, Ban Quản lý khai thác cung cấp nước sinh hoạt Châu Thành và Công ty TNHH một thành viên cấp thoát nước Bến Tre. Lỗi vi phạm phổ biến của các tổ chức khai thác nước dưới đất là không lắp đặt thiết bị đo lưu lượng khai thác, quan trắc mực nước, không thực hiện chế độ báo cáo định kỳ, khai thác không có giấy phép thăm dò,…
Nguyễn Minh Cường



10/05/2010 12:00 SAĐã ban hành
Hưởng ứng Ngày môi trường Thế giới năm 2011Hưởng ứng Ngày môi trường Thế giới năm 2011
Hưởng ứng tinh thần chỉ đạo việc tổ chức các hoạt động hưởng ứng Ngày Môi trường Thế giới 5/6 và Năm quốc tế về rừng 2011 của Bộ Tài nguyên và Môi trường và Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre, Chi cục Bảo vệ môi trường Bến Tre phối hợp với Trường Cao đẳng Bến Tre xây dựng kế hoạch tổ chức Hội thi vẽ tranh và ý tưởng “Chung tay bảo vệ sân chim Vàm Hồ”.



Nhằm góp phần tuyên truyền, nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường, bảo vệ rừng; phổ biến tới đông đảo nhân dân về nguyên nhân và tác hại của ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu, suy giảm đa dạng sinh học, suy thoái rừng và những lợi ích của rừng mang lại; thúc đẩy mọi tổ chức, cá nhân tham gia tích cực hơn nữa vào việc xây dựng môi trường sống trong lành, sạch đẹp, tự giác hạn chế sử dụng nguyên liệu, nhiên liệu có phát sinh khí thải gây hiệu ứng nhà kính, gây biến đổi khí hậu; tạo thói quen cho mọi người tự giác tham gia các hoạt động, phong trào bảo vệ môi trường, trồng rừng, phòng chống cháy rừng, bảo vệ các loài động thực vật hoang dã.
Hưởng ứng tinh thần chỉ đạo việc tổ chức các hoạt động hưởng ứng Ngày Môi trường Thế giới 5/6 và Năm quốc tế về rừng 2011 của Bộ Tài nguyên và Môi trường và Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre, Chi cục Bảo vệ môi trường Bến Tre phối hợp với Trường Cao đẳng Bến Tre xây dựng kế hoạch tổ chức Hội thi vẽ tranh và ý tưởng “Chung tay bảo vệ sân chim Vàm Hồ” cho đối tượng là học sinh, sinh viên và người dân trên địa bàn tỉnh Bến Tre.
Cuộc thi được phát động từ ngày 27 tháng 3 đến ngày 27 tháng 5 năm 2011. Sau 02 tháng phát động, ban tổ chức đã nhận được 96 bức tranh và 17 bài viết về ý tưởng “Chung tay bảo vệ sân chim Vàm Hồ”.
Ngày 30 tháng 5 năm 2011, Chi cục Bảo vệ môi trường và Trường Cao đẳng Bến Tre tổ chức hội đồng giám khảo chấm giải các bài viết và tranh vẽ tại Trường Cao đẳng Bến Tre, kết quả chấm giải như sau:
1. Thể loại bài viết về ý tưởng “Chung tay bảo vệ sân chim Vàm Hồ”:
- Giải I: bài viết “Tập sách về sân chim Vàm Hồ” của Ông Phạm Văn Châu, xã Tân Mỹ, huyện Ba Tri.
- Giải III: bài viết “Đề xuất các phương án bảo vệ sân chim Vàm Hồ” của các sinh viên Ngô Thị Diễm Thúy, Trần Thị Thùy Trang và Trần Phương Hải Yến, Lớp K5A.CĐTH, Trường Cao đẳng Bến Tre.
- Giải khuyến khích: bài viết “Khai thác đuông Chà Là ở Vàm Hồ. Tại sao không???”, của Dương Thanh Tuyền, tại 310A4, Đoàn Hoàng Minh, khu phố 3, phường Phú Tân, thành phố Bến Tre.
2. Thể loại vẽ tranh ý tưởng “Chung tay bảo vệ sân chim Vàm Hồ”:
+ Giải I: tác phẩm “Khi đàn chim quay về” của Phạm Nguyễn Phúc Toàn, học sinh Lớp 5/4 Trường Tiểu học Phú Thọ.
+ Giải II:
- Tác phẩm “Bảo vệ - Phát triển sân chim Vàm Hồ” của các sinh viên Ngô Thị Diễm Thúy, Trần Thị Thùy Trang và Trần Phương Hải Yến, Lớp K5A.CĐTH, Trường Cao đẳng Bến Tre.
- Tác phẩm “Chăm sóc chim non” của Phạm Nguyễn Phúc Toàn, học sinh Lớp 5/4 Trường Tiểu học Phú Thọ.
+ Giải III:
- Tác phẩm “Không tên” của Nguyễn Thị Hoài Thương, Tường Tiểu học Tân Mỹ, xã Tân Mỹ, huyện Ba Tri.
- Tác phẩm “Tham quan vườn cò” của Trần Anh Duy, Lớp 5/8 Trường Tiểu học Bến Tre.
- Tác phẩm “Cánh cò tuổi thơ” các sinh viên Ngô Thị Diễm Thúy, Trần Thị Thùy Trang và Trần Phương Hải Yến, Lớp K5A.CĐTH, Trường Cao đẳng Bến Tre.
+ Giải khuyến khích:
- Tác phẩm “Bộ sưu tập động vật hoang dã em mơ ước ở sân chim Vàm Hồ”, của Phạm Công Luận, Lớp 55 Trường Tiểu học Phú Khương.
- Tác phẩm “Chúng em yêu thiên nhiên” của Trần Anh Duy, Lớp 5/8 Trường Tiểu học Bến Tre.
- Tác phẩm “Cánh rừng ngập nước và nơi trú ngụ an toàn của đoàn chim” của Phạm Công Luận, Lớp 55 Trường Tiểu học Phú Khương.
Đồng thời, Ban tổ chức cũng đã trao giải tập thể cho các đơn vị sau:
- Giải I: Trường Tiểu Học Tân Mỹ.
- Giải II: Trường Trung học cơ sở Hưng Nhượng.
Sau đây, Chi cục Bảo vệ môi trường Bến Tre và Trường Cao đẳng Bến Tre sẽ trao giải cho các đối tượng tham dự Hội thi tại Hội thảo sơ kết giữa kỳ thực hiện Dự án “Sổ Tay bảo vệ sân chim Vàm Hồ” và Tổng kết hội thi vẽ tranh, ý tưởng “Chung tay bảo vệ sân chim Vàm Hồ”, tổ chức tại Trường Tiểu học Tân Mỹ, xã Tân Mỹ, huyện Ba Tri, vào ngày 04 tháng 5 năm 2011.
Một số tác phẩm đạt giải:


Tác phẩm “Khi đàn chim quay về” của Phạm Nguyễn Phúc Toàn, học sinh Lớp 5/4 Trường Tiểu học Phú Thọ



Tác phẩm “Bảo vệ - Phát triển sân chim Vàm Hồ” của sinh viên Ngô Thị Diễm Thúy, Trần Thị Thùy Trang và Trần Phương Hải Yến, Lớp K5A.CĐTH, Trường Cao đẳng Bến Tre



02/06/2011 12:00 SAĐã ban hành
Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường Bến Tre – Trương Duy Hải: PHÁT TRIỂN KINH TẾ PHẢI ĐI ĐÔI VỚI BẢO VỆ MÔI TRƯỜNGGiám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường Bến Tre – Trương Duy Hải: PHÁT TRIỂN KINH TẾ PHẢI ĐI ĐÔI VỚI BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
Ngay sau cuộc họp đầu năm triển khai thực hiện công tác năm 2008 của Sở Tài nguyên và Môi trường, chúng tôi đã có cuộc trao đổi với ông Trương Duy Hải, Giám đốc Sở về vấn đề phát triển bền vững ở Bến Tre.



* Thưa ông, mục tiêu phát triển bền vững đang là vấn đề thời sự nóng bỏng không chỉ của nước ta, mà còn của cả thế giới. Ở tỉnh Bến Tre, vấn đề đó đã được quan tâm như thế nào ?

Đúng như vậy. Vấn đề phát triển kinh tế - xã hội gắn với giải quyết ô nhiễm môi trường nhằm mục tiêu phát triển bền vững đang là vấn đề thời sự nóng bỏng, Tỉnh ủy, UBND tỉnh và ngành TNMT hết sức quan tâm. Làm thế nào để hạn chế đến mức thấp nhất sự mâu thuẫn giữa phát triển kinh tế với việc sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường là mục tiêu mà ngành Tài nguyên và Môi trường đã và đang đặt ra. Vì thực tiễn phát triển kinh tế ở các nước và qua 20 năm đổi mới ở nước ta đã chứng minh rằng ở đâu kinh tế càng phát triển thì ở đó tài nguyên thiên nhiên càng có xu hướng bị khai thác cạn kiệt, môi trường bị ô nhiễm, huỷ hoại, xuống cấp, có nơi rất nặng nề. Quá trình phát triển kinh tế - xã hội và đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa bên cạnh việc mang lại những thành tựu kinh tế xã hội nhất định, cũng đã và đang đặt ra những vấn đề môi trường cấp bách, những thách thức to lớn trong quá trình phát triển của tỉnh Bến Tre. Môi trường ở một số nơi bị ô nhiễm, tình trạng ứ đọng nước về mùa mưa ở thị xã, thị trấn chưa được khắc phục tốt, thiếu nhà vệ sinh công cộng. Các bãi rác chưa được đầu tư xử lý triệt để. Môi trường nước nuôi thủy, hải sản vẫn còn nguy cơ bị ô nhiễm do phát triển tự phát. Một số cơ sở sản xuất, làng nghề thủ công chưa có hệ thống xử lý chất thải, gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng xấu đến chất lượng cuộc sống người dân trong khu vực (cơ sở chế biến thủy hải sản, cơ sở sản xuất chỉ xơ dừa, cơ sở chăn nuôi heo…). Do đó, để đạt được mục tiêu phát triển bền vững, chúng ta phải có những giải pháp đồng bộ, trong đó chính sách phát triển kinh tế - xã hội phù hợp và giải pháp hữu hiệu giải quyết ô nhiễm môi trường là hết sức quan trọng.

* Thưa ông, hiện nay Ngành TNMT đã có những giải pháp để giải quyết tình trạng ô nhiễm môi trường cấp bách ?

Hướng tới mục tiêu phát triển bền vững, Ngành TNMT đang xây dựng dự án “Quy hoạch bảo vệ môi trường tỉnh Bến Tre giai đoạn năm 2006 đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020” và đây là quy hoạch hết sức cần thiết nhằm đánh giá hiện trạng, dự báo xu thế biến đổi tài nguyên, môi trường và đề xuất các phương án ưu tiên nhằm bảo vệ môi trường và khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên tỉnh Bến Tre đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020. Dự án sẽ là cơ sở bảo vệ môi trường vững chắc cho việc phát triển bền vững tỉnh Bến tre khi ra các quyết định đầu tư về phát triển KTXH. Cơ sở thực hiệndự án này dựa vào chín chương trình cụ thể như sau:

1. Chương trình nâng cao nhận thức của người dân về BVMT;

2. Chương trình kiểm soát ô nhiễm nguồn nước mặt do nước thải sinh hoạt và sản xuất; nâng cấp cải tạo và xây dựng hệ thống thoát nước và xử lý nước thải sinh hoạt đô thị, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, làng nghề;

3. Chương trình quản lý chất thải rắn, hoàn chỉnh hệ thống thu gom và xử lý chất thải rắn;

4. Chương trình kiểm soát ô nhiễm nguồn nước do các hoạt động chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản;

5. Chương trình kiểm soát xâm nhập mặn, hạn chế và giảm nhẹ tác hại của quá trình xâm nhập mặn diễn ra trên địa bàn tỉnh, chủ yếu ở các huyện ven biển;

6. Chương trình cấp nước sạch và cải tạo tình hình vệ sinh môi trường nông thôn, đặc biệt là vùng bị xâm nhập mặn;

7. Chương trình kiểm soát sạt lở các bờ sông;

8. Chương trình kiểm soát ô nhiễm không khí tại các làng nghề chỉ xơ dừa;
9. Chương trình kiểm soát ô nhiễm chất lượng đất do sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và phân bón trong nông nghiệp;

* Đó là những giải pháp về BVMT. Còn về quản lý và sử dụng tài nguyên, nhất là tài nguyên đất, thì Ngành TNMT đã có những chuẩn bị như thế nào, thưa ông ?

Đối với vấn đề quản lý tài nguyên, nhất là tài nguyên đất, dù có những khó khăn nhất định nhưng chúng ta cũng đang đứng trước môt cơ hội lớn ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nhà. Đó là việc Bến Tre được chọn là 1 trong 9 tỉnh trong cả nước tham gia thực hiện Dự án hoàn thiện và hiện đại hoá hệ thống quản lý đất đai Việt Nam (VLAP) do Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì và triển khai thực hiện với mục tiêu “tăng cường sự tiếp cận của mọi đối tượng đối với dịch vụ quản lý đất đai thông qua việc phát triển một hệ thống quản lý đất đai hoàn thiện ở Việt Nam”. Dự án VLAP dự kiến sẽ được triển khai từ tháng 7-2008 đến tháng 6-2013, tổng kinh phí thực hiện dự kiến lên đến 100 triệu USD (hơn 1.600 tỉ đồng), trong đó Ngân hàng Thế giới (WB) tài trợ 75 triệu USD bằng nguồn vốn IDA, chính phủ Việt Nam đối ứng 1 triệu USD, còn lại 24 triệu USD lấy từ nguồn ngân sách của các địa phương tham gia dự án. Riêng Bến Tre được Bộ Tài nguyên và Môi trường phân bổ 6.846.010 USD từ nguồn IDA của WB, vốn đối ứng của địa phương là 2.414.870 USD, tổng cộng kinh phí là 9.278.880 USD.

Việc được chọn tham gia thực hiện dự án VLAP là cơ hội lớn, là điều kiện vô cùng thuận lợi để tỉnh Bến Tre hoàn thiện và hiện đại hoá hệ thống quản lý đất đai của địa phương. Trước mắt, Sở Tài nguyên và Môi trường đã xây dựng kế hoạch thực hiện tổng thể cho 5 năm và kế hoạch chi tiết 18 tháng theo yêu cầu của dự án. Ủy ban nhân dân tỉnh cũng đã có văn bản cam kết với Bộ Tài nguyên và Môi trường thực hiện dự án đúng mục tiêu, nội dung của VLAP; bố trí vốn đối ứng, đồng thời ứng trước kinh phí cần thiết theo yêu cầu của dự án; duy trì và phát triển hệ thống quản lý đất đai hiện đại của dự án VLAP tại tỉnh Bến Tre; và tập trung hoàn thiện tổ chức bộ máy quản lý đất đai theo quy định pháp luật và chuẩn bị các nguồn lực cần thiết theo yêu cầu của dự án nhằm hoàn thành mục tiêu, nội dung dự án đề ra.

* Xin hỏi ông thêm một câu, nhận định của ông về chặng đường phát triển phía trước của tỉnh, gắn với phát triển bền vững, như thế nào ?

Chặng đường phát triển phía trước của tỉnh nhà không chỉ có thuận lợi mà còn tìm ẩn nhiều vấn đề khó khăn cần phải giải quyết, trong đó có nguy cơ tác động xấu đến tài nguyên thiên nhiên và môi trường của tỉnh. Thông điệp của Ngành là ủng hộ sự phát triển hài hoà, thân thiện với môi trường và quyết tâm của Ngành là phải bảo vệ hình ảnh đẹp của xứ Dừa, hướng đến tầm vóc về một đô thị đẹp của tương lai.

Hiện tại, các chương trình, dự án về hiện đại hoá hệ thống quản lý đất đai và bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh đã được khởi động; quy hoạch bảo vệ môi trường định hướng đến năm 2020 và các quy hoạch khai thác, sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên đã được triển khai xây dựng; các khiếu kiện liên quan đến chính sách đất đai đang được xem xét giải quyết thấu tình, đạt lý… tất cả đều hướng tới mục tiêu phát triển bền vững của tỉnh nhà, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, góp phần cùng cả nước tận dụng tốt thời cơ và vận hội mới của đất nước.

Tất cả những gì được trình bày ở trên, đó cũng chính là sự nhận thức về vị trí, vai trò, trách nhiệm của Ngành trong tiến trình hội nhập của tỉnh. Tôi thay mặt ngành Tài nguyên và Môi trường xin được bày tỏ để quý độc giả chia sẻ và hỗ trợ nhằm giúp chúng tôi hoàn thành tốt nhiệm vụ. Trước thiềm năm mới, thay mặt ngành Tài nguyên và Môi trường Bến Tre kính chúc quý độc giả một năm mới sức khoẻ, hạnh phúc và gặt hái được nhiều thành công trong công việc cũng như trong cuộc sống.

* Xin cảm ơn ông !

VĨNH THỊNH (thực hiện)



01/02/2008 12:00 SAĐã ban hành
Kế hoạch thanh tra về tài nguyên và môi trường năm 2019Kế hoạch thanh tra về tài nguyên và môi trường năm 2019
Quyết định số 3549/QĐ-BTNMT ngày 23 tháng 11 năm 2018 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc phê duyệt Kế hoạch thanh tra năm 2019.
29/01/2019 4:00 CHĐã ban hành
Hỏi: Sự cố tràn dầu là gì? Tôi phải làm gì và thông báo cho cơ quan, đơn vị nào khi phát hiện sự cố tràn dầu?Hỏi: Sự cố tràn dầu là gì? Tôi phải làm gì và thông báo cho cơ quan, đơn vị nào khi phát hiện sự cố tràn dầu?
<b>Trả lời:</b> Sự cố tràn dầu là hiện tượng dầu từ các phương tiện chứa khác nhau hoặc từ lòng đất thoát ra ngoài môi trường tự nhiên do sự cố kỹ thuật, thiên tai hoặc do con người gây ra không kiểm soát được.



Khi phát hiện có sự cố tràn dầu thì các tổ chức, cá nhân Việt Nam và tổ chức, cá nhân nước ngoài có hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trên địa bàn tỉnh Bến Tre có trách nhiệm thông báo khẩn cấp đến Sở Tài nguyên và Môi trường - Thường trực Ban chỉ đạo ứng phó sự cố tràn dầu tỉnh Bến Tre, số 01 Trần Quốc Tuấn, phường 2, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre. Điện thoại liên lạc: 0753 822210. Đồng thời tổ chức, chỉ huy lực lượng, phương tiện tại chỗ của mình để khống chế và hạn chế mức độ lan truyền của dầu.
Ngoài ra, có thể thông báo đến các cơ quan khác như: Cảng vụ Hàng hải Mỹ Tho, Trung tâm Ứng phó sự cố tràn dầu khu vực Miền Nam và UBND huyện (nơi xảy ra sự cố tràn dầu), các đơn vị: hải quân, biên phòng, Cảnh sát giao thông đường thủy,.....
Mai Hanh



06/07/2010 12:00 SAĐã ban hành
THÀNH LẬP CHI CỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TỈNH BẾN TRETHÀNH LẬP CHI CỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TỈNH BẾN TRE
Trên cơ sở Quyết định số 619/QĐ-UBND ngày 03 tháng 4 năm 2008 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre về việc thành lập Chi cục Bảo vệ môi trường Bến Tre. Đến ngày 03 tháng 7 năm 2008 Chi cục Bảo vệ môi trường chính thức đi vào hoạt động.



Chi cục Bảo vệ môi trường được thành lập dựa trên cơ sở nâng cấp Phòng Môi trường với chức năng quản lý nhà nước về môi trường trên phạm vi toàn tỉnh. Chi cục Bảo vệ môi trường chịu trách nhiệm tham mưu cho cấp trên tham gia xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật, chương trình kế hoạch, dự án về bảo vệ môi trường theo sự phân công của Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường; thực hiện các quy định về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật môi trường trong các hoạt động sản xuất kinh doanh và dịch vụ; tổ chức thẩm định báo cáo đánh giá môi trường chiến lược và thẩm định, phê duyệt báo cáo đánh giá các tác động của môi trường; điều tra, thống kê các nguồn thải, loại chất thải trên địa bàn tỉnh; kiến nghị các cơ quan thẩm quyền xử lý các cơ sở gây ô nhiễm môi trường; đánh giá, cảnh báo và dự báo nguy cơ, sự cố môi trường trên địa bàn tỉnh; phối hợp liên ngành, liên tỉnh và công tác bảo tồn khai thác bền vững tài nguyên thiên nhiên; tổ chức thực hiện quan trắc môi trường theo nội dung, chương trình đã được phê duyệt; thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ, chủ trì hoặc tham gia thực hiện các dự án trong nước và hợp tác quốc tế; hướng dẫn nghiệp vụ về quản lý môi trường đối với Phòng tài nguyên môi trường các huyện, thị và cán bộ địa chính xã, phường, thị trấn; phối hợp với Thanh tra Sở trong việc kiểm tra, thanh tra, phát hiện các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh….

Lê Uyên



13/08/2008 12:00 SAĐã ban hành
Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ 06/6/2018 đến 13/6/2019Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ 06/6/2018 đến 13/6/2019
Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ 06/6/2018 đến 13/6/2019
17/06/2019 9:00 SAĐã ban hành
Góp ý Dự thảo Quyết định ban hành Quy định về quy trình thu hồi đất đối với các dự án đầu tư không đưa đất vào sử dụng hoặc triển khai chậm tiến độ thực hiện dự án trên địa bàn tỉnh Bến TreGóp ý Dự thảo Quyết định ban hành Quy định về quy trình thu hồi đất đối với các dự án đầu tư không đưa đất vào sử dụng hoặc triển khai chậm tiến độ thực hiện dự án trên địa bàn tỉnh Bến Tre
Góp ý Dự thảo Quyết định ban hành Quy định về quy trình thu hồi đất đối với các dự án đầu tư không đưa đất vào sử dụng hoặc triển khai chậm tiến độ thực hiện dự án trên địa bàn tỉnh Bến Tre

​     Sở Tài nguyên và Môi trường đã xây dựng dự thảo Quyết định Quy định thu hồi đất đối với trường hợp Bên thuê đất, thuê lại đất trong khu công nghiệp, khu chế xuất, cụm công nghiệp, làng nghề không đưa đất vào sử dụng, chậm đưa đất vào sử dụng để trình Ủy ban nhân dân tỉnh trong kỳ họp Thành viên Ủy ban nhân dân tỉnh tháng 7 năm 2018.

      Các ý kiến đóng góp của các Sở, ngành tỉnh và Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố xin gửi về Chi cục Quản lý đất đai - Sở Tài nguyên và Môi trường trước ngày 05 tháng 10 năm 2018, file góp ý gửi về địa chỉ ccqldd.stnmt@bentre.gov.vn.

Tải văn bản: Du_Thao_QD_2646.rar

01/10/2018 4:00 CHĐã ban hành
BẾN TRE BAN HÀNH BẢNG GIÁ ĐẤT 2009BẾN TRE BAN HÀNH BẢNG GIÁ ĐẤT 2009
Ngày 23   tháng 12  năm 2008, Uỷ ban nhân dân tỉnh Bến Tre đã ban Quyết định số 27/2008/QĐ-UBND Về việc ban hành Quy định về giá các loại đất áp dụng trên địa bàn tỉnh Bến Tre năm 2009.



Quy định này được sử dụng làm căn cứ để: tính thuế đối với việc sử dụng đất và chuyển quyền sử dụng đất; tính tiền sử dụng đất và tiền cho thuê đất khi giao đất, cho thuê đất không thông qua đấu giá quyền sử dụng đất hoặc đấu thầu dự án có sử dụng đất; tính giá trị quyền sử dụng đất khi giao đất không thu tiền sử dụng đất cho các tổ chức, cá nhân; xác định giá trị quyền sử dụng đất để tính vào giá trị tài sản của doanh nghiệp Nhà nước khi cổ phần hoá; tính giá trị quyền sử dụng đất đất để thu lệ phí trước bạ, tính giá trị quyền sử dụng đất để bồi thường, giải toả, thu hồi đất cho các mục đích an ninh, quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và phát triển kinh tế, …
Theo bảng giá mới này thì giá đất thổ cư cao nhất tại khu vực trung tâm thị xã Bến Tre là 23 triệu đồng/m2 (đường Nguyễn Đình Chiểu, đoạn từ vòng xoay trung tâm thị xã đến ngã tư Phan Ngọc Tòng; và đại lộ Đồng Khởi, đoạn từ cầu Bến Tre 1 đến vòng xoay trung tâm). Tiếp đến, các đoạn đường ở khu chợ và các đại lộ, trục đường chính trong nội ô thị xã đều có giá từ 17 triệu, 18 triệu đến 20 triệu đồng/m2.
Nhìn chung, giá đất năm 2009 ít thay đổi so với năm 2008. Năm nay, giá đất nông nghiệp và được phân theo 5 vị trí, trong đó có vị trí đất không có lối đi dẫn vào đây là vị trí mới so với bảng giá đất cũ và cách tính vị trí cũng khác so với bảng giá đất cũ, đất trồng cây hàng năm cao nhất là 160.000 đ/m2 (vị trí 1). Đất trồng cây lâu năm vị trí 1 là 189.000 đ/m2. Đất nuôi trồng thuỷ sản vị trí 1 là 12.000 đ/m2. Đất làm muối vị trí 1 là 15.000 đ/m2, Đất lâm nghiệp vị trí 1: Giá cao nhất là 10.000 đ/m2.
Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2009 và thay thế cho Quyết định số 09/2008/QĐ-UBND ngày 28 tháng 4 năm 2008 của Uỷ ban nhân dân tỉnh về việc Ban hành Bảng giá các loại đất áp dụng trên địa bàn tỉnh Bến Tre năm 2008 và Quyết định số 15/2008/QĐ-UBND ngày 03 tháng 7 năm 2008 của Uỷ ban nhân dân tỉnh về việc sửa đổi, bổ sung Quyết định số 09/2008/QĐ-UBND ngày 28 tháng 4 năm 2008 của Uỷ ban nhân dân tỉnh./.

(Để xem bảng chi tiết giá đất vào mục Văn bản pháp quy -> Tài nguyên đất).
HÙNG CƯỜNG



07/01/2009 12:00 SAĐã ban hành
Thông báo Tuyển dụng hợp đồng lao động của Trung tâm Quan trắc tài nguyên và môi trườngThông báo Tuyển dụng hợp đồng lao động của Trung tâm Quan trắc tài nguyên và môi trường
Trung tâm Quan trắc tài nguyên và môi trường thông báo tuyển dụng hợp đồng lao động vị trí Giao dịch khách hàng, tiếp nhận và trả kết quả, quản lý các hợp đồng dịch vụ

​1. Vị trí tuyển dụng

    Giao dịch khách hàng, tiếp nhận và trả kết quả, quản lý các hợp đồng dịch vụ.

2. Điều kiện, tiêu chuẩn

   - Giới tính: Nữ

   - Yêu cầu trình độ: Kỹ sư khoa học môi trường

  - Tin học: Sử dụng thành thạo tin học văn phòng

  - Ngoại ngữ: Anh văn trình độ B trở lên.

3. Thời gian nhận hồ sơ

    Nhận hồ sơ từ ngày ra thông báo đến khi tuyển được người theo yêu cầu.

Chi tiết xem tại: 50_2019_TB_TTQTTNMT.pdf

06/06/2019 4:00 CHĐã ban hành
Thông tin quy hoạch các đơn vị hành chính thuộc tỉnh Bến Tre Thông tin quy hoạch các đơn vị hành chính thuộc tỉnh Bến Tre
Hiện tại người truy cập có thể xem thông tin quy hoạch các đơn vị hành chính thuộc tỉnh Bến Tre như sau:
- Thành phố Bến Tre: P1, P2, P3, P4, P5, P6, P7, P8, một phần xã: Bình Phú, xã Sơn Đông, xã Mỹ Thạnh An.
- Huyện Thạnh Phú: Thị trấn Thạnh Phú, xã Phú Khánh, xã Đại Điền, xã Quới Điền, xã Tân Phong, xã Thới Thạnh.
Chúng tôi sẽ cố gắng cập nhật thông tin các huyện còn lại thuộc tỉnh Bến Tre trong thời gian sớm nhất.
Nếu người truy cập phát hiện sai sót xin góp ý về Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất Bến Tre. ĐT: 075.3821104 hoặc Email: vpdkbentre@yahoo.com.vn.
Người truy cập thông tin quy hoạch của các phường Phú Khương, Phú Tân, xã Phú Hưng theo bảng hướng dẫn sau:

* Các tờ bản đồ địa chính số: 1,2,3,4 và 11 của xã Phú hưng chuyển một phần sang Phường Phú Tân thì thực hiện đổi thành tờ bản đồ số: 31,33,34,16 và 35.
09/10/2008 12:00 SAĐã ban hành
Danh sách các mỏ cát đã được cấp phép khai thác trên địa bàn tỉnh Bến TreDanh sách các mỏ cát đã được cấp phép khai thác trên địa bàn tỉnh Bến Tre









30/01/2013 12:00 SAĐã ban hành
Hội thảo quốc tế "Thiết lập hệ thống hợp tác về thông tin môi trường giữa các nước Đông Nam Á"Hội thảo quốc tế "Thiết lập hệ thống hợp tác về thông tin môi trường giữa các nước Đông Nam Á"
Ngày 6/9, tại Hà Nội, Cục Đo đạc Bản đồ và Viện Môi trường Hàn Quốc đồng phối hợp tổ chức Hội thảo quốc tế "Thiết lập hệ thống hợp tác về thông tin môi trường giữa các nước Đông Nam Á". Nội dung của Hội thảo tập trung vào 3 lĩnh vực: Hệ thống thông tin địa lý Quốc gia (NGIS), thông tin môi trường và một số nội dung liên quan đến hệ thống thông tin đất đai. Hiện  tại ở Hàn Quốc, người dân, các nhà đầu tư có thể lấy thông tin môi trường và đất đai thông qua mạng internet, khó khăn nhất khi xây dựng hệ thống bản đồ này là thu thập dữ liệu



Phát biểu tại Hội thảo ông Trần Bạch Giang - Cục Trưởng Cục đo đạc bản đồ cho biết: Đến nay Bộ Tài nguyên và Môi trường đã xây dựng chuẩn thông tin địa lý cơ sở Quốc gia, thành lập cơ sở dữ liệu nền thông tin địa lý, xây dựng cơ sở dữ liệu tích hợp tài nguyên & môi trường, xây dựng cơ sở dữ liệu tích hợp tài nguyên & môi trường biển, xây dựng Hệ thống thông tin môi trường. Bên cạnh đó, ban hành các chuẩn về bản đồ số như quy định kỹ thuật thành lập bản đồ địa hình tỷ lệ 1:2000 và 1:5000 bằng công nghệ ảnh số; quy định kỹ thuật thành lập bản đồ địa hình tỷ lệ 1:10000, 1:25000 và 1:50000 bằng công nghệ ảnh số; quy phạm thành lập bản đồ địa chính; quy phạm thành lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất... Tuy nhiên các chuẩn này chỉ mới là chuẩn bản đồ số, chưa phải là chuẩn thông tin địa lý Quốc gia nên yêu cầu đặt ra hiện nay là cần có các chuẩn về thu thập, quản lý và sử dụng thông tin địa lý, các bộ dữ liệu nền thống nhất, nhất quán trong thể hiện và sử dụng, Nhà nước cần thống nhất quản lý các nguồn tư liệu thông tin địa lý, thúc đẩy, hỗ trợ và phát triển các ứng dụng khác trên bộ dữ liệu nền – thông tin địa lý cơ sở Quốc gia.


Mai Dung


11/09/2007 12:00 SAĐã ban hành
Bản tin tình hình xâm nhập mặn tỉnh Bến Tre (Từ ngày 14/3 đến ngày 21/3/2017)Bản tin tình hình xâm nhập mặn tỉnh Bến Tre (Từ ngày 14/3 đến ngày 21/3/2017)
Bản tin dự báo độ mặn từ ngày 14 tháng 3 đến ngày 21 tháng 3 năm 2017 (Tuần 11/2017)

I/ TÓM TẮT TÌNH HÌNH XÂM NHẬP MẶN TỪ NGÀY 07 ĐẾN 07 GIỜ NGÀY 14/03/2017 (TUẦN 10/2017):

Diễn biến xâm nhập mặn cao nhất hàng ngày có xu thế xâm nhập giảm dần trong các ngày 07-08, sau đó xâm nhập sâu dần từ ngày 09 đến ngày 14.

Độ mặn xâm nhập sâu nhất xuất hiện trong các ngày 10-13 và ở mức thấp, ít sâu hơn so với tuần trước và thấp hơn so với cùng thời kỳ năm 2016.

Độ mặn cao nhất đo được tại các nơi như sau:

Ø Trên sông Cửa Đại:

+ Tại Bình Đại (cảng cá Bình Đại - huyện Bình Đại): 20.1 ‰ ngày 09.

+ Tại Lộc Thuận (xã Lộc Thuận - huyện Bình Đại): 8.6 ‰  ngày 09.

+ Tại Giao Hoà (xã Giao Hoà - huyện Châu Thành): 0.9 ‰  ngày 12.

+ Tại Quới Sơn (Ấp 2, xã Quới Sơn - huyện Châu Thành): 0.2 ‰ ngày 07-13.

+ Tại Long Hòa (xã Long Hòa - huyện Bình Đại): 0.1 ‰. (sông Ba Lai).

Ø Trên sông Hàm Luông:

+ Tại An Thuận (cảng cá Tiệm Tôm - huyện Ba Tri): 21.7 ‰ ngày 09.

+ Tại Sơn Đốc (xã Hưng Lễ - huyện Giồng Trôm): 7.5 ‰ ngày 09.

+ Tại Phú Khánh (xã Phú Khánh - huyện Thạnh Phú): 4.2 ‰ ngày 13.

+ Tại Vàm Cái Quao (xã Bình Khánh Đông - huyện Mỏ Cày Nam): 6.3 ‰ ngày 08.

+ Tại Vàm Nước Trong (xã Tân Thành Bình - huyện Mỏ Cày Bắc): 1.1 ‰ ngày 12.

+ Tại Mỹ Hoá (phường 07 - Tp. Bến Tre): 0.4 ‰  ngày 08-13.

+ Tại Thanh Tân (xã Thanh Tân - huyện Mỏ Cày Bắc): 0.2 ‰ ngày 09, 10.

+ Tại An Hiệp (xã An Hiệp - huyện Châu Thành): 0.2 ‰ ngày 11.

+ Tại Vàm Mơn (xã Phú Sơn - huyện Chợ Lách): 0.1 ‰.

Ø Trên sông Cổ Chiên:

+ Tại Bến Trại (xã An Thuận - huyện Thạnh Phú): 21.1 ‰ ngày 09.

+ Tại Hương Mỹ (xã Hương Mỹ - huyện Mỏ Cày Nam): 5.2 ‰  ngày 09.

+ Tại Cẩm Sơn (xã Cẩm Sơn - huyện Mỏ Cày Nam): 2.4 ‰ ngày 10.

+ Tại Thành Thới B (xã Thành Thới B - huyện Mỏ Cày Nam): 0.2 ‰ ngày 07-14.

+ Tại Nhuận Phú Tân (xã Nhuận Phú Tân - huyện Mỏ Cày Bắc): 0.1 ‰.

Độ mặn 4 ‰ trên các sông chính đã xâm nhập đến:

- Sông Cửa Đại: xã Vang Quới Tây (huyện Bình Đại), (cách cửa sông khoảng 30-32km).

- Sông Hàm Luông: xã Hưng Phong (huyện Giồng Trôm) - xã Phước Hiệp (huyện Mỏ Cày Nam), (cách cửa sông khoảng 36-38km).

- Sông Cổ Chiên: xã Cẩm Sơn (huyện Mỏ Cày Nam), (cách cửa sông khoảng 32-34km).

Độ mặn 1 ‰ trên các sông chính đã xâm nhập đến:

- Sông Cửa Đại: xã Giao Hòa (huyện Châu Thành), (cách cửa sông khoảng 40-42km).

- Sông Hàm Luông: xã Mỹ Thạnh An (Tp. Bến Tre), (cách cửa sông khoảng 45-47km).

- Sông Cổ Chiên: xã Thành Thới B (huyện Mỏ Cày Nam), (cách cửa sông khoảng 42-44km).

II / DỰ BÁO TÌNH HÌNH XÂM NHẬP MẶN TỪ NGÀY 14 ĐẾN NGÀY 21/03/2017 (TUẦN 11/2017):

Diễn biến xâm nhập mặn cao nhất hàng ngày có xu thế ít biến đổi trong 02 ngày 14-15, sau đó xâm nhập sâu dần từ ngày 16 đến ngày 20, 21.

Độ mặn xâm nhập sâu nhất xuất hiện trong các ngày 19-21 và ở mức cao, sâu hơn so với tuần qua và thấp hơn so với cùng thời kỳ năm 2016.

Ø Trên sông Cửa Đại:

+ Tại Bình Đại (cảng cá Bình Đại - huyện Bình Đại): Smax từ  23.0 ‰ đến 26.0 ‰.

+ Tại Lộc Thuận (xã Lộc Thuận - huyện Bình Đại): Smax từ  11.0 ‰ đến 14.0 ‰.

+ Tại Giao Hoà (xã Giao Hoà - huyện Châu Thành): Smax từ  1.0 ‰ đến 3.0 ‰.

+ Tại Quới Sơn (Ấp 2, xã Quới Sơn - huyện Châu Thành): Smax từ  0.5 ‰ đến 2.0 ‰.

+ Tại Long Hoà (xã Long Hoà - huyện Bình Đại): 0.2 ‰  đến 2.0 ‰ (sông Ba Lai).

Ø Trên sông Hàm Luông:

+ Tại An Thuận (Tiệm Tôm - huyện Ba Tri): Smax từ 25.0 ‰ đến 28.0 ‰.

+ Tại Sơn Đốc (xã Hưng Lễ - huyện Giồng Trôm): Smax từ  11.0 ‰ đến 14.0 ‰.

+ Tại Phú Khánh (xã Phú Khánh - huyện Thạnh Phú): Smax từ 7.0 ‰ đến 10.0 ‰ (trong kênh).

+ Tại Vàm Cái Quao (xã Bình Khánh Đông - huyện Mỏ Cày Nam): Smax từ 7.0 ‰ đến 10.0 ‰.

+ Tại Vàm Nước Trong (xã Tân Thành Bình - huyện Mỏ Cày Bắc): Smax từ 2.0 ‰ đến 4.0 ‰.

+ Tại Mỹ Hoá (phường 07 - Tp. Bến Tre): Smax từ 0.5 ‰ đến 2.5 ‰.

+ Tại Thanh Tân (xã Thanh Tân - huyện Mỏ Cày Bắc): Smax từ 0.2 ‰ đến 1.5 ‰.

+ Tại An Hiệp (xã An Hiệp - huyện Châu Thành): Smax từ 0.2 ‰ đến 1.0 ‰.

+ Tại Vàm Mơn (xã Phú Sơn - huyện Chợ Lách): Smax 0.2 ‰.

+ Tại Hòa Nghĩa (xã Hòa Nghĩa - huyện Chợ Lách): 0.1 ‰.

Ø Trên sông Cổ Chiên:

+ Tại Bến Trại (xã An Thuận - huyện Thạnh Phú): Smax từ  23.0 ‰ đến 26.0 ‰.

+ Tại Hương Mỹ (xã Hương Mỹ - huyện Mỏ Cày Nam): Smax từ 6.0 ‰ đến 9.0‰.

+ Tại Cẩm Sơn (xã Cẩm Sơn - huyện Mỏ Cày Nam): Smax từ  5.0 ‰ đến 8.0 ‰.

+ Tại Thành Thới B (xã Thành Thới B - huyện Mỏ Cày Nam): Smax từ 1.0 ‰ đến 3.0 ‰.

+ Tại Nhuận Phú Tân (xã Nhuận Phú Tân): Smax từ 0.2 ‰ đến 1.0 ‰.

Độ mặn 4 ‰ trên các sông chính có khả năng xâm nhập đến:

- Sông Cửa Đại: xã Long Định (huyện Bình Đại), (cách cửa sông khoảng 34-36km).

- Sông Hàm Luông: xã Sơn Phú (huyện Giồng Trôm) - Định Thủy (huyện Mỏ Cày Nam), (cách cửa sông khoảng 40-42km).

- Sông Cổ Chiên: xã Thành Thới A (huyện Mỏ Cày Nam), (cách cửa sông khoảng 40-42km).

Độ mặn 1 ‰ trên các sông chính có khả năng xâm nhập đến:

- Sông Cửa Đại: xã Quới Sơn (huyện Châu Thành), (cách cửa sông khoảng 46-48km).

- Sông Hàm Luông: xã Mỹ Thành (TP. Bến Tre), (cách cửa sông khoảng 50-52km).

- Sông Cổ Chiên: xã Nhuận Phú Tân (huyện Mỏ Cày Bắc), (cách cửa sông khoảng 52-54km).

* Cấp độ rủi ro thiên tai do xâm nhập mặn trong tuần này:

Sông Cửa Đại: cấp độ 1.

Sông Hàm Luông:cấp độ 1.

Sông Cổ Chiên: cấp độ 1.

Tuan 11.png 

Ban tin man 14-3-2017 (Tuan11).png

16/03/2017 5:00 CHĐã ban hành
Xây dựng hệ thống thông tin dữ liệu tài nguyên nước: Hoàn thiện cơ chế chính sách là đòi hỏi cấp báchXây dựng hệ thống thông tin dữ liệu tài nguyên nước: Hoàn thiện cơ chế chính sách là đòi hỏi cấp bách
“5 năm tới cần hoàn thiện khung pháp lý trong việc chia sẻ thông tin dữ liệu TNN, bộ công cụ chia sẻ dữ liệu TNN và cơ sở vật chất thúc đẩy quá trình chia sẻ TNN”, Thứ trưởng Nguyễn Thái Lai chỉ đạo tại Hội thảo “Hệ thống thông tin về tài nguyên nước” do Trung tâm Thông tin kinh tế TNN (Cục Quản lý TNN) phối hợp với các chuyên gia Đức tổ chức ngày 21 và 22/9.



Thông tin, dữ liệu về tài nguyên nước (TNN) là công cụ quan trọng cho quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, quá trình ra quyết định và phát triển kinh tế xã hội. Tuy nhiên, nước ta hiện nay vẫn chưa có hệ thống thông tin dữ liệu về TNN.
Trong buổi làm việc mới đây với Cục Công nghệ thông tin (CNTT), Bộ TN&MT, Thứ trưởng Nguyễn Thái Lai đã chỉ đạo Cục Quản lý TNN cần phối hợp chặt chẽ với Cục CNTT nhanh chóng xây dựng hệ thống thông tin, dữ liệu TNN. Bởi lẽ hiện nay thông tin, dữ liệu TNN nằm rải rác ở nhiều Bộ, ngành khác nhau, dưới dạng tài liệu hoặc số liệu chưa chuẩn hóa và chỉnh lý theo chuẩn thống nhất. Tại Hội thảo này, các nhà quản lý, các chuyên gia đã bước đầu chia sẻ kinh nghiệm trong việc xây dựng hệ thống thông tin dữ liệu TNN.
Những thách thức
Theo TS. Claudia Kunzer, nữ chuyên gia Đức đang tham gia Dự án WISDOM - hỗ trợ Bộ TN&MT xây dựng và phát triển hệ thống thông tin về tài nguyên nước, có không ít thách thức trong việc xây dựng hệ thống này. Đó là, việc thu thập quản lý truy cập thông tin về tài nguyên đất và nước còn rất phân tán. Các dữ liệu của các cơ quan khác nhau còn chưa nhất quán và thiếu trao đổi giữa các cơ quan Nhà nước. “Hệ thống thông tin, cảnh báo và giám sát chất lượng nước, dự báo lũ, lụt và hạn hán chưa được xây dựng đầy đủ”, TS. Claudia Kunzer nói.
Chính vì vậy, việc xây dựng năng lực cho Dự án WISDOM là hết sức cần thiết. Cụ thể là xây dựng các khóa tập huấn đào tạo về quản lý tri thức, đào tạo trong phòng học đa năng (phòng Lab) về phân tích chất lượng nước. Ngoài ra còn cần các khóa đào tạo về viễn thám, hệ thống thông tin địa lý (GIS), công nghệ thông tin (IT), xây dựng chương trình…
Ông Châu Trần Vĩnh, Giám đốc Trung tâm Thông tin kinh tế Tài nguyên nước (Cục Quản lý TNN), lại đề cập đến một số thách thức trong quản lý thông tin, dữ liệu TNN. Đó là, thiếu cơ chế chia sẻ thông tin dữ liệu và thiếu cả các quy chế, quy định về lưu trữ, khai thác, sử dụng thông tin, dữ liệu; các thông tin dữ liệu còn phân tán chồng chéo và thiếu sự phối hợp, trao đổi thông tin, dữ liệu giữa các cơ quan ban ngành, giữa địa phương và Trung ương. Mặt khác, việc giao nộp, lưu trữ để đưa vào khai thác, sử dụng còn rất chậm.
“Thông tin, dữ liệu TNN nằm rải rác ở nhiều Bộ, ngành, cơ quan khác nhau, dưới dạng tài liệu hay số liệu thô chưa chuẩn hóa và chỉnh lý theo chuẩn thống nhất”, ông Vĩnh nói. Nguồn thông tin dữ liệu này rất lớn, có giá trị sử dụng cao và lâu dài. Nhưng cho đến nay kho dữ liệu này chưa được tổ chức thành CSDL do chưa có nền tảng công nghệ thông tin.
Chính vì cơ sở hạ tầng còn lạc hậu, năng lực về CNTT còn yếu nên chưa đáp ứng được việc triển khai các ứng dụng CNTT phục vụ công tác quản lý và khai thác, sử dụng thông tin, dữ liệu TNN.
Đại diện Cục CNTT cũng cho rằng, trung tâm CNTT thuộc Sở TN&MT các tỉnh hiện mới chỉ tập trung ứng dụng CNTT cho công tác quản lý đất đai, chưa quan tâm ứng dụng đúng mức cho các lĩnh vực khác trong ngành. Đó là chưa kể kinh phí dành cho ứng dụng CNTT chưa đáp ứng nhu cầu. Các chuẩn về cơ sở hạ tầng, chuẩn dữ liệu chuyên ngành, định mức kinh tế kỹ thuật, ứng dụng CNTT chính thức làm cơ sở áp dụng trong toàn ngành đến nay vẫn chưa được xây dựng.
Ba giai đoạn xây dựng hệ thống thông tin, dữ liệu TNN
Đây là kiến nghị của ông Châu Trần Vĩnh. Theo đó, giai đoạn 1 (2010 – 2011), cần xây dựng hệ thống thông tin (HTTT) nhằm kết nối giữa Cục Quản lý TNN, Trung tâm Quy hoạch và Điều tra TNN, Ủy ban Sông Mê Công Việt Nam đồng thời kết nối mạng quan trắc động thái nước dưới đất, mạng quan trắc thủy văn. Giai đoạn 2 (2012 – 2013), mở rộng hệ thống kết nối thêm với các đơn vị có liên quan đến TNN như: Tổng cục Môi trường, Tổng cục Biển và Hải đảo, Trung tâm Khí tượng Thủy văn Quốc gia, Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn môi trường đồng thời kết nối thêm mạng quan trắc khí tượng, mạng giám sát chất lượng nước. Giai đoạn 3 (2014 – 2015), cần mở rộng hệ thống kết nối Sở TN&MT các tỉnh, các đơn vị khác có liên quan, các mạng quan trắc về TNN của địa phương.
Đề cập tới giải pháp kỹ thuật và công nghệ nhằm xây dựng hệ thống thông tin môi trường nói chung và mô hình HTTT quản lý môi trường lưu vực sông nói riêng, TS. Dương Hoàng Tùng (Tổng cục Môi trường) cho rằng: HTTT quản lý môi trường lưu vực sông là một trong số các HTTT môi trường chuyên ngành hiện đang được Tổng cục Môi trường triển khai.
Hoàn thiện cơ chế chính sách: Đòi hỏi cấp bách
“Chúng ta cần chuẩn hóa dữ liệu, xây dựng khái niệm, mục đích chung của cả hệ thống thông tin dữ liệu TNN. Cần ưu tiên xây dựng những thông tin dữ liệu đang được các đối tượng quan tâm”, chuyên gia Đức, Tiến sỹ Thilo Wehrmann đề xuất.
“Để tích hợp các HTTT môi trường chuyên ngành vào HTTT môi trường nói chung cần có một chuẩn thống nhất trong toàn hệ thống. Cần thiết lập cơ chế, quy chế hành chính, kỹ thuật đảm bảo cung cấp, chia sẻ thông tin dữ liệu và phân công trách nhiệm cụ thể từ TƯ đến địa phương cho các hệ thống”, TS. Tùng nói. Ngoài ra, để HTTT hoạt động có hiệu quả, cần có kinh phí đảm bảo duy trì và cập nhật thông tin thường xuyên. Cán bộ vận hành cần thường xuyên được đào tạo, học tập nâng cao trình độ để đảm bảo hệ thống hoạt động ổn định.
Cũng với mục tiêu cần sớm hoàn thiện cơ chế, chính sách, đại diện Cục CNTT cho biết: Trong năm 2010, Cục CNTT sẽ phối hợp với các đơn vị đầu mối thông tin các lĩnh vực và địa phương xây dựng các văn bản pháp quy. Đó là, quy chế cung cấp dữ liệu, xây dựng, quản lý, cập nhật, khai thác và bảo trì CSDL tài nguyên và môi trường Quốc gia, quy trình kỹ thuật xây dựng danh mục CSDL TN&MT, quy chế lập, thực hiện, kiểm tra, nghiệm thu sản phẩm các dự án ứng dụng CNTT trong ngành TN&MT, quy chế thẩm định và khuyến nghị sử dụng các sản phẩm phần mềm ứng dụng trong ngành TN&MT.
Đồng thời cũng trong năm 2010, 4 văn bản pháp quy sẽ được xây dựng như: Thông tư liên tịch (TTLT) Bộ TN&MT - Bộ Tài chính quy định đơn giá cung cấp dữ liệu trong CSDL TN&MT; TTLT Bộ TN&MT - Bộ Thông tin Truyền thông (TTTT) quy định về tính pháp lý CSDL TN&MT; TTLT Bộ TN&MT - Bộ TTTT quy định sử dụng chữ ký điện tử trong ngành TN&MT; Thông tư hướng dẫn cơ cấu tổ chức và hoạt động của các Trung tâm CNTT trực thuộc Sở TN&MT các tỉnh, thành phố trực thuộc TƯ.
Những ý kiến, tham luận đóng góp tại hội thảo này bước đầu cho thấy để xây dựng được hệ thống thông tin dữ liệu TNN có rất nhiều vấn đề được đề cập đến. Tuy nhiên, nhiều đại biểu cho rằng, việc hoàn thiện văn bản pháp luật là công việc đầu tiên phải làm ngay.

Theo www.monre.gov.vn



28/09/2009 12:00 SAĐã ban hành
Kế hoạch thực hiện Đề án xử lý, di dời các cơ sở sản xuất, kinh doanh gây ô nhiễm ra khỏi nội thành thành phố Bến Tre trong năm 2010Kế hoạch thực hiện Đề án xử lý, di dời các cơ sở sản xuất, kinh doanh gây ô nhiễm ra khỏi nội thành thành phố Bến Tre trong năm 2010
Ngày 07 tháng 7 năm 2010, Trưởng Ban chỉ đạo thực hiện Đề án xử lý, di dời các cơ sở sản xuất, kinh doanh gây ô nhiễm ra khỏi nội thành thành phố Bến Tre đã ban hành Kế hoạch số 2687/KH-BCĐ về thực hiện Đề án Bổ sung xử lý, di dời các cơ sở sản xuất, kinh doanh gây ô nhiễm ra khỏi nội thành thành phố Bến Tre trong năm 2010.



Kế hoạch thực hiện Đề án trong năm 2010 đã vạch ra 03 mục tiêu phấn đấu: Hoàn thành việc xử lý 90% cơ sở sản xuất, kinh doanh gây ô nhiễm trên địa bàn nội thành thành phố Bến Tre. 90% cơ sở đầu tư xây dựng hệ thống xử lý chất thải tại chỗ, đảm bảo chất thải sau xử lý đạt tiêu chuẩn Việt Nam, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường. Chọn, xác định địa điểm và diện tích mặt bằng quy hoạch di dời các cơ sở ra khỏi nội thành thành phố Bến Tre, đảm bảo ổn định và phát triển sản xuất kinh doanh.
Các nhiệm vụ chính thực hiện Đề án trong năm 2010:
- Điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội thành phố Bến Tre.
- Ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Ban chỉ đạo thực hiện Đề án bổ sung xử lý, di dời các cơ sở gây ô nhiễm ra khỏi nội thành thành phố Bến Tre; Quy định một số chính sách tài chính cho việc xử lý môi trường và di dời các cơ sở ra khỏi thành phố Bến Tre và Quy định các ngành nghề sản xuất, kinh doanh không cấp mới giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; cấp mới hoặc điều chỉnh giấy chứng nhận đầu tư trong nội thành thành phố Bến Tre theo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội thành phố Bến Tre.
- Tiếp tục rà soát, thống kê số lượng cơ sở trên địa bàn nội thành thành phố Bến Tre xử lý chất thải tại chỗ hoặc bắt buộc di dời và yêu cầu các cơ sở xử lý chất thải tại chỗ đăng ký Bản cam kết xử lý chất thải tại chỗ.
- Chọn, xác định địa điểm ổn định, lâu dài và diện tích mặt bằng quy hoạch di dời các cơ sở ra khỏi nội thành thành phố Bến Tre. Hạn chế các cơ sở tự di dời đến địa điểm mới không phù hợp với quy hoạch, ảnh hưởng đến sự phát triển các khu đô thị mới trong tương lai.
- Hướng dẫn các cơ sở lập hồ sơ thủ tục để hưởng chính sách hỗ trợ xử lý chất thải tại chỗ hoặc di dời.
- Tiến hành kiểm tra các công trình xử lý chất thải của các cơ sở cam kết xử lý tại chổ và xây dựng lịch trình di dời của các cơ sở bắt buộc phải di dời.
- Nghiên cứu, lựa chọn, giới thiệu mô hình xử lý chất thải phù hợp điều kiện thực tế của các cơ sở.
Để đạt được các mục tiêu và nhiệm vụ trên, các cấp Ủy Đảng, chính quyền các cấp và các sở, ban, ngành, đoàn thể có liên quan phải tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, thường xuyên kiểm tra, đôn đốc tiến độ thực hiện các nhiệm vụ được phân công theo nội dung kế hoạch đã đề ra.
Đến hết tháng 9 năm 2010, các cơ sở sản xuất, kinh doanh gây ô nhiễm trên địa bàn nội thành thành phố Bến Tre phải đầu tư xây dựng hoàn chỉnh hệ thống xử lý chất thải, đảm bảo chất thải sau xử lý đạt tiêu chuẩn Việt Nam hoặc Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về môi trường hiện hành.
Trong quý 4/năm 2010, Sở Tài nguyên và Môi trường sẽ phối hợp với Ủy ban nhân dân thành phố Bến Tre tiến hành thanh tra, kiểm tra xử lý các cơ sở chưa xử lý chất thải đạt tiêu chuẩn Việt Nam hoặc quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường.
Theo Quyết định số 386/QĐ-UBND ngày 26 tháng 02 năm 2009 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre ban hành Đề án bổ sung xử lý, di dời các cơ sở sản xuất, kinh doanh gây ô nhiễm ra khỏi nội ô thị xã Bến Tre (nay là thành phố Bến Tre); quy định các loại hình có thể đầu tư hệ thống xử lý chất thải tại chổ: cơ sở sản xuất, kinh doanh kẹo dừa và thạch dừa; loại hình bắt buộc phải di dời: cơ sở gia công cơ khí, mộc, cắt xẻ đá hoa cương; cưa xẻ gỗ; chăn nuôi và giết mổ gia súc; sản xuất mạch nha, cơm dừa nạo sấy; chế biến thủy sản; kinh doanh phế liệu; đóng tàu, ghe; sản xuất than tổ ong, than thiêu kết và các kho chứa hóa chất.
Các cơ sở sản xuất, kinh doanh được phép đầu tư xây dựng hệ thống xử lý chất thải tại chỗ, nhưng không tích cực đầu tư xây dựng hệ thống xử lý; không đủ điều kiện xử lý chất thải hoặc hệ thống xử lý chất thải không hoàn chỉnh, chất thải xử lý chưa đạt tiêu chuẩn Việt Nam hoặc Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường theo lộ trình thực hiện Đề án xử lý, di dời các cơ sở sản xuất, kinh doanh gây ô nhiễm ra khỏi nội thành thành phố Bến Tre, thì bắt buộc các cơ sở phải di dời ra khỏi nội thành thành phố Bến Tre.
Mai Hanh



21/07/2010 12:00 SAĐã ban hành
Thông tư số 63/2017/TT-BTNMT Quy định kỹ thuật đo vẽ bản đồ địa hình đáy biển tỷ lệ 1:5.000Thông tư số 63/2017/TT-BTNMT Quy định kỹ thuật đo vẽ bản đồ địa hình đáy biển tỷ lệ 1:5.000
Ngày 22 tháng 12 năm 2017, Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành Thông tư số 63/2017/TT-BTNMT Quy định kỹ thuật đo vẽ bản đồ địa hình đáy biển tỷ lệ 1:5.000

​Tải nội dung: TT_63_2017_TT_BTNMT.pdf

10/01/2018 4:00 CHĐã ban hành
Công bố kết quả dự án “Lồng ghép ứng phó biến đổi khí hậu vào kế hoạch 5 năm (2016-2020) của ngành Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bến Tre”Công bố kết quả dự án “Lồng ghép ứng phó biến đổi khí hậu vào kế hoạch 5 năm (2016-2020) của ngành Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bến Tre”
Được sự hỗ trợ từ dự án Thích ứng với biến đổi khí hậu vùng Đồng bằng sông Cửu Long tại tỉnh Bến Tre (AMD), năm 2015 Sở Tài nguyên và Môi trường đã thực hiện dự án “Lồng ghép ứng phó biến đổi khí hậu vào kế hoạch 5 năm (2016-2020) của ngành Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bến Tre”.

​           Đến nay, dự án đã hoàn thành và được Sở Tài nguyên và Môi trường phê duyệt tại Quyết định số 38/QĐ-STNMT ngày 01 tháng 3 năm 2016. Các phòng, đơn vị trực thuộc Sở, Phòng Tài nguyên và Môi trường các huyện, thành phố cần căn cứ kết quả dự án này tham mưu xây dựng và triển khai kế hoạch hàng năm và kế hoạch 5 năm 2016-2020 về lĩnh vực tài nguyên môi trường có lồng ghép nội dung biến đổi khí hậu.

         Download File Báo cáo tổng hợp: BCTH-QD38.rar

22/03/2016 8:00 SAĐã ban hành
Thông báo Về việc hủy Phôi Giấy chứng nhận viết bị hư hỏng trong quá trình quản lý và in, viết Giấy chứng nhậnThông báo Về việc hủy Phôi Giấy chứng nhận viết bị hư hỏng trong quá trình quản lý và in, viết Giấy chứng nhận
Thông báo Về việc hủy Phôi Giấy chứng nhận viết bị hư hỏng trong quá trình quản lý và in, viết Giấy chứng nhận

​Hội đồng hủy phôi Giấy chứng nhận Sở Tài nguyên và Môi trường đã kiểm tra và lập biên bản tiêu hủy 13.082 phôi Giấy chứng nhận bị hư hỏng trong quá trình quản lý và in, viết giấy chứng nhận trên địa bàn tỉnh Bến Tre, cụ thể như sau:

- Giấy chứng nhận hư hỏng đã viết trước và năm 2016: 10.268 phôi;

- Giấy chứng nhận hư hỏng đã viết năm 2017: 1.625 phôi;

- Giấy chứng nhận hư hỏng đã viết năm 2018: 1.189 phôi.

Danh sách chi tiết kèm theo:

3498_2018_signed430.pdf

danh_sach_huy_phoi_GCN-BEN_TRE.xlsx

11/12/2018 9:00 SAĐã ban hành
Cử Ủy viên Thường trực Hội đồng quốc gia về tài nguyên nướcCử Ủy viên Thường trực Hội đồng quốc gia về tài nguyên nước
Ngày 20 tháng 11 năm 2007, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số: 1575/QĐ-TTg Cử ông Phạm Khôi Nguyên, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường làm Ủy viên Thường trực Hội đồng quốc gia về tài nguyên nước thay ông Mai Ái Trực, nguyên Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường.



Hội đồng Quốc gia về tài nguyên nước đã được thành lập trên cơ sở Luật tài nguyên nước năm 1998, nhằm tư vấn cho Chính phủ trong những quyết định quan trọng về tài nguyên nước. Mặt khác, Hội đồng là tổ chức giúp Bộ Tài nguyên và Môi trường và các Bộ ngành liên quan chia sẻ những thông tin và phối hợp các hoạt động tài trợ quốc tế chặt chẽ hơn. Theo chức năng của mình và với các uỷ viên là đại diện các Bộ ngành liên quan, Hội đồng giúp quản lý tài nguyên nước một các tổng hợp và tư vấn cho Chính phủ về các vấn đề chính sách, chiến lược và thông qua quy hoạch lưu vực sông và các dự án lớn về phát triển nguồn nước, giải quyết tranh chấp về nước và các khía cạnh Quốc tế về phát triển và quản lý tài nguyên nước.

VĂN PHONG



22/11/2007 12:00 SAĐã ban hành
BẾN TRE: KẾT QUẢ SAU MỘT THỜI GIAN, THỰC HIỆN THU PHÍ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ĐỐI VỚI NƯỚC THẢI CÔNG NGHIỆPBẾN TRE: KẾT QUẢ SAU MỘT THỜI GIAN, THỰC HIỆN THU PHÍ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ĐỐI VỚI NƯỚC THẢI CÔNG NGHIỆP
Thực hiện Nghị định số 67/2003/NĐ-CP ngày 13/6/2003 của Chính phủ về phí Bảo vệ môi trường đối với nước thải; Nghị định số 04/2007/NĐ-CP ngày 08/01/2007 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 67/2003/NĐ-CP.<br />Ngày 25 tháng 03 năm 2005 Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành Quy định về thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bến Tre.



Quy định thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp dựa trên nồng độ các chất ô nhiễm có trong nước thải và lượng nước thải thải ra môi trường để quy ra tiền đây chính là công cụ kinh tế trong quản lý môi trường trên cơ sở "người gây ô nhiễm phải trả tiền". Việc thu phí bảo vệ môi trường nhằm mục đích hạn chế ô nhiễm môi trường từ nước thải, sử dụng tiết kiệm nước sạch và tạo nguồn kinh phí cho Quỹ Bảo vệ môi trường thực hiện bảo vệ, khắc phục ô nhiễm môi trường và tiến tới kiểm soát được lượng thải gây ảnh hưởng đến môi trường nước.
Đầu năm 2006, Sở Tài nguyên và Môi trường đã tiến hành tập huấn và triển khai quy định và các văn bản hướng dẫn việc kê khai nộp phí gửi đến các huyện thị và các cơ sở thuộc đối tượng phải nộp phí bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh. Song song với việc đó Sở cũng đã tiến hành mở tài khoản Phí bảo vệ môi trường tại Kho bạc Nhà nước và yêu cầu các đối tượng tiến hành kê khai nộp phí bảo vệ môi trường.
Qua đó đạt được một số kết quả như sau: Năm 2006 số phí thu được là 67,2 triệu đồng; năm 2007 số phí thu được là 86,7 triệu đồng; tổng số phí thu được nộp vào tài khoản Phí bảo vệ môi trường cho đến nay là 169,6 triệu đồng. Tính đến năm 2008, đã có 13 doanh nghiệp đã thực hiện kê khai nộp phí.
Tuy nhiên, một số cơ sở khi kê khai nộp phí nước thải còn mang tính đối phó, kê khai chưa chính xác, như cố tình kê khai lưu lượng và các thông số ô nhiễm có trong nước thải thấp, hoặc kê khai chiếu lệ gây khó khăn cho quá trình thẩm định, hoặc còn né tránh, trì hoãn. Ngoài ra, chưa thống kê được các cơ sở nuôi tôm, cá thâm canh để tiến hành thu phí; cấp huyện, thị trong tỉnh chưa triển khai được công tác thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp.
Một số khó khăn trong công tác triển khai thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp: Do nhân lực Sở chưa đủ để thường xuyên kiểm tra việc kê khai nộp phí của các doanh nghiệp và hỗ trợ cho cấp huyện thị trong công tác thu phí, lực lượng công tác quản lý môi trường cấp huyện thị còn mỏng, yếu kinh nghiệm do đa số là cán bộ trẻ. Công tác thẩm định số phí phải nộp của cơ sở chưa tốt, do thiếu trang thiết bị phòng thí nghiệm đo nồng độ các thông số ô nhiễm, chưa có cách tính được lượng nước thải của các cơ sở thải ra nên đòi hỏi ý thức của chủ cơ sở tự kê khai là chính.
Để các đối tượng đều phải chấp hành quy định nộp phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp thì cần phải có biện pháp tích cực và hữu hiệu hơn. Trong thời gian tới, trên số phí thu được hằng năm trích lại 20% theo qui định sẽ là kinh phí để Sở Tài nguyên và Môi trường tiến hành một số công việc cụ thể như sau:
Tăng cường công tác kiểm tra, thẩm định lại số phí phải nộp của các cơ sở bằng cách lấy mẫu nước thải gửi phân tích đánh giá nồng độ các thông số ô nhiễm và tính toán lại lượng nước thải sản xuất trên cơ sở nhu cầu sử dụng nước của doanh nghiệp.
Tiến hành rà soát lại tất cả các cơ sở trên địa bàn tỉnh Bến Tre thuộc đối tượng phải nộp phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp, sẽ tiến hành truy thu đối với các cơ sở trốn trách không thực hiện việc nộp phí. Kể cả việc dùng biện pháp hành chính đối với trường hợp không chấp hành.
Tiến tới ứng dụng công nghệ thông tin vào việc quản lý phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp./.
VVN



17/06/2008 12:00 SAĐã ban hành
Những quy định mới về trình tự giải quyết khiếu nại về đất đaiNhững quy định mới về trình tự giải quyết khiếu nại về đất đai
Quyền khiếu nại là một trong những quyền cơ bản của công dân trong một xã hội mà Nhà nước quản lý bằng pháp luật (Nhà nước pháp quyền). Khiếu nại là việc công dân đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình.



Trong các lĩnh vực thuộc đời sống xã hội giai đoạn hiện nay, có thể nói quản lý đất đai là một trong những lĩnh vực có số vụ khiếu kiện nhiều nhất. Khiếu nại đúng nơi và giải quyết khiếu nại đúng quy định sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý xã hội của bộ máy Nhà nước, ổn định tình hình trật tự của địa phương và tạo niềm tin của nhân dân.
Đến cuối tháng 11/2007 số đơn khiếu nại gửi đến UBND tỉnh Bến Tre là 890 đơn. Trong đó, khiếu nại liên quan đến đất đai là 537đơn (chiếm 60,34%), khiếu nại ở các lĩnh vực khác chiếm chưa đến 40%. Tuy nhiên một vấn đề đáng quan tâm là, trong số 537 đơn khiếu nại liên quan đến đất đai, qua rà soát chỉ có 128 đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của cấp tỉnh (23,8%), số đơn còn lại 409 (76,2%) thuộc thẩm quyền giải quyết của UBND cấp huyện và cấp xã. Điều đó cho thấy có một số lượng lớn đơn khiếu nại vượt cấp và không đúng thẩm quyền, kéo theo hệ quả là có một số lượng lớn người đi lên tỉnh gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự địa phương, ảnh hưởng hoạt động bình thường của các cơ quan cấp tỉnh và ảnh hưởng đến lao động sản xuất của chính những người đi khiếu nại. Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên có thể một phần là do công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật về đất đai chưa đạt được hiệu quả, người dân chưa nắm được các quy định về khiếu nại trong lĩnh vực đất đai.
Nhằm giúp bạn đọc nắm được vấn đề khiếu nại và giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực đất đai, chúng tôi xin tổng hợp và giới thiệu các quy định đang có hiệu lực thi hành từ Luật Khiếu nại tố cáo, Luật Đất đai 2003 và các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai… như sau:

CÁC QUYẾT ĐỊNH HÀNH CHÍNH HOẶC HÀNH VI HÀNH CHÍNH BỊ KHIẾU NẠI ĐÓ LÀ:

Quyết định hành chính bao gồm: quyết định giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, trưng dụng đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất; quyết định bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng, tái định cư; quyết định cấp hoặc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; quyết định gia hạn thời hạn sử dụng đất.
Hành vi hành chính trong quản lý đất đai bị khiếu nại là hành vi của cán bộ, công chức nhà nước khi giải quyết những công việc nêu trên.

TRÌNH TỰ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI ĐỐI VỚI QUYẾT ĐỊNH HÀNH CHÍNH, HÀNH VI HÀNH CHÍNH CỦA CHỦ TỊCH ỦY BAN NHÂN CẤP HUYỆN

- Trong thời hạn không quá chín mươi (90) ngày, kể từ ngày Chủ tịch UBND cấp huyện có quyết định hành chính, hành vi hành chính trong quản lý đất đai mà người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không đồng ý với quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính đó thì có quyền nộp đơn khiếu nại đến UBND cấp huyện.
Chủ tịch UBND cấp huyện có trách nhiệm giải quyết khiếu nại theo thời hạn quy định của Luật Khiếu nại, tố cáo như sau : Thời gian thụ lý giải quyết trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được đơn khiếu nại; thời gian giải quyết lần đầu không quá 30 ngày, đối với những vụ việc phức tạp có thể kéo dài nhưng không quá 45 ngày, kể từ ngày thụ lý để giải quyết; ở những vùng sâu, vùng xa thì thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu không quá 45 ngày, đối với những vụ việc phức tạp có thể kéo dài nhưng không quá 60 ngày, kể từ ngày thụ lý để giải quyết.
Quyết định giải quyết của Chủ tịch UBND cấp huyện phải được công bố công khai và gửi cho người khiếu nại, người khác có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.
- Trong thời hạn không quá bốn mươi lăm (45) ngày, kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết của Chủ tịch UBND cấp huyện mà người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết đó thì có quyền khởi kiện ra Toà án nhân dân hoặc khiếu nại đến UBND cấp tỉnh.
Trường hợp khiếu nại đến UBND cấp tỉnh thì Chủ tịch UBND cấp tỉnh có trách nhiệm giải quyết khiếu nại theo thời hạn quy định của Luật Khiếu nại, tố cáo như sau : Thời gian thụ lý giải quyết trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được đơn khiếu nại; thời gian giải quyết lần hai không quá 45 ngày, đối với những vụ việc phức tạp có thể kéo dài nhưng không quá 60 ngày, kể từ ngày thụ lý để giải quyết; ở những vùng sâu, vùng xa thì thời hạn giải quyết khiếu nại lần hai không quá 60 ngày, đối với những vụ việc phức tạp có thể kéo dài nhưng không quá 70 ngày, kể từ ngày thụ lý để giải quyết.
Quyết định giải quyết khiếu nại của Chủ tịch UBND cấp tỉnh là quyết định giải quyết lần hai, phải được công bố công khai và gửi cho người khiếu nại, người khác có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.

TRÌNH TỰ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI ĐỐI VỚI QUYẾT ĐỊNH HÀNH CHÍNH, HÀNH VI HÀNH CHÍNH CỦA CHỦ TỊCH ỦY BAN NHÂN CẤP TỈNH

- Trong thời hạn không quá ba mươi (30) ngày, kể từ ngày Chủ tịch UBND cấp tỉnh có quyết định hành chính, hành vi hành chính trong quản lý đất đai mà người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không đồng ý với quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính đó thì có quyền nộp đơn khiếu nại đến UBND cấp tỉnh.
Chủ tịch UBND cấp tỉnh có trách nhiệm giải quyết khiếu nại theo thời hạn quy định của Luật Khiếu nại, tố cáo (lần đầu như nêu trên).
Quyết định giải quyết khiếu nại của Chủ tịch UBND cấp tỉnh phải được công bố công khai và gửi cho người khiếu nại, người khác có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.
- Trong thời hạn không quá bốn mươi lăm (45) ngày, kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết của Chủ tịch UBND cấp tỉnh mà người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết đó thì có quyền khởi kiện tại Toà án nhân dân.

ĐỐI VỚI CÁC TRƯỜNG HỢP KHIẾU NẠI KHÁC CÓ LIÊN QUAN ĐẾN QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI

Việc giải quyết khiếu nại đối với hành vi hành chính của cán bộ, công chức thuộc UBND xã, phường, thị trấn; hành vi hành chính của cán bộ, công chức thuộc Phòng Tài nguyên và Môi trường; hành vi hành chính của cán bộ, công chức thuộc Văn phòng UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; hành vi hành chính của cán bộ, công chức thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường, hành vi hành chính của cán bộ, công chức thuộc Văn phòng UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; quyết định hành chính của Sở Tài nguyên và Môi trường và quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lý đất đai của Chủ tịch UBND huyện, Chủ tịch UBND tỉnh không thuộc các trường hợp nêu trên được thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo./.

Vĩnh Thịnh




04/12/2007 12:00 SAĐã ban hành
THỎA THUẬN HỢP TÁC CHIẾN LƯỢC VỀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN & TRUYỀN THÔNG  GIỮA SỞ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG VỚI VNPT BẾN TRE GIAI ĐOẠN 2016-2020THỎA THUẬN HỢP TÁC CHIẾN LƯỢC VỀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN & TRUYỀN THÔNG  GIỮA SỞ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG VỚI VNPT BẾN TRE GIAI ĐOẠN 2016-2020
Ngày 21 tháng 01 năm 2016,  tại VNPT Bến Tre diễn ra lễ ký kết Thỏa thuận hợp tác chiến lược về ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông giữa Sở Tài nguyên và Môi trường với VNPT Bến Tre giai đoạn 2015-2020. Nhằm tăng cường hợp tác giữa Sở Tài nguyên và Môi trường Bến Tre với VNPT Bến Tre trong hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông tại địa bàn tỉnh Bến Tre.

Sở Tài nguyên và Môi trường Bến Tre và VNPT Bến Tre đã thống nhất và đi đến ký kết thỏa thuận hợp tác giai đoạn 2016 – 2020 với các nội dung như sau:

- Đảm bảo, nâng cao chất lượng các dịch vụ mạng thông tin đang cung cấp cho Sở Tài nguyên và Môi trường.

- Xây dựng quy hoạch hạ tầng công nghệ thông tin của Sở Tài nguyên và Môi trường trong giai đoạn 2016-2020.

- Tham gia xây dựng kế hoạch triển khai các ứng dụng công nghệ thông tin của Sở Tài nguyên và Môi trường giai đoạn 2016-2020.

- Phối hợp tổ chức hội nghị truyền hình cho Sở Tài nguyên và Môi trường Bến Tre.

- Cung cấp dịch vụ của Trung tâm dữ liệu dự phòng thảm hoạ (DR) phục vụ các nhu cầu của Sở Tài nguyên và Môi trường Bến Tre.

Kyket-VNPT-1.png

- Cung cấp dịch vụ truyền số liệu, quản lý giám sát các thiết bị quan trắc tài nguyên môi trường.

- Tham gia xây dựng các hệ thống dịch vụ công trực tuyến, nâng cấp Hệ thống phần mềm quản lý văn bản và điều hành tác nghiệp tích hợp SMS và các hệ thống phục vụ quản lý hành chính nhà nước khác.

- Nghiên cứu đề xuất triển khai giải pháp đảm bảo an toàn, an ninh mạng cho các đơn vị trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường Bến Tre.

- Nghiên cứu, đề xuất triển khai giải pháp an toàn bảo mật qua chứng thực chữ ký số CA, xác thực truy nhập bằng mật khẩu OTP trong Sở Tài nguyên và Môi trường Bến Tre.

- Đào tạo bồi dưỡng chuyên sâu theo thế mạnh về ứng dụng công nghệ thông tin.

- Tham gia xây dựng, nâng cấp hệ thống cơ sở dữ liệu tài nguyên và môi trường quốc gia.

04/02/2016 10:00 SAĐã ban hành
UBND HUYỆN CHỢ LÁCH CÔNG BỐ QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT ĐẾN NĂM 2020 VÀ KẾ HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT 5 NĂM KỲ ĐẦU (2011-2015) HUYỆN CHỢ LÁCHUBND HUYỆN CHỢ LÁCH CÔNG BỐ QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT ĐẾN NĂM 2020 VÀ KẾ HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT 5 NĂM KỲ ĐẦU (2011-2015) HUYỆN CHỢ LÁCH
Ngày 18/12/2013, tại UBND huyện Chợ Lách, Phó chủ tịch UBND huyện ông Lê Phước Toàn chủ trì lễ công bố quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011 - 2015). Tham dự lễ công bố có đại diện các ban, ngành huyện, UBND các xã và thị trấn.



Ông Sử Văn Nhả – Phó Trưởng Phòng Tài nguyên và Môi trường đã công bố toàn văn Quyết định số 1745/QĐ-UBND ngày 02 tháng 10 năm 2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre về việc xét duyệt quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011-2015) của huyện Chợ Lách. Theo đó, đến năm 2020: Diện tích đất tự nhiên 16.732,70 ha. Trong đó: đất trồng cây lâu năm 9.611,00 ha; đất nuôi trồng thủy sản 871,00 ha; đất khu công nghiệp 40,00 ha; đất đô thị 1.346,00 ha; đất khu du lịch 157,00 ha; đất khu dân cư nông thôn 845,00 ha; các loại đất khác cũng được bố trí đảm bảo nhu cầu sử dụng đất cho các ngành trên địa bàn huyện.

Để việc triển khai thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất có hiệu quả, Phó chủ tịch huyện ông Lê Phước Toàn chỉ đạo: Cần phải rà soát quy hoạch của các ngành, có nhu cầu sử dụng đất cho phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt. Phải có giải pháp cụ thể để huy động vốn đáp ứng nhu cầu đầu tư cho việc thực hiện phương án quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh trên địa bàn huyện.

Các phòng ban huyện, các xã và thị trấn căn cứ vào quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của huyện vừa được phê duyệt tiến hành triển khai và tổ chức thực hiện. Phải tuân thủ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nhất là vấn đề giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất phải đúng quy hoạch.Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc quản lý, sử dụng đất theo quy hoạch nhất là khu vực chuyển mục đích sử dụng…



31/12/2013 12:00 SAĐã ban hành
1 - 30Next
Ảnh
Video
SỞ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG TỈNH BẾN TRE
Chịu trách nh​iệm chính: Ông Nguyễn Văn Chinh - Chức vụ: Giám đốc Sở TN và MT | Giấy phép số: 139/GP - BC, ngày 16 tháng 4 năm 2007
Địa chỉ trụ sở: Số 01 - Trần Quốc Tuấn - Phường 2 - Thành phố Bến Tre - Tỉnh Bến Tre
Điện thoại: 0275.3822210 - 0275.3211494 - Fax: 0275.3813176; Email: stnmt@bentre.gov.vn