Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksTin tức sự kiện

 
Tin tức sự kiện
 
Tham gia chuyến giao lưu về phía Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bến Tre có mời đại điện Đảng ủy, Ban lãnh đạo Sở Tài nguyên và Môi trường, đại diện Công đoàn cơ sở Sở Tài nguyên và Môi trường, cùng với đại diện lãnh đạo các đơn vị đến từ Sở Tài nguyên và Môi trường các tỉnh An Giang, Hậu Giang và thành phố Cần Thơ và gần 60 công đoàn viên, đoàn viên của bốn Sở. 
 
Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Từ ngày 22/10/2019 đến ngày 29/10/2019) 
 
Thực hiện Kế hoạch số 1219/KH-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh, ngày 19 tháng 3 năm 2019 đấu giá quyền khai thác khoáng sản cát lòng sông trên địa bàn tỉnh Bến Tre năm 2019 và ý kiến chỉ đạo của Hội đồng đấu giá quyền khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh Bến Tre; 
 
Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Từ ngày 15/10/2019 đến ngày 22/10/2019) 
 
Góp ý Dự thảo Quyết định về Đơn giá dịch vụ đo đạc và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn tỉnh Bến Tre 
 
Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Từ ngày 08/10/2019 đến ngày 14/10/2019) 
 
Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Từ ngày 01/10/2019 đến ngày 07/10/2019) 
 
Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Tháng 9 năm 2019 
 
Công bố kết quả điều tra thoái hóa đất kỳ đầu tỉnh Bến Tre 
 
Dự thảo Báo cáo xác định chiều rộng hành lang bảo vệ bờ biển 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ ngày 22/10/2018 đến ngày 26/10/2018Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ ngày 22/10/2018 đến ngày 26/10/2018
Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ ngày 22/10/2018 đến ngày 26/10/2018
26/10/2018 5:00 CHĐã ban hành
Góp ý sửa đổi Luật Đất đai 2003:Tiếp tục đổi mới công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đấtGóp ý sửa đổi Luật Đất đai 2003:Tiếp tục đổi mới công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Ngày 5/8 tại Hà Nội, Tổng cục Quản lý Đất đai (TCQLĐĐ)  đã tổ chức Hội thảo “Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và giao đất, cho thuê đất”. Chủ trì Hội thảo có Quyền Tổng cục trưởng TCQLĐĐ Phùng Văn Nghệ và lãnh đạo TCQLĐĐ. Tham dự còn có đại diện Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chính phủ, các Giám đốc, Phó giám đốc Sở TN&MT các tỉnh và đông đảo chuyên gia, các nhà khoa học …



Phát biểu khai mạc Hội thảo, Quyền Tổng cục trưởng TCQLĐĐ Phùng Văn Nghệ khẳng định: Việc lập quy hoạch, kế hoạch quản lý sử dụng đất các cấp đã dần đi vào nền nếp. Theo báo cáo của TCQLĐĐ, tính cho đến nay, cả nước có 63/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hoàn thành việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đến năm 2010 được Chính phủ xét duyệt. Có 616/686 huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh (chiếm 89,8%) và 8706/10815 xã, phường, thị trấn (chiếm 80,50%) hoàn thành việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đến năm 2010. Kết quả này cho thấy, công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thực sự là công cụ quan trọng trong quản lý Nhà nước đối với đất đai; tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho công tác thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất phục vụ các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường.
Tuy nhiên, những quy định về lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất còn phức tạp, còn có sự chồng chéo ở một số quy định làm cho công tác quy hoạch sử dụng đất và quản lý đất đai chưa đạt hiệu quả. “Trình tự, thủ tục giao đất cho thuê đất còn rườm rà, phức tạp, chưa thực sự cải cách thủ tục hành chính, gây cản trở cho quá trình thực hiện dự án đầu tư”, Quyền Tổng cục trưởng TCQLDĐ Phùng Văn Nghệ nêu rõ.


Quyền Tổng cục trưởng TCQLĐĐ Phùng Văn Nghệ phát biểu khai mạc

Để khắc phục những hạn chế trong lĩnh vực quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, các chuyên gia nghiên cứu đều cho rằng, cần phải đổi mới công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, góp phần sửa đổi Luật Đất đai 2003 đạt hiệu quả cao. Theo Báo cáo của TCQLĐĐ, cần thiết phải làm rõ khái niệm về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, bởi việc này liên quan đến pháp luật về đầu tư, quy hoạch xây dựng. Vai trò của quy hoạch đất sẽ được nâng cao khi nó là căn cứ duy nhất để thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất.
Về kỳ (thời gian) lập quy hoạch sử dụng đất, nhiều chuyên gia cho rằng, hạn 10 năm lập lại quy hoạch đất rất tốn kém, mâu thuẫn với thời hạn giao đất, cho thuê đất (50-70 năm hoặc lâu dài), gây tâm lý không ổn định cho người được thuê đất.
TS. Nguyễn Đình Bồng và một số lãnh đạo Sở TN&MT các tỉnh Ninh Bình, Hà Nam nhận xét, việc quy định thẩm quyền xét duyệt quy hoạch sử dụng đất do Chính phủ quyết định. Việc thông qua Hội đồng nhân dân gây ra nhiều bất cập về thủ tục, thời gian…Các cán bộ kiến nghị việc xét duyệt quy hoạch sử dụng đất và kế hoạch sử dụng đất 5 năm cấp tỉnh sẽ do Thủ tướng Chính phủ quyết định và phân cấp cho Chủ tịch Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh xét duyệt kế hoạch sử dụng đất hàng năm (trong kế hoạch 5 năm).
Vấn đề quy hoạch sử dụng đất đô thị gây sự chú ý của đông đảo chuyên gia. Theo tính toán của Chuyên gia cao cấp Tôn Gia Huyên – Hội Khoa học Đất Việt Nam, tính đến năm 2030, 55% dân số ở đô thị, diện tích đất phải tiếp tục chuyển đổi sang mục đích phi nông nghiệp để đảm bảo công nghiệp hóa là 450-500ha, đất đô thị sẽ phải mở 2 triệu ha. Kết quả này đòi hỏi các nhà hoạch đinh chính sách đất đai phải chú tâm tới tương tác giữa quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất với quy hoạch xây dựng đô thị. TS.KTS. Đào Ngọc Nghiêm – Hội Quy hoạch và Phát triển đô thị Việt Nam đề xuất kế hoạch sử dụng đất phải được xây dựng từ quy hoạch đô thị, phân loại lại nhóm đất để phù hợp với tổ chức không gian đô thị, thanh tra xử lý xây dựng luôn gắn liền với quản lý đất đai. “Phải tuân thủ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất để đảm bảo các chiến lược phát triển kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng, an toàn lương thực của quốc gia”, ông Nghiêm nhấn mạnh.


Phó tổng cục trưởng TCQLĐĐ Đào Trung Chính phát biểu kết luận

Kết luận Hội thảo, Phó Tổng cục trưởng TCQLĐĐ Đào Trung Chính đánh giá cao những ý kiến đóng góp của các nhà nghiên cứu và cán bộ các đơn vị. Quy hoạch sử dụng đất phải là cơ sở bảo đảm phân bổ một cách hợp lý nguồn tài nguyên đất đai có hạn của Quốc gia phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội bền vững. Việc quản lý, sử dụng đất thông qua công cụ quy hoạch sử dụng đất để vừa đảm bảo quỹ đất phục vụ mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vừa đảm bảo mục tiêu bảo vệ môi trường, an ninh lương thực, xóa đói giảm nghèo, công bằng xã hội, thích ứng với biến đổi khí hậu, đảm bảo quỹ đất sử dụng phù hợp cho từng giai đoạn và lâu dài. Kết quả của Hội thảo sẽ là cơ sở góp phần sửa đổi Luật Đất đai 2003 đạt được mục tiêu nêu trên.


12/08/2011 12:00 SAĐã ban hành
Triển khai quyết định số 47/2019/QĐ-UBND của UBND tỉnh về bảng giá đất 2020-2024Triển khai quyết định số 47/2019/QĐ-UBND của UBND tỉnh về bảng giá đất 2020-2024
Triển khai quyết định số 47/2019/QĐ-UBND của UBND tỉnh về bảng giá đất 2020-2024

Ngày 17 tháng 12 năm 2019, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Quyết định số 47/2019/QĐ-UBND ban hành quy định Bảng giá các loại đất trên địa bàn tỉnh Bến Tre giai đoạn 2020-2024. Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2020.


              Để thực hiện việc quản lý tài chính về đất đai và giá đất trên địa bàn tỉnh đúng quy định, Sở Tài nguyên và Môi trường đề nghị các đơn vị tổ chức thực hiện Quyết định số 47/2019/QĐ-UBND  của Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre ban hành quy định Bảng giá các loại đất trên địa bàn tỉnh Bến Tre giai đoạn 2020-2024.


Tải quyết định: QD47_2019_BangGiaDat.zip

27/12/2019 10:00 SAĐã ban hành
Hội thảo quốc tế "Thiết lập hệ thống hợp tác về thông tin môi trường giữa các nước Đông Nam Á"Hội thảo quốc tế "Thiết lập hệ thống hợp tác về thông tin môi trường giữa các nước Đông Nam Á"
Ngày 6/9, tại Hà Nội, Cục Đo đạc Bản đồ và Viện Môi trường Hàn Quốc đồng phối hợp tổ chức Hội thảo quốc tế "Thiết lập hệ thống hợp tác về thông tin môi trường giữa các nước Đông Nam Á". Nội dung của Hội thảo tập trung vào 3 lĩnh vực: Hệ thống thông tin địa lý Quốc gia (NGIS), thông tin môi trường và một số nội dung liên quan đến hệ thống thông tin đất đai. Hiện  tại ở Hàn Quốc, người dân, các nhà đầu tư có thể lấy thông tin môi trường và đất đai thông qua mạng internet, khó khăn nhất khi xây dựng hệ thống bản đồ này là thu thập dữ liệu



Phát biểu tại Hội thảo ông Trần Bạch Giang - Cục Trưởng Cục đo đạc bản đồ cho biết: Đến nay Bộ Tài nguyên và Môi trường đã xây dựng chuẩn thông tin địa lý cơ sở Quốc gia, thành lập cơ sở dữ liệu nền thông tin địa lý, xây dựng cơ sở dữ liệu tích hợp tài nguyên & môi trường, xây dựng cơ sở dữ liệu tích hợp tài nguyên & môi trường biển, xây dựng Hệ thống thông tin môi trường. Bên cạnh đó, ban hành các chuẩn về bản đồ số như quy định kỹ thuật thành lập bản đồ địa hình tỷ lệ 1:2000 và 1:5000 bằng công nghệ ảnh số; quy định kỹ thuật thành lập bản đồ địa hình tỷ lệ 1:10000, 1:25000 và 1:50000 bằng công nghệ ảnh số; quy phạm thành lập bản đồ địa chính; quy phạm thành lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất... Tuy nhiên các chuẩn này chỉ mới là chuẩn bản đồ số, chưa phải là chuẩn thông tin địa lý Quốc gia nên yêu cầu đặt ra hiện nay là cần có các chuẩn về thu thập, quản lý và sử dụng thông tin địa lý, các bộ dữ liệu nền thống nhất, nhất quán trong thể hiện và sử dụng, Nhà nước cần thống nhất quản lý các nguồn tư liệu thông tin địa lý, thúc đẩy, hỗ trợ và phát triển các ứng dụng khác trên bộ dữ liệu nền – thông tin địa lý cơ sở Quốc gia.


Mai Dung


11/09/2007 12:00 SAĐã ban hành
Bến Tre thực hiện công tác kiểm kê đất đai, lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2014Bến Tre thực hiện công tác kiểm kê đất đai, lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2014
Kiểm kê đất đai là việc Nhà nước tổ chức điều tra, tổng hợp, đánh giá trên hồ sơ địa chính và trên thực địa về hiện trạng sử dụng đất tại thời điểm kiểm kê và tình hình biến động đất đai giữa hai lần kiểm kê. Thực hiện Luật đất đai năm 2013 và để đánh giá tình hình sử dụng, quản lý đất đai nhằm quản lý chặt chẽ, sử dụng hợp lý, có hiệu quả tài nguyên, nguồn nhân lực đất đai cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển bền vững. Trên cơ sở Chỉ thị số 21/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc kiểm kê đất đai, lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2014, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Phương án số 5147/PA-UBND ngày 22 tháng 10 năm 2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre về việc kiểm kê đất đai, lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2014 và Kế hoạch số 5943/KH-UBND ngày 04 tháng 12 năm 2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc kiểm kê và lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2014 trên địa bàn tỉnh.

- Về phạm vi, nội dung và đối tượng kiểm kê:

     + Kiểm kê đất đai năm 2014 được tiến hành ở 03 cấp: cấp xã, cấp huyện và cấp tỉnh. Trong đó cấp xã là đơn vị cơ bản thực hiện kiểm kê. Kết quả kiểm kê đất đai hiện trạng sử dụng đất năm 2014 của cấp xã là cơ sở để tổng hợp số liệu kiểm kê cấp huyện, cấp tỉnh. Đối với đất đai sử dụng vào mục đích đất quốc phòng, an ninh do Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh, Công an tỉnh chủ trì xây dựng phương án thực hiện và gửi về Sở Tài nguyên và Môi trường để tổng hợp.

     + Kiểm kê diện tích đất đai thực hiện theo các loại đất, các đối tượng sử dụng đất và đối tượng quản lý theo quy định tại Thông tư số 28/2014/TT-BTNMT ngày 02 tháng 6 năm 2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường.

     + Ngoài ra, kiểm kê đất đai năm 2014 còn thực hiện kiểm kê chi tiết một số loại đất theo yêu cầu của Chị thị số 21/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ gồm: kiểm kê đất trồng lúa, đặc biệt đất chuyên trồng lúa nước; hiện trạng quản lý và sử dụng đất của Ban quản lý rừng; hiện trạng sử dụng đất của từng khu công nghiệp, cụm công nghiệp; đất bãi bồi ven biển và kiểm kê đất của tổ chức kinh tế được nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất chưa chuyển sang thuê đất.

     - Về giải pháp thực hiện và công tác kiểm tra, giám sát:

     + Về điều tra khoanh vẽ: thực hiện khoanh vẽ thực tế tất cả các khoanh đất theo từng loại đất của từng đối tượng sử dụng đất, đối tượng quản lý đất cần kiểm kê trong phạm vi hành chính từng xã, phường, thị trấn lên bản đồ điều tra để đảm bảo tổng hợp đầy đủ số liệu kiểm kê đất đai.

     + Về công tác kiểm tra, giám sát: Sở Tài nguyên và Môi trường, Phòng Tài nguyên và Môi trường phải kiểm tra giám sát trong quá trình thực hiện tất cả các công đoạn ở các cấp, các địa phương, nhất là quá trình điều tra khoanh vẽ, tổng hợp số liệu ở cấp xã.

     • Phòng Tài nguyên và Môi trường kiểm tra thẩm định việc khoanh vẽ và tổng hợp số liệu của 1/3 tổng diện tích thuộc mỗi xã trên địa bàn huyện.

     • Sở Tài nguyên và Môi trường kiểm tra thẩm định việc khoanh vẽ và tổng hợp số liệu của tối thiểu 03 đơn vị cấp xã thuộc mỗi đơn vị cấp huyện.

     - Về tổ chức thực hiện kiểm kê đất đai theo Kế hoạch đề ra:

     + Từ ngày 31/12/2014 đến trước ngày 01/6/2015

     Ủy ban nhân dân các cấp, các ngành tập trung tổ chức chỉ đạo, thực hiện và hoàn thành việc kiểm kê hiện trạng sử dụng đất năm 2014 tại xã, phường, thị trấn; báo cáo kết quả về cấp huyện trước ngày 01/6/2015;

     Sở Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với các ngành liên quan hoàn thành tổ chức kiểm kê chi tiết đất đối với các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, đất lâm nghiệp và các tổ chức kinh tế chuyển gửi cho các xã, huyện cập nhật.

     + Từ ngày 01/6/2015 đến trước ngày 01/9/2015

     Ủy ban nhân dân cấp huyện chỉ đạo hoàn thành việc kiểm tra, thẩm định kết quả của cấp xã; tổng hợp số liệu, xây dựng báo cáo kết quả kiểm kê đất đai, lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất của cấp huyện và nộp báo cáo lên Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trước ngày 15/7/2015;

     Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo hoàn thành việc kiểm tra, thẩm định kết quả của cấp huyện; tổng hợp số liệu, xây dựng báo cáo kết quả kiểm kê đất đai, lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất của cấp tỉnh và nộp báo cáo về Bộ Tài nguyên và Môi trường trước ngày 01/9/2015.

N.K.Phương​

26/01/2015 4:00 CHĐã ban hành
Việt Nam thực thi chủ quyền biển đảoViệt Nam thực thi chủ quyền biển đảo
Hiến pháp Việt Nam năm 1992 đã khẳng định lãnh thổ Việt Nam bao gồm đất liền, các đảo, vùng biển và vùng trời và “Tổ quốc Việt Nam là thiêng liêng, bất khả xâm phạm”.



Nhà nước Việt Nam đã ban hành một loạt văn bản pháp quy liên quan đến quy chế các vùng Biển, các văn bản pháp quy về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Đó là Tuyên bố năm 1977 về lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam, Tuyên bố năm 1982 về đường cơ sở của Việt Nam, Luật Biên giới quốc gia năm 2003 và một loạt luật, pháp lệnh, nghị định khác.
Việt Nam cũng đã tham gia Công ước Luật Biển năm 1982 của Liên hiệp quốc, một số công ước đa phương liên quan giao thông hàng hải, an toàn trên biển và Tuyên bố năm 2002 giữa ASEAN - Trung Quốc về ứng xử các bên ở biển Đông (DOC).
Đàm phán phân định ranh giới với các nước láng giềng
Khi xác lập và thực thi chủ quyền, Việt Nam phải giải quyết một số vấn đề trên thực địa với các nước láng giềng, trong đó có vấn đề chồng lấn. Căn cứ vào các quy định liên quan của Công ước Luật biển 1982, Việt Nam và một số nước láng giềng đã từng bước giải quyết và phân định ranh giới vùng biển chồng lấn.
Ngày 9/8/1997, tại Bangkok, Việt Nam và Thái Lan đã ký hiệp định phân định ranh giới giữa hai nước trong vịnh Thái Lan. Từ đó, hải quân hai nước đã tiến hành nhiều chuyến tuần tra chung để tăng cường ổn định an ninh trên biển.
Ngày 25/12/2000, Việt Nam và Trung Quốc đã ký phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa giữa Việt Nam và Trung Quốc trong vịnh Bắc Bộ.
Ngày 26 tháng 6 năm 2003, Việt Nam và Indonesia đã ký hiệp định phân định thềm lục địa giữa hai nước.
Các thỏa thuận quá độ
Việt Nam và Malaysia có vùng thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế chồng lấn. Diện tích vùng chồng lấn không lớn, nhưng có tiềm năng dầu khí. Ngày 5/6/1992, chính phủ hai nước ký Thoả thuận hợp tác thăm dò khai thác chung vùng chồng lấn như là giải pháp tạm thời trong khi chưa phân định dứt điểm ranh giới.
Các nguyên tắc chia sẻ đồng đều chi phí và phân chia công bằng lợi nhuận; hoạt động thăm dò khai thác dầu khí do Petro Vietnam và Petronas thực hiện trên cơ sở các dàn xếp thương mại.
Việt Nam và Campuchia cần phải phân định ranh giới lãnh hải, vùng dặc quyền kinh tế và thềm lục địa giữa hai nước trong Vịnh Thái Lan. Năm 1982, hai nước ký hiệp định về vùng nước lịch sử giữa hai nước với các nội dung chính là: hai bên thỏa thuận sẽ cùng tiến hành tuần tiễu, kiểm soát trong vùng nước lịch sử, việc đánh bắt hải sản của nhân dân địa phương hai nước trong vùng biển này vẫn theo tập quán làm ăn từ trước tới nay, còn việc khai thác tài nguyên thiên nhiên khác do hai bên cùng nhau thỏa thuận, nếu không có thỏa thuận, không bên nào được đơn phương tiến hành. Vào thời gian thích hợp, Việt Nam và Campuchia sẽ thương lượng để phân định ranh giới biển giữa hai nước theo tinh thần bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau.
Thực thi chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
Nhà nước Việt Nam trước sau như một khẳng định nhất quán chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Lập trường này thể hiện trong trong Luật Biên giới quốc gia năm 2003, Tuyên bố năm 1997 về lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa Việt Nam, Tuyên bố năm 1982 về đường cơ sở dùng để tính lãnh hải của Việt Nam, nghị quyết của Quốc hội năm 1994 phê chuẩn Công ước Luật biển năm 1982 cũng như trong các tuyên bố chính thức khác của Việt Nam...
Hiện nay, Việt Nam đang quản lý 21 đảo nổi và đảo chìm ở quần đảo Trường Sa. Việc tổ chức tuần tra kiểm soát trên vùng biển của quần đảo được tổ chức chặt chẽ. Nhà nước đã đầu tư xây dựng nhiều trạm đèn biển tại đảo Đá Tây, Đá Lát, An Bang và Tiên Nữ. Trạm khí tượng Trường Sa hoạt động liên tục cung cấp các số liệu khoa học phục vụ cho ngành khí tượng thủy văn trong nước và quốc tế.
Ngay sau khi Trung Quốc cho lưu hành bản đồ “đường lưỡi bò” tại Liên hiệp quốc (tháng 5/2009), Việt Nam đã tiến hành triển khai một loạt hoạt động đấu tranh như Phái đoàn ta tại Liên hiệp quốc gửi công hàm cho Tổng thư ký Liên hiệp quốc để lưu hành cho tất cả các quốc gia thành viên. Bộ Ngoại giao Việt Nam gửi công hàm cho phía Trung Quốc bác bỏ yêu sách đó, khẳng định yêu sách đó hoàn toàn không có giá trị.
Thực thi và bảo vệ các quyền lợi kinh tế
Năm 1989, Chính phủ Việt Nam đã ra quyết định xây dựng cụm kinh tế khoa học dịch vụ tại khu đá ngầm trên thềm lục địa Việt Nam thuộc địa phận đặc khu Vũng Tàu-Côn Đảo, gọi tắt là DK1, gồm các trạm nghiên cứu Ba Kè, trạm nghiên cứu Tư Chính, Trạm Nghiên cứu Phúc Nguyên, trạm nghiên cứu Phúc Tần, Trạm Nghiên cứu Huyền Trân, Trạm Nghiên cứu Quế Đường.
Tại DK1, chúng ta đã đã xây dựng một số nhà nổi, hình thành tổ chức cơ sở quốc doanh vừa làm nhiệm vụ đánh bắt thu mua và sơ chế hải sản, trước khi chuyển vào đất liền, vừa làm chỗ trú đậu, tránh bão, cung ứng hậu cần cho các tàu thuyền đánh cá của các tổ chức kinh tế và ngư dân trong vùng.
Việt Nam đã phân lô dầu khí và hợp tác với nhiều công ty nước ngoài (Mỹ, Anh, Nga, Nhật bản, Ấn Độ, Hà Lan, Singapore...) thăm dò và khai thác dầu khí trên thềm lục địa của Việt Nam. Đối với người nước ngoài gây khó khăn trên thực địa, thậm chí gặp các đối tác nước ngoài đòi họ chấm dứt hợp tác với ta, ta luôn khẳng định rõ chủ quyền của ta và tiếp tục các hoạt động bình thường. Cho đến nay, đại bộ phận các nhà đầu tư nước ngoài yên tâm và tiến hành hợp tác với Việt Nam trong lĩnh vực này. Năm 2011 sản lượng dầu khí của Việt Nam dự kiến đạt 23 triệu tấn.
Năm 1992, khi Công ty Dầu lửa ngoài khơi Trung Quốc và Công ty năng lượng Creston của Mỹ ký hợp đồng hợp tác thăm dò dầu khí tại khu vực bãi đá ngầm Tư Chính trên thềm lục địa của Việt Nam, Bộ Ngoại giao Việt Nam ra tuyên bố, khẳng định việc ký kết đó đã vi phạm nghiêm trọng quyền chủ quyền của Việt Nam đối với thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam và chứa đựng nguy cơ mất ổn định; yêu cầu Trung Quốc chấm dứt việc thông qua Công ty Creston tiến hành thăm dò khai thác bất hợp pháp trên thềm lục địa Việt Nam.
Sự kiện tàu Trung Quốc cắt cáp thăm dò tàu Bình Minh 2 (25/5/2011) và tàu Viking 2 (9/6/2011) trong khu vực đặc quyền kinh tế Việt Nam không những đã vấp phải sự phản đối kiên quyết của Việt Nam, mà còn bị cả dư luận thế giới lên án.
Bên cạnh việc kiên trì đấu tranh bảo vệ chủ quyền và an ninh quốc gia trên biển, Đảng và Chính phủ luôn hết sức quan tâm đến việc bảo đảm an toàn tính mạng, tài sản và hoạt động sản xuất bình thường của ngư dân ta trong các vùng biển của Việt Nam. Chính phủ đã chỉ đạo các ngành hữu quan triển khai nhiều biện pháp đồng bộ vừa để hỗ trợ, vừa để bảo vệ hoạt động của ngư dân ta.
Khi có vấn đề phức tạp nảy sinh trên biển, chúng ta đã kiên quyết đấu tranh với các bên liên quan để bảo vệ quyền lợi chính đáng của ngư dân. Chính phủ cũng đã tăng cường đầu tư nâng cao năng lực quản lý trên biển của các ngành chức năng để bảo vệ hoạt động nghề cá của tàu cá và ngư dân Việt Nam trong vùng biển Việt Nam.
Xây dựng và trình Liên Hiệp Quốc báo cáo quốc gia và xác định ranh giới ngoài thềm lục địa của Việt Nam
Theo quy định của Công ước Luật Biển năm 1982, các quốc gia ven biển, trong đó có Việt Nam, có quyền mở rộng thềm lục địa của mình quá 200 hải lý nếu thềm lục địa đó thực tế rộng hơn 200 hải lý.
Để thực hiện quyền này, Việt Nam phải nộp báo cáo quốc gia lên Ủy ban Thềm lục địa của Liên hiệp quốc, trong đó nêu rõ các bằng chứng khoa học, địa chất, địa mạo để chứng minh. Nếu sau ngày 13/5/2009 Việt Nam không nộp Báo cáo quốc gia thì Việt Nam mất quyền mở rộng ranh giới thềm lục địa.
Trong 3 năm (2007-2009), Việt Nam triển khai khảo sát địa chấn, đo độ sâu mực nước biển để thu thu thập các số liệu cần thiết và chuẩn bị báo cáo với sự hỗ trợ của chuyên gia quốc tế. Đầu tháng 5/2009, Việt Nam đã nộp báo cáo chung với Malaysia về khu vực thềm lục địa mở rộng ở phía nam biển Đông và báo cáo riêng của Việt Nam về khu vực thềm lục địa ở khu vực phía Bắc.
Quan điểm pháp lý cơ bản trong báo cáo quốc gia của Việt Nam là khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, khẳng định chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam đối với các vùng biển và thềm lục địa theo Công ước Luật biển năm 1982, tuân thủ Công ước Luật biển năm 1982 và tôn trọng các điều ước, hiệp định quốc tế về phân định biển đã được ký kết giữa các nước liên quan.
Báo cáo xác định ranh giới ngoài thềm lục địa không ảnh hưởng đến việc phân đinh biển giữa Việt Nam với các nước liên quan sau này. Việc Việt Nam nộp và trình bày tại Ủy ban Thềm lục địa các báo cáo quốc gia xác định ranh giới ngoài của thềm lục địa Việt Nam là hoàn toàn phù hợp với Công ước Luật biển năm 1982 và để thực hiện quyền của một quốc gia thành viên.
Từ khi trở thành thành viên ASEAN, Việt Nam đã tích cực ủng hộ các nỗ lực của các nước ASEAN thúc đẩy đối thoại nhằm duy trì hòa bình và ổn định ở biển Đông (DOC) giữa ASEAN- Trung Quốc năm 2002, giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, kiềm chế, không tiến hành hoạt đông làm phức tạp thêm tình hình, không chiếm đóng mới, tăng cường các nỗ lực xây dựng lòng tin như tiến hành đối thoại quốc phòng, đối xử nhân đạo với người bị nạn trên biển, trao đổi thông tin liên quan; tìm kiếm khả năng hợp tác trong một số lĩnh vực ít nhạy cảm như bảo vệ môi trường biển, nghiên cứu khoa học, an toàn hàng hải, tìm kiếm cứu nạn và chống các tội phạm xuyên quốc gia như buôn lậu ma túy, cướp biển, cướp có vũ trang, buôn bán vũ khí bất hợp pháp.
Những hoạt động nói trên đã thể hiện đầy đủ trách nhiệm và nghĩa vụ của người chủ sở hữu biển đảo của Việt Nam. Đó cũng là ý chí bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhân dân Việt Nam.
Biểu đạt quyết tâm đó, trong phát biểu ngày 17/8/2011, tại Hải Phòng, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhấn mạnh, chủ quyền là thiêng liêng bất khả xâm phạm; Đảng, Nhà nước đã, đang và sẽ làm hết sức bằng sức mạnh của dân tộc với sức mạnh thời đại để bảo vệ vững chắc chủ quyền của Tổ quốc; tiếp tục khẳng định chủ quyền không thể tranh cãi của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, khẳng định chủ quyền và quyền chủ quyền của Việt Nam đối với các vùng biển, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa theo Công ước Luật Biển năm 1982 của Liên hiệp quốc.
Việt Nam kiên trì chủ trương giải quyết các tranh chấp ở biển Đông bằng các biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Luật Biển năm 1982 của Liên Hiệp Quốc, đồng thời phản đối mạnh mẽ và kiên quyết đấu tranh với các hoạt động vi phạm chủ quyền và lợi ích chính đáng trên biển của đất nước.


05/09/2011 12:00 SAĐã ban hành
Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ ngày 10/7/2019 đến ngày 15/7/2019Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ ngày 10/7/2019 đến ngày 15/7/2019
Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ ngày 10/7/2019 đến ngày 15/7/2019
17/07/2019 9:00 SAĐã ban hành
Thông báo công bố Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm 2011 – 2015 của tỉnh Bến TreThông báo công bố Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm 2011 – 2015 của tỉnh Bến Tre
Ngày 07 tháng 02 năm 2013, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 24/NQ-CP về việc xét duyệt Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011-2015) của tỉnh Bến Tre.



Căn cứ Điều 28 Luật Đất đai năm 2003; Điều 27 Nghị định số 181/2004/ NĐ - CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai; Thông tư số 19/2009/TT - BTNMT ngày 02 tháng 11 năm 2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về Quy định chi tiết việc lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.

Thực hiện Kế hoạch số 1494/KH-UBND ngày 8 tháng 4 năm 2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc công bố quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011 – 2015) của tỉnh Bến Tre

Nay, Sở tài nguyên và Môi trường công bố công khai toàn bộ tài liệu Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011-2015) của tỉnh Bến Tre tại trụ sở làm việc của Sở Tài nguyên và Môi trường, địa chỉ: số 01 Trần Quốc Tuấn - Phường 2 - Thành phố Bến Tre - Tỉnh Bến Tre và Website của Sở Tài nguyên và Môi trường (http://www.sotnmt-bentre.gov.vn), Website của tỉnh Bến Tre (http://www.bentre.gov.vn).

Đề nghị đài Phát thanh Truyền hình Bến Tre, Báo Đồng Khởi phối hợp đăng tin (gửi kèm Nghị quyết số 24/NQ-CP ngày 7 tháng 2 năm 2013 của Chính phủ về việc xét duyệt Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011-2015) của tỉnh Bến Tre).

Sở Tài nguyên và Môi trường thông báo đến toàn bộ tổ chức, cá nhân trên địa bàn tỉnh đuợc biết./.
Tải về ảnh bản đồ và Nghị quyết số 24/NQ-CP.



13/05/2013 12:00 SAĐã ban hành
Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Từ ngày 22/10/2019 đến ngày 29/10/2019)Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Từ ngày 22/10/2019 đến ngày 29/10/2019)
Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Từ ngày 22/10/2019 đến ngày 29/10/2019)
30/10/2019 10:00 SAĐã ban hành
Kế hoạch thanh tra về tài nguyên và môi trường năm 2019Kế hoạch thanh tra về tài nguyên và môi trường năm 2019
Quyết định số 3549/QĐ-BTNMT ngày 23 tháng 11 năm 2018 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc phê duyệt Kế hoạch thanh tra năm 2019.
29/01/2019 4:00 CHĐã ban hành
Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Từ 17/12/2019 đến 26/12/2019)Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Từ 17/12/2019 đến 26/12/2019)
Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Từ 17/12/2019 đến 26/12/2019)
27/12/2019 9:00 SAĐã ban hành
Tìm hiểu về Luật Bảo vệ Môi trườngTìm hiểu về Luật Bảo vệ Môi trường
<html><br /><body><br /><div align=justify><br /><center><b><font color=0000ff size=3>Tìm hiểu về Luật Bảo vệ môi trường<br /></font></b></center><p><br /><b><font color=#AD591D size=2><li><u>Câu hỏi:</u></li></font></b><p><br /><font color=#330099 size=2><dd><b><i>Chặt phá rừng trái phép và đánh bắt thủy hải sản bằng xung điện, thuốc nổ ở biển, sông, kênh rạch, có bị coi là vi phạm pháp luật? Người vi phạm sẽ bị xử lý như thế nào?</i></b><p></font><br /></div><br /></body><br /></html>


  • Trả lời:

  • Theo Điều 7 Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 quy định những hành vi bị nghiêm cấm như sau:
    1. Phá hoại, khai thác trái phép rừng, các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác.
    2. Khai thác, đánh bắt các nguồn tài nguyên sinh vật bằng phương tiện, công cụ, phương pháp huỷ diệt, không đúng thời vụ và sản lượng theo quy định của pháp luật.
    3. Khai thác, kinh doanh, tiêu thụ, sử dụng các loài thực vật, động vật hoang dã quý hiếm thuộc danh mục cấm do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định.
    4. Chôn lấp chất độc, chất phóng xạ, chất thải và chất nguy hại khác không đúng nơi quy định và quy trình kỹ thuật về bảo vệ môi trường.
    5. Thải chất thải chưa được xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường; các chất độc, chất phóng xạ và chất nguy hại khác vào đất, nguồn nước.
    6. Thải khói, bụi, khí có chất hoặc mùi độc hại vào không khí; phát tán bức xạ, phóng xạ, các chất ion hoá vượt quá tiêu chuẩn môi trường cho phép.
    7. Gây tiếng ồn, độ rung vượt quá tiêu chuẩn cho phép.
    8. Nhập khẩu máy móc, thiết bị, phương tiện không đạt tiêu chuẩn môi trường.
    9. Nhập khẩu, quá cảnh chất thải dưới mọi hình thức.
    10. Nhập khẩu, quá cảnh động vật, thực vật chưa qua kiểm dịch; vi sinh vật ngoài danh mục cho phép.
    11. Sản xuất, kinh doanh sản phẩm gây nguy hại cho con người, sinh vật và hệ sinh thái; sản xuất, sử dụng nguyên liệu, vật liệu xây dựng chứa yếu tố độc hại vượt quá tiêu chuẩn cho phép.
    12. Xâm hại di sản thiên nhiên, khu bảo tồn thiên nhiên.
    13. Xâm hại công trình, thiết bị, phương tiện phục vụ hoạt động bảo vệ môi trường.
    14. Hoạt động trái phép, sinh sống ở khu vực được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định là khu vực cấm do mức độ đặc biệt nguy hiểm về môi trường đối với sức khỏe và tính mạng con người.
    15. Che giấu hành vi huỷ hoại môi trường, cản trở hoạt động bảo vệ môi trường, làm sai lệch thông tin dẫn đến gây hậu quả xấu đối với môi trường.
    16. Các hành vi bị nghiêm cấm khác về bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật.
    Người vi phạm sẽ bị xử lý theo Nghị định số 117/2009/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2009 của Chính Phủ Về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.


    Chi cục Bảo vệ môi trường



    05/05/2010 12:00 SAĐã ban hành
    Điểm mới của Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảoĐiểm mới của Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo
    Từ ngày 01/7/2016, Luật Tài nguyên môi trường biển và hải đảo có hiệu lực. Đây là thời điểm đánh dấu lần đầu tiên “luật hóa” quy định về phương thức quản lý mới trên biển là “quản lý tổng hợp” và nó được kỳ vọng sẽ đem lại hiệu quả trong sử dụng tài nguyên và quản lý môi trưởng biển, đảo

    ​          Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo gồm 10 chương, 81 điều với phạm vi điều chỉnh là quy định về quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển và hải đảo; quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức và cá nhân trong quản lý tổng hợp tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo Việt Nam.

              Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo quy định nhiều nội dung, nguyên tắc mới, quan trọng lần đầu tiên được quy định trong pháp luật Việt Nam như nguyên tắc: Quản lý tổng hợp tài nguyên biển và hải đảo phải dựa trên tiếp cận hệ sinh thái, bảo đảm tài nguyên biển và hải đảo được khai thác, sử dụng phù hợp với chức năng của từng khu vực biển và trong giới hạn chịu tải của môi trường, hệ sinh thái biển, hải đảo; bảo đảm quyền tiếp cận của người dân với biển; quy định về: Hành lang bảo vệ bờ biển; phân vùng khai thác, sử dụng tài nguyên vùng bờ; quản lý tài nguyên hải đảo; phân vùng rủi ro ô nhiễm môi trường biển và hải đảo, cấp rủi ro ô nhiễm môi trường biển và hải đảo; cấp giấy phép nhận chìm ở biển; Luật cũng quy định những hành vi bị nghiêm cấm và quy định cụ thể trách nhiệm điều tra, đánh giá môi trường biển và hải đảo…

              Điểm mới cơ bản của Luật là tập trung quy định về các cơ chế, chính sách điều phối, phối hợp liên ngành, liên vùng, bao gồm các chiến lược, quy hoạch, chương trình, hệ thống thông tin, dữ liệu... mà không quy định về quản lý, khai thác, sử dụng loại tài nguyên biển cụ thể. Phương thức quản lý tổng hợp sẽ giúp khắc phục các xung đột, mâu thuẫn trong quản lý theo ngành, lĩnh vực; sử dụng hợp lý, hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường và các hệ sinh thái biển và hải đảo; thống nhất các hoạt động quản lý tài nguyên, môi trường biển và hải đảo từ Trung ương đến địa phương, đảm bảo phát triển bền vững biển và hải đảo. Chính vì vậy, Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo không chồng chéo với các luật chuyên ngành. Thực thi phương thức quản lý tổng hợp, tài nguyên biển và hải đảo sẽ được quản lý thống nhất theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch; bảo đảm tài nguyên biển và hải đảo được khai thác, sử dụng phù hợp với chức năng của từng khu vực biển và trong giới hạn chịu tải của môi trường, hệ sinh thái biển, hải đảo; bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngành, các cấp; bảo đảm quyền tiếp cận của người dân với biển, tạo điều kiện thuận lợi để cộng đồng dân cư, tổ chức, cá nhân có liên quan tham gia tích cực và hiệu quả trong quá trình thực thi quản lý.

             Bộ Tài nguyên và Môi trường, các bộ, cơ quan ngang bộ, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có biển trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm quan trắc, đánh giá tình trạng ô nhiễm môi trường biển và hải đảo, hiện trạng chất lượng nước, trầm tích, các hệ sinh thái và đa dạng sinh học của các khu vực biển và hải đảo; điều tra, thống kê, phân loại, đánh giá các nguồn thải từ đất liền và từ các hoạt động trên biển và hải đảo theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường.

              Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo ra đời nhằm thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, từng bước hoàn thiện pháp luật để quản lý tài nguyên biển và hải đảo bảo đảm tài nguyên biển và hải đảo được khai thác, sử dụng hiệu quả, duy trì chức năng và cấu trúc của hệ sinh thái nhằm phát triển bền vững, bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia của Việt Nam trên biển. Đồng thời là hành lang pháp lý quan trọng tạo bước đột phá trong quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường biển và hải đảo, góp phần sớm đưa Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, thực hiện thắng lợi Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020./.

    Vĩnh Thịnh

    06/02/2017 1:30 CHĐã ban hành
    Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Tháng 11 năm 2019)Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Tháng 11 năm 2019)
    Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Tháng 11 năm 2019)
    03/12/2019 10:00 SAĐã ban hành
    Bến Tre khởi động dự án VLAPBến Tre khởi động dự án VLAP
    <dd>Ngày 28/10/2008 Uỷ ban nhân dân tỉnh Bến Tre tổ chức hội nghị Khởi động dự án Hoàn thiện và hiện đại hóa hệ thống quản lý đất đai Việt Nam (gọi tắt là VLAP) tại tỉnh Bến Tre, với sự tham dự của hơn 60 đại biểu bao gồm: Ban chỉ đạo, các Sở, ban, ngành tỉnh và huyện; Ông Nguyễn Quốc Bảo Phó chủ tịch  Uỷ ban nhân dân tỉnh chủ trì hội nghị;



    Dự án VLAP có 9 tỉnh được chọn lựa tham gia, bao gồm: Hưng Yên, Hà Tây (nay là Hà Nội), Thái Bình, Quảng Ngãi, Bình Định, Khánh Hòa, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, được Ngân hàng Thế giới tài trợ, cơ quan chủ quản cấp trung ương là Bộ Tài nguyên và Môi trường, cấp tỉnh là Uỷ ban nhân dân tỉnh, Sở Tài nguyên và Môi trường là chủ dự án; Thời gian thực hiện dự án là 5 năm kể từ ngày 15/9/2008 (ngày Hiệp định Tài trợ được ký kết giữa Chính phủ Việt Nam và Hiệp hội phát triển quốc tế có hiệu lực) dự kiến đến ngày 15/9/2013 kết thúc dự án.
    Riêng tỉnh Bến Tre, những nội dung thực hiện dự án bao gồm:
    - Kinh phí thực hiện dự án là 9.190.000 USD, trong đó vốn của Hiệp hội phát triển quốc tế (IDA) 6.760.000 USD, vốn đối ứng từ ngân sách của tỉnh 2.430.000 USD;
    - Đo đạc thành lập bản đồ địa chính, đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính, chuẩn bị hồ sơ cấp mới/đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 75 xã tại các huyện Thạnh Phú, Chợ Lách, Mỏ Cày, Ba Tri và thị xã Bến Tre;
    - Đo đạc chỉnh lý bản đồ địa chính, đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính, chuẩn bị hồ sơ cấp mới/đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 64 xã, phường, thị trấn tại các huyện Châu Thành, Thạnh Phú, Chợ Lách, Mỏ Cày, Giồng Trôm, Bình Đại và thị xã Bến Tre;
    - Chuyển hệ tọa độ bản đồ địa chính từ hệ tọa độ HN-72 sang VN-2000 cho 31 xã, phường, thị trấn tại các huyện Châu Thành, Thạnh Phú, Chợ Lách, Mỏ Cày, Giồng Trôm, Bình Đại và thị xã Bến Tre;
    - Ngoài ra, dự án có những nội dung khác như: mua sắm trang thiết bị văn phòng, phương tiện đi lại cho ban quản lý dự án. Nâng cấp và đầu tư trang thiết bị đo đạc, thiết bị văn phòng, công nghệ thông tin hiện đại cho Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp tỉnh và huyện, trang bị máy vi tính cho 160/160 xã, phường, thị trấn; đào tạo chuyên môn nâng cao trình độ cho cán bộ thực hiện dự án, cán bộ ngành cấp tỉnh, huyện và xã đảm bảo đủ khả năng tiếp nhận và sử dụng hiệu quả thành quả của dự án, cũng như tiếp tục duy trì và phát triển hệ thống sau khi kết thúc dự án.
    Nhằm thực hiện thành công dự án VLAP tại tỉnh Bến Tre và đạt được mục tiêu của dự án, tăng cường sự tiếp cận của mọi đối tượng đối với dịch vụ thông tin đất đai. Tại hội nghị Ông Nguyễn Quốc Bảo đã chỉ đạo thực hiện một số nội dung, giải pháp giải quyết những khó khăn trong thực hiện dự án cho thời điểm hiện tại và suốt quá trình thực hiện dự án, cụ thể như sau:
    - Tập trung nguồn lực cho việc thực hiện dự án, dù nguồn vốn đối ứng từ ngân sách của tỉnh là rất lớn, tuy nhiên dự án này tạo cơ hội cho tỉnh hoàn thiện và hiện đại hóa hệ thống quản lý đất đai với thời gian 5 năm, trong quá trình thực hiện, các vấn đề khó khăn có thể phát sinh, do đó các thành viên dự án nên chủ động, linh hoạt giải quyết;
    - Cần nghiên cứu và thực hiện đúng quy trình giải ngân nguồn vốn ODA theo quy định của Ngân hàng Thế giới và đúng theo Hiệp định tài trợ;
    - Ban quản lý dự án cần chú trọng thực hiện một số nội dung sau:tổ chức tốt công tác lập kế hoạch và giám sát dự án; Đào tạo cán bộ đủ trình độ theo yêu cầu của dự án;
    - Về cán bộ cấp huyện và cấp xã đảm bảo đủ trình độ chuyên môn cho cán bộ nhất là cán bộ địa chính xã, đủ khả năng tiếp nhận và sử dụng trang thiết bị, kỹ thuật hiện đại, đảm bảo cung cấp thông tin cho người có nhu cầu sử dụng một cách công khai, minh bạch trong quá trình thực hiện dự án và tiếp tục duy trì, phát triển hệ thống sau này;
    - Cần có sự phối hợp chặt chẽ của Ban chỉ đạo, Ban quản lý dự án, các sở, ngành tỉnh và địa phương trong quá trình thực hiện./.

    Huỳnh Công Phúc



    07/11/2008 12:00 SAĐã ban hành
    GHI NỢ TIỀN SỬ DỤNG ĐẤT CHỦ TRƯƠNG TẠO ĐIỀU KIỆN CHO NGƯỜI  DÂN DỄ DÀNG CÓ “SỔ ĐỎ”GHI NỢ TIỀN SỬ DỤNG ĐẤT CHỦ TRƯƠNG TẠO ĐIỀU KIỆN CHO NGƯỜI  DÂN DỄ DÀNG CÓ “SỔ ĐỎ”
    Hiện nay, vẫn còn nhiều hộ gia đình cá nhân sử dụng đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (giấy CNQSDĐ) hay còn gọi là “sổ đỏ”. Mà một trong những nguyên nhân là khả năng tài chính của người sử dụng đất chưa đủ để nộp tiền sử dụng đất. Nhằm khắc phục tình trạng trên và để đẩy nhanh tiến độ cấp giấy CNQSDĐ cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất mà chưa được cấp giấy CNQSDĐ...



    Ngày 02/11/2006 UBND tỉnh Bến Tre đã ban hành Quyết định số : 2225/2006/QĐ-UBND về việc ghi nợ tiền sử dụng đất và theo qui định mới của Chính phủ tại Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 qui định bổ sung về cấp giấy CNQSDĐ, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai. Theo đó, đã cho phép ghi nợ tiền sử dụng đất khi cấp giấy CNQSDĐ.

    (Chúng tôi xin giới thiệu những nội dung chính về chủ trương ghi nợ tiền sử dụng đất của tỉnh để bạn đọc theo dõi.)

    Về đối tượng được ghi nợ tiền sử dụng đất

    Đối tượng được ghi nợ tiền sử dụng đất là hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất, chuyển mục đích sử dụng đất phải nộp tiền sử dụng đất nhưng chưa đủ khả năng nộp tiền sử dụng đất cho Nhà nước được ghi nợ số tiền sử dụng đất phải nộp.

  • Các trường hợp đang sử dụng đất, chuyển mục đích sử dụng đất phải nộp tiền sử dụng đất được ghi nợ bao gồm :


  • - Hộ gia đình, cá nhân chuyển từ đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở thuộc khu dân cư chưa được công nhận là đất ở sang đất ở;
    - Hộ gia đình, cá nhân chuyển từ đất nông nghiệp được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất sang đất ở trong hạn mức diện tích đất ở;
    - Hộ gia đình, cá nhân chuyển mục đích sử dụng đất sang đất ở mà đất đó có nguồn gốc từ nhận chuyển nhượng của người sử dụng đất hợp pháp;
    - Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất ở từ ngày 15/10/1993 đến thời điểm cấp giấy CNQSD đất mà chưa nộp tiền sử dụng đất;
    - Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ở do tổ chức sử dụng đất được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất, được Nhà nước cho thuê đất, tự chuyển mục đích sử dụng đất sang đất ở và đã phân phối đất đó cho cán bộ, công nhân viên của tổ chức trong thời gian từ ngày 15/10/1993 đến ngày Nghị định 198/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về thu tiền sử dụng đất có hiệu lực;
    - Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các lọai giấy tờ quy định tại khỏan 1 Điều 50 Luật Đất đai năm 2003, nhưng đất được sử dụng từ ngày 15/10/1993 đến trước ngày Luật Đất đai năm 2003 có hiệu lực thi hành, nay được UBND xã, phường, thị trấn xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy họach sử dụng đất thì đước cấp GCNQSD đất và phải nộp tiền sử dụng đất.

  • Các trường hợp không được ghi nợ QSD đất :


  • Việc ghi nợ tiền sử dụng đất không áp dung đối với trường hợp giao đất mới (kể cả hình thức đấu giá hoặc không đấu giá quyền sử dụng đất) theo quy định tại Điều 5 Nghị định số 198/2004/NĐ-CP, cụ thể các trường hợp sau :
    - Giao đất theo hình thức đấu giá quyền sử dụng đất hoặc đấu thầu dự án có sử dụng đất;
    - Giao đất sử dụng ổn định lâu dài theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền không qua đấu giá quyền sử dụng đất;
    - Giao đất sử dụng có thời hạn theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

  • Giá đất để ghi nợ tiền sử dụng đất hoặc thu nợ tiền sử dụng đất :


  • - Các trường hợp đã ghi nợ tiền sử dụng đất trước ngày Nghị định số 84/2007/NĐ-CP có hiệu lực (ngày 10/6/2007) thì người sử dụng đất trả nợ tiền sử dụng đất theo số nợ đã ghi trên giấy CNQSDĐ.
    - Các trường hợp đã ghi nợ tiền sử dụng đất từ ngày Nghị định số 84/2007/NĐ-CP có hiệu lực (ngày 10/6/2007) thì người sử dụng đất trả nợ tiền sử dụng đất theo giá đất tại thời điểm thanh toán nợ.
    - Các trường hợp đã được cấp giấy CNQSD đất trước ngày Nghị định số 198/2004/NĐ-CP có hiệu lực thi hành mà thuộc các trường hợp đất sử dụng làm đất ở từ ngày 15/10/1993 về sau, phải nộp tiền sử dụng đất mà còn nợ và ghi rõ số tiền nợ trên giấy CNQSD đất thì được tiếp tục ghi nợ và thu tiền sử dụng đất vào ngân sách nhà nước theo số tiền đã nghi nợ. Trường hợp trên giấy CNQSD đất không ghi rõ số tiền sử dụng đất còn nợ thì tính và thu tiền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về thu tiền sử dụng đất tại thời điểm cấp giấy CNQSD đất.

  • Các hộ gia đình, cá nhân phải nộp toàn bộ số tiền còn nợ cho Nhà nước khi :


  • - Thực hiện các giao dịch về quyền sử dụng đất (chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất).
    - Tặng cho quyền sử dụng đất đối với người ngòai diện thừa kế theo quy định của pháp luật dân sự;
    - Hộ gia đình, cá nhân được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất.

  • Trình tự, thủ tục ghi và xóa nợ tiền sử dụng đất :


  • - Hộ gia đình, cá nhân liên hệ Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp huyện để được hướng dẫn thực hiện.
    - Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất các cấp (nơi cấp giấy CNQSD đất) có trách nhiệm chỉnh lý xóa số tiền nợ đã ghi trên giấy CNQSD đất trong các trường hợp hộ gia đình cá nhân đã nộp tiền sử dụng đất còn nợ cho Nhà nước.

    VT



    21/08/2007 12:00 SAĐã ban hành
    Công văn về việc triển khai Quyết định số 19/2019/QĐ-UBND ngày 23 tháng 4 năm 2019 của UBND tỉnhCông văn về việc triển khai Quyết định số 19/2019/QĐ-UBND ngày 23 tháng 4 năm 2019 của UBND tỉnh
    Ngày 23 tháng 4 năm 2019 Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Quyết định số 19/2019/QĐ-UBND ban hành Quy chế phối hợp trong thực hiện thu hồi đất đối với các dự án đầu tư không đưa đất vào sử dụng, chậm tiến độ sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai và các dự án đầu tư chấm dứt hoạt động theo quy định của pháp luật về đầu tư trên địa bàn tỉnh Bến Tre.

    Tải toàn văn: QD_19_2019_UBNDtinh.rar


    20/05/2019 9:00 SAĐã ban hành
    Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Từ 02/12/2019 đến 10/12/2019)Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Từ 02/12/2019 đến 10/12/2019)
    Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Từ 02/12/2019 đến 10/12/2019)
    11/12/2019 9:00 SAĐã ban hành
    HỎI ĐÁP PHÁP LUẬT VỀ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNGHỎI ĐÁP PHÁP LUẬT VỀ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
    <html><br /><body><br /><div align=justify><br /><center><b><font color=0000ff size=3>Góp phần tháo gỡ vướng mắc xung quanh thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất</font></b></center><p><br /><font color=#0000ff size=2><dd>Việc sử dụng đất và xúc tiến thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là vấn đề hệ trọng, có liên quan mật thiết đến quyền lợi và nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức, ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển kinh tế-xã hội, bảo vệ và phát triển môi trường bền vững. Để đáp ứng nhu cầu quản lý và tìm hiểu các quy định của pháp luật về đất đai, trên cơ sở nội dung phản ánh trong các buổi Giao lưu trực tuyến giữa Bộ Tài nguyên và Môi trường với người sử dụng đất; tổng hợp từ các yêu cầu, đề nghị, hướng dẫn, giải đáp pháp luật của các địa phương, và thực tiễn kiểm tra, thực hiện pháp luật tài nguyên và môi trường trong thời gian qua, Sở Tài nguyên và Môi trường Bến Tre có chọn lọc lại nhiều trường hợp điển hình, thường xảy ra để người sử dụng đất tham khảo, vận dụng vào thực tiễn.<br /><p></font><br /><b><font color=#AD591D size=2><li><u>1. Câu hỏi số 104:</u></li></font></b><p><br /><font color=#330099 size=2><dd><b><i>Tôi được Cơ quan (Doanh nghiệp Nhà nước) cấp cho gần 140 m2 đất để làm nhà ở từ năm 1990. Năm 2000, tôi xin làm giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất, được UBND phường xác nhận không tranh chấp, không vướng quy hoạch. Sau đó được tổ 60 CP-Cục thuế tính số tiền phải nộp là gần 27 triệu đồng (20% giá đất). Do chưa có tiền nộp nên cuối năm 2003, tôi liên hệ lại, thì được thông báo phải nộp gần 90 triệu đồng (40% giá đất) như vậy có đúng không? Được biết hiện nay các trường hợp như của tôi, đều được hợp thức hóa và không phải nộp thuế đất?</i></b><p></font><br /><b><font color=#AD591D size=2><li><u>Trả lời:</u></li></font></b><p><br /><font color=#330099 size=2><dd> Câu hỏi của Bạn chưa nói rõ nguồn tiền để làm nhà ở. Trường hợp Bạn tự bỏ tiền để xây dựng nhà ở thì Bạn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 4 Điều 50 Luật Đất đai năm 2003 và Bạn không phải nộp tiền sử dụng đất. Trường hợp nhà ở được xây dựng từ nguồn kinh phí của Nhà nước thì Bạn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Nghị định số 61/CP ngày 05/7/1994 của Chính phủ về mua bán và kinh doanh nhà ở; Bạn phải nộp 40% tiền sử dụng đất.<p></font><br /><b><font color=#AD591D size=2><li><u>2. Câu hỏi số 105:</u></li></font></b><p><br /><font color=#330099 size=2><dd><b><i>Tôi dự định mua đất ở để xây nhà, người bán cho  biết đây là đất tổ tiên, giấy tờ mua bán được viết tay (không có công chứng). Nếu tôi xin xây dựng trước và sau này làm giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà có được không? Và cách đóng thuế ra sao? Nếu sau này Nhà nước qui hoạch vào phần đất này thì tôi có được đền bù không?</i></b><br /><p></font><br /><b><font color=#AD591D size=2><li><u>Trả lời:</u></li></font></b><p><br /><font color=#330099 size=2><dd>Theo quy định của pháp luật về xây dựng, để được cấp giấy phép xây dựng, người sử dụng đất phải xuất trình giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Như vậy, thửa đất phải được cấp giấy chứng nhận sau đó mới được xem xét để được cấp giấy phép xây dựng.<br /><dd>Người nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất muốn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải đóng thuế chuyển quyền sử dụng đất, lệ phí trước bạ và lệ phí địa chính. Trường hợp đất thuộc khu vực chưa có quy hoạch thì sau này khi Nhà nước thu hồi, người sử dụng đất được bồi thường, hỗ trợ tái định cư. Trường hợp đất tại vùng quy hoạch thì chỉ được bồi thường về đất, không được bồi thường về nhà nếu nhà xây dựng sau khi quy hoạch được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và công bố.<p></font><br /><b><font color=#AD591D size=2><li><u>3. Câu hỏi số 106:</u></li></font></b><p><br /><font color=#330099 size=2><dd><b><i>Tôi có 1 mảnh đất 200m2 có nguồn gốc đất là nông nghiệp đã kê khai và đã nộp đầy đủ thuế nhà đất từ trước ngày 15/10/1993 nhưng còn để đất trống. Nay tôi làm đơn xin cấp cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở thì đất đó có được xem là ở ổn định và có được cấp cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở không? nếu được cấp thì tôi phải nộp những loại thuế nào cho Nhà nước?</i></b><p></font><br /><b><font color=#AD591D size=2><li><u>Trả lời:</u></li></font></b><p><br /><font color=#330099 size=2><dd>Việc chuyển mục đích sử dụng đất phải phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xét duyệt. Trường hợp thửa đất của Bạn phù hợp với các quy hoạch và kế hoạch đã được xét duyệt thì Bạn phải thực hiện thủ tục xin chuyển mục đích sử dụng đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khi được UBND cấp huyện nơi có đất cho phép bạn được chuyển mục đích sử dụng đất sang đất ở và Bạn thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước gồm: tiền sử dụng đất (tiền chuyển mục đích sử dụng đất), lệ phí trước bạ, lệ phí địa chính thì Bạn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở. Bạn có thể đến phòng Tài nguyên và Môi trường cấp huyện nơi có đất để được hướng dẫn chi tiết các thủ tục nêu trên.<p></font><br /><b><font color=#AD591D size=2><li><u>4. Câu hỏi số 107:</u></li></font></b><p><br /><font color=#330099 size=2><dd><b><i>Gia đình tôi hiện đã được UBND Thị xã cấp GCNQSDĐ theo hạn mức đất ở là 350m2 trong tổng diện tích 700m2. Số diện tích đất vườn còn lại được xác định là tạm giao. Tôi được biết có quy định: “Nếu hộ gia đình đã được cấp GCNQSDĐ mà nay có nhu cầu chuyển mục đích sử dụng đất của diện tích đất vườn, ao liền kề đất ở trong khu vực dân cư thì không phải nộp tiền sử dụng đất”. Sau khi trực tiếp hỏi cán bộ phòng Tài nguyên và Môi trường thì được trả lời: UBND Thị xã chưa có chủ trương thực hiện quy định này tại địa phương. Vậy cách giải thích này có căn cứ không? Và phải chăng chủ trương này chỉ được thực hiện tại một số địa phương nhất định?</i></b> <p></font><br /><b><font color=#AD591D size=2><li><u>Trả lời:</u> </li></font></b><p><br /><font color=#330099 size=2><dd>Diện tích 350m2 còn lại có phải là đất vườn hay không, phải căn cứ vào quy định của UBND tỉnh về hạn mức công nhận đất ở thì khi chuyển từ vườn sang xây dựng nhà ở thì không phải nộp tiền sử dụng đất; trường hợp 350m2 (vườn) không được công nhận là ở thì khi chuyển mục đích sang xây dựng nhà ở phải nộp tiền sử dụng đất bằng 50% chênh lệch giữa thu tiền sử dụng đất tính theo giá đất ở với thu tiền sử dụng đất tính theo giá đất nông nghiệp.<p></font><br /><b><font color=#AD591D size=2><li><u>5. Câu hỏi số 108:</u> </li></font></b><p><br /><font color=#330099 size=2><dd><b><i>Do khó khăn về nhà ở, vợ chồng tôi được UBND tỉnh bán cho một lô đất. Quyết định giao đất chỉ ghi tên 2 vợ chồng tôi; trong khi đó, bố tôi là thương binh hạng ¾ đang sống chung cùng chúng tôi. Vậy theo Pháp lệnh về người có công với cách mạng và Luật Đất đai năm 2003, vợ chồng tôi có được miễn, giảm việc nộp tiền sử dụng đất không?</i></b> <p></font><br /><b><font color=#AD591D size=2><li><u>Trả lời:</u></li></font></b><p><br /><font color=#330099 size=2><dd>Trong trường hợp chỉ có hai vợ chồng Bạn được giao đất ở thì không được hưởng chế độ miễn, giảm tiền sử dụng đất của bố đẻ của Bạn. Nếu đất ở được giao cho hộ gia đình của Bạn (trong hộ bao gồm cả bố đẻ của Bạn)  thì chế độ miễn, giảm tiền sử dụng đất đối với bố đẻ của Bạn cũng được tính trừ vào số tiền sử dụng đất mà gia đình Bạn phải nộp. <p></font><br /><b><font color=#AD591D size=2><li><u>6. Câu hỏi số 109:</u> </li></font></b><p><br /><font color=#330099 size=2><dd><b><i>Đất trước đây được Nhà nước cấp đất để sản xuất nông nghiệp cho tổ chức. Sau đó, tổ chức lại phân chia đất ở cho cán bộ công nhân viên đã làm nhà ở ổn định trước 15/10/1993. Nay đăng ký quyền sử dụng đất có phải nộp tiền sử dụng đất?</i></b><p></font><br /><b><font color=#AD591D size=2><li><u>Trả lời:</u> </li></font></b><p><br /><font color=#330099 size=2><dd>Trường hợp này, theo quy định của pháp luật hiện hành thì tổ chức phải bàn giao khu đất đã chia cho cán bộ công nhân viên ở cho chính quyền địa phương quản lý. Nếu phù hợp quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng, không có tranh chấp, được UBND cấp xã nơi có đất xác nhận sử dụng đất ổn định trước ngày 15/10/1993 thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất trong thời hạn mức giao đất theo quy định của UBND tỉnh.<p></font><br /><b><font color=#AD591D size=2><li><u>6. Câu hỏi số 59:</u> </li></font></b><p><br /><font color=#330099 size=2><dd><b><i> Phương pháp nhận dạng sổ đỏ thật và giả </i></b><p></font><br /><b><font color=#AD591D size=2><li><u>Trả lời:</u> </li></font></b><p><br /><font color=#330099 size=2><dd>Để thống nhất quản lý về GCNQSDĐ và ngăn ngừa các trường hợp làm giả GCNQSDĐ, Bộ TN & MT đã ban hành Quyết định số 08/2006/QĐ-TNMT ngày 21 tháng 7 năm 2006 ban hành Quy định về GCNQSDĐ (thay thế Quyết định số 24/2004/QĐ-BTNMT ngày 01 tháng 11 năm 2004 ban hành Quy định về GCNQSDĐ). Theo đó GCNQSDĐ được in bằng loại giấy đặc biệt, có số sê-ri phát hành thống nhất trên phạm vi toàn quốc và dấu nổi của Bộ TN & MT.<br /><dd>Để tránh việc làm giả GCNQSDĐ, mọi giao dịch về QSDĐ phải được công chứng tại Phòng công chứng hoặc chứng thực tại UBND xã, Thị trấn nơi có đất và phải đăng ký tại các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật, gồm: Văn phòng đăng ký QSDĐ thuộc Sở TN & MT, Văn phòng đăng ký QSDĐ thuộc Phòng Tài Nguyên và Môi Trường (nơi chưa có Văn phòng Đăng ký QSDĐ thì thực hiện tại Phòng Tài Nguyên và Môi Trường) nơi có đất. Các cơ quan nêu trên khi thực hiện công chứng, chứng thực hoặc đăng ký các giao dịch có trách nhiệm kiểm tra GCNQSDĐ và đối chiếu với hồ sơ địa chính gốc đang lưu giữ để xác nhận tính hợp pháp của GCNQSDĐ.<p></font><br /><b><font color=#AD591D size=2><li><u>8. Câu hỏi số 62:</u></li></font></b><p><br /><font color=#330099 size=2><dd><b><i>Xin cho biết thế nào gọi là đất công? Vì hiện nay thường các cơ quan chính quyền, nhà đất lạm dụng từ này làm khó dân chúng. Việc địa phương tiếp tục quy định có hộ khẩu thì mới được cấp giấy tờ nhà đất có đúng không?</i></b><p></font><br /><b><font color=#AD591D size=2><li><u>Trả lời:</u></li></font></b><p><br /><font color=#330099 size=2><dd>Theo qui định của pháp luật về đất đai, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý.Vì vậy, không có sở hữu tư nhân về đất đai nên không còn khái niệm “đất tư”, mà đất đai ở nước ta thuộc sở hữu toàn dân nên cũng có thể gọi toàn bộ vốn đất đai quốc gia dù đã giao để cho thuê hay chưa được giao, cho thuê cho bất kỳ tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nào sử dụng đều là “đất công”. Trong thực tế hiện nay, thuật ngữ “đất công” hay được sử dụng ở các tỉnh phía Nam nhằm đề cập tới khái niệm “công điền, công thổ” được sử dụng trong các văn bản pháp luật về đất đai của chế độ cũ. Mặt khác, tại các  tỉnh miền Bắc, miền Trung, thuật ngữ “đất công” còn được sử dụng để đề cập đến khái niệm “đất công ích”. Trong pháp luật hiện hành về đất đai chỉ có khái niệm đất được sử dụng vào mục đích gì và do ai sử dụng chứ không có thuật ngữ “đất công”.<br /><dd>Như vậy, việc sử dụng thuật ngữ “đất công” để áp dụng pháp luật là không đúng. Theo qui định của pháp luật về đất đai thì khi cấp GCNQSDĐ không có điều kiện về hộ khẩu thường trú. Việc quy định phải có hộ khẩu thường trú mới cấp GCNQSDĐ là không phù hợp với quy định của pháp luật.<br /><i>(Nguồn: Hỏi đáp pháp luật về tài nguyên và môi trường - Bộ TNMT-Nhà xuất bản bản đồ )</i><p></font><br /><div align=right><b>Phòng QLĐĐ</b></div><br /></div><br /></body><br /></html>
    26/08/2008 12:00 SAĐã ban hành
    Bến Tre thực hiện quy định về thiết lập hành lang bảo vệ bờ biểnBến Tre thực hiện quy định về thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển
    Thực hiện Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016, để tăng cường công tác quản lý quy hoạch, đầu tư xây dựng và đảm bảo khai thác hiệu quả, bền vững quỹ đất ven biển, ứng phó, thích nghi với biến đổi khí hậu và nước biển dâng, UBND tỉnh đã có ý kiến chỉ đạo tại Công văn số 585/UBND-KT ngày 20/02/2017 về việc thực hiện quy định tại Điều 79 của Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo

    Theo quy định tại khoản 1, Điều 79 của Luật tài nguyên và môi trường biển và hải đảo "Kể từ thời điểm Luật này được công bố (tức là ngày 08/7/2015), giữ nguyên hiện trạng", không được phép đầu tư, xây dựng mới công trình trong phạm vi 100m tính từ đường mực nước triều cao trung bình nhiều năm về phía đất liền hoặc về phía trong đảo do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có biển xác định theo hướng dẫn của Bộ Tài nguyên và Môi trường (tại Công văn số 3628/BTNMT-TCBHĐVN ngày 01/9/2015 về việc thực hiện quy định tại Điều 79 của Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo) cho đến khi hành lang bảo vệ bờ biển được thiết lập theo quy định của Luật này, trừ các trường hợp sau: (01) Xây dựng mới công trình phục vụ mục đích quốc phòng, an ninh, phòng, chống thiên tai, sạt lở bờ biển, ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng, bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa; (02) Xây dựng mới công trình theo dự án đầu tư phục vụ lợi ích quốc gia, công cộng được Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, người đứng đầu bộ, cơ quan trung ương, Hội đồng nhân dân, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có biển quyết định chủ trương đầu tư; (03) Xây dựng công trình theo dự án đầu tư đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định đầu tư hoặc xây dựng công trình đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép xây dựng trước thời điểm Luật này được công bố.

    Thực hiện Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016, để tăng cường công tác quản lý quy hoạch, đầu tư xây dựng và đảm bảo khai thác hiệu quả, bền vững quỹ đất ven biển, ứng phó, thích nghi với biến đổi khí hậu và nước biển dâng, UBND tỉnh đã có ý kiến chỉ đạo tại Công văn số 585/UBND-KT ngày 20/02/2017 về việc thực hiện quy định tại Điều 79 của Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo. UBND tỉnh Bến Tre yêu cầu các Sở, ban, ngành có liên quan và UBND 3 huyện ven biển thực hiện một số nội dung trọng tâm sau:

    Một là, tiếp tục thực hiện nghiêm Chỉ thị số 20/CT-TTg ngày 27/7/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường công tác quản lý quy hoạch, đầu tư xây dựng và quản lý đất đai các dự án ven biển.

    Hai là, có trách nhiệm rà soát, báo cáo việc quản lý, sử dụng hành lang bờ biển; số lượng cụ thể các công trình, dự án của các tổ chức doanh nghiệp sẽ bị ảnh hưởng và đánh giá sơ bộ mức độ ảnh hưởng của các dự án này khi áp dụng quy định tại Khoản 1 Điều 79 của Luật tài nguyên và môi trường biển và hải đảo, phân loại theo nhóm gồm: các dự án đã được giao đất, cho thuê đất; các dự án đã được phê duyệt quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500, nhưng chưa thực hiện thủ tục giao đất, cho thuê đất; các dự án được chấp thuận chủ trương đầu tư , nhưng chưa phê duyệt quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500; đề xuất UBND tỉnh chủ trương xử lý chung.

                  Ba là, kiểm tra, đánh giá sự phù hợp của các dự án đầu tư tại khu vực ven biển với quy hoạch xây dựng đã được phê duyệt; rà soát tổng thể các dự án để điều chỉnh quy hoạch xây dựng gắn với quy hoạch sử dụng đất đảm bảo lợi ích cộng đồng dân cư và doanh nghiệp đầu tư trên địa bàn; khai thác sử dụng không gian ven biển hiệu quả, thích ứng với biến đổi khí hậu và đảm bảo an ninh quốc phòng, đảm bảo quỹ đất bố trí hạ tầng kỹ thuật, khu du lịch, công viên, khu vực bảo tồn, phòng hộ…

    so_do_pham_vi_nc.jpg

    Đồng thời giao cho Sở Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với các sở, ban, ngành có liên quan và UBND 3 huyện ven biển xây dựng Dự án “Thiết lập và quản lý hành lang bảo vệ bờ biển trên địa bàn tỉnh Bến Tre” đúng theo thời gian Luật định./.

    Bài và ảnh: Vĩnh Thịnh

    28/11/2017 10:00 SAĐã ban hành
    Tác động của biến đổi khí hậu, nước biển dân đến tỉnh Bến Tre theo kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dân Việt Nam năm 2016Tác động của biến đổi khí hậu, nước biển dân đến tỉnh Bến Tre theo kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dân Việt Nam năm 2016
    Bộ Tài nguyên và Môi trường đã công bố Kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho Việt Nam năm 2016. Các kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng năm 2016 với mức độ chi tiết đến đơn vị hành chính cấp tỉnh, các đảo, quần đảo và bản đồ nguy cơ ngập do nước biển dâng chi tiết đến cấp huyện. Trước đó, Kịch bản được Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố lần đầu vào năm 2009 và lần thứ hai năm 2012.

    Tác động của biến đổi khí hậu, nước biển dân đến tỉnh Bến Tre theo kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dân Việt Nam năm 2016

    Bộ Tài nguyên và Môi trường đã công bố Kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho Việt Nam năm 2016. Các kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng năm 2016 với mức độ chi tiết đến đơn vị hành chính cấp tỉnh, các đảo, quần đảo và bản đồ nguy cơ ngập do nước biển dâng chi tiết đến cấp huyện. Trước đó, Kịch bản được Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố lần đầu vào năm 2009 và lần thứ hai năm 2012.

    Theo Kịch bản RCP8.5 (tương đương kịch bản A1F1 - kịch bản phát thải cao) của Bộ Tài nguyên và Môi trường đến cuối Thế kỷ XXI: Nhiệt độ của Việt Nam có xu thế tăng rõ rệt, khu vực phía Nam tăng từ 3 ÷ 3,50C, phía Bắc từ 3,3 ÷ 4,00C; Lượng mưa năm tăng từ 5 - 15%, mức tăng nhiều nhất có thể lên đến 20% ở một phần Nam bộ, Tây Nguyên, Trung Trung bộ, hầu hết Bắc Bộ và giá trị trung bình của lượng mưa một ngày lớn nhất có xu thế tăng trên toàn lãnh thổ; Bên cạnh đó là xu hướng tăng số lượng bão mạnh đến rất mạnh; Số ngày nắng nóng (>350C) có xu thế tăng lớn nhất ở khu vực Nam bộ, Nam Trung Bộ và Bắc Trung Bộ; Hạn hán trở nên khắc nghiệt hơn do nhiệt độ tăng và lượng mưa giảm vào mùa khô; Mực nước biển dâng khoảng 77cm ở khu vực biển Đông, mực nước ven biển phía Nam dâng cao hơn phía Bắc, nước biển dâng trung bình cho toàn dãi ven bờ Việt Nam khoảng 73cm (49cm ÷ 103cm); Nước biển dâng 100cm, 38,9% diện tích Đồng bằng sông Cửu Long có nguy cơ ngập.

    kich ban nuoc bien dan.jpg

    Hình: Bản đồ nguy cơ ngập (vùng đỏ) tỉnh Bến Tre ứng với mực nước biển dâng 100cm

    (Nguồn: Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu;http://www.kichbanbdkh.com/)

            Đối với tỉnh Bến Tre, theo Kịch bản RCP8.5, nhiệt độ giai đoạn năm 2016 - 2035 tăng trung bình 0,80C (0,5 ÷ 1,20C), 2046 - 2065 tăng khoảng 1,80C (1,4 ÷ 2,50C) và 2080 - 2099 là 3,30C (2,7 ÷ 4,20C). Bên cạnh đó là xu hướng tăng lượng mưa trung bình: giai đoạn 2016 - 2035 là 14,7% (9,7÷19,8); 2046 - 2065 là 18,1% (11,3÷25,6) và 2080 - 2099 là 21,8% (11,3÷33).

    Mặt khác, theo các kịch bản nước biển dâng, Bến Tre là một trong những tỉnh ven biển có nguy cơ ngập cao. Khi mực nước biển dâng 50cm thì 6,21% diện tích tỉnh có nguy cơ ngập, nước biển dâng 80cm là 12,8% và 22,2% khi nước biển dâng 100cm. Trong đó, các huyện có diện tích ngập lớn là Ba Tri (45,91% diện tích), Bình Đại (34,16%), Giồng Trôm (21,06%), Mỏ Cày Nam (17,93%) và thấp nhất là Thành phố Bến Tre (5,7%). Nguy cơ ngập của nước biển dâng chưa tính đến các yếu tố động lực khác như: sự nâng hạ địa chất, thay đổi địa hình; sụt lún do khai thác nước ngầm; ảnh hưởng thủy triều; nước dâng do bão, nước dâng do gió mùa; các công trình thủy điện; các công trình thủy lợi (đê sông, đê biển, đường giao thông,..);…

    Năm 2015, Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre đã tiến hành cập nhật Kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho tỉnh dựa trên Kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng Việt Nam năm 2012 và cập nhật số liệu mới đến năm 2014, làm cơ sở khoa học để xây dựng và ban hành Kế hoạch hành động ứng phó biến đổi khí khí hậu và nước biển dâng tỉnh Bến Tre giai đoạn 2016 - 2020.

    ngam vung xanh.jpg

    Hình: Bản đồ nguy cơ ngập (vùng xanh) ứng với mực nước biển dâng 75cm vào năm 2100

    (Nguồn: Kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng tỉnh Bến Tre năm 2016 )





                Kết quả cập nhật Kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng tỉnh Bến Tre đưa ra các dự đoán tương đối phù hợp với Kịch bản của Bộ Tài nguyên và Môi trường năm 2016 về xu hướng tăng nhiệt độ, lượng mưa và vùng có nguy cơ ngập do nước biển dâng trên địa bàn tỉnh. Cụ thể:

                Về nhiệt độ và lượng mưa: nhiệt độ trung bình Bến Tre đến năm 2020 là 27,30 C, nhiệt độ tăng khoảng 10C giai đoạn từ năm 2020 đến 2050; lượng mưa trung bình/năm của tỉnh đến năm 2020 đạt khoảng 1.496mm, lượng mưa có xu hướng tăng đến năm 2050 đạt 1.522mm, mưa tập trung ở khu vực ba huyện biển (Ba Tri, Bình Đại, Thạnh Phú) và một phần huyện Chợ Lách, Châu Thành.

                Về nguy cơ ngập do nước biển dâng: khi nước biển dâng 75cm vào năm 2100 diện tích Bến Tre có nguy cơ ngập chiếm khoảng 29,17% diện tích tỉnh. Các huyện có nguy cơ ngập cao là Ba Tri (49,07% diện tích huyện), Bình Đại (38,70%); Giồng Trôm (31,05%) và Mỏ Cày Nam (26,05%).

                                                                                                                                                              Duy Anh

    02/03/2017 5:00 CHĐã ban hành
    Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ ngày 02/01/2020 đến ngày 08/01/2020Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ ngày 02/01/2020 đến ngày 08/01/2020
    Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ ngày 02/01/2020 đến ngày 08/01/2020
    09/01/2020 9:00 SAĐã ban hành
    Nghị định 135/2016/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định về thu tiền sử dụng đất, thu tiền thuê đất, thuê mặt nướcNghị định 135/2016/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định về thu tiền sử dụng đất, thu tiền thuê đất, thuê mặt nước
    Ngày 09/9/2016, Chính phủ ban hành Nghị định 135/2016/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định 45/2014/NĐ-CP về thu tiền sử dụng đất và Nghị định 46/2014/NĐ-CP về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước

    1. Sửa đổi, bổ sung Nghị định 45/2014/NĐ-CP về thu tiền sử dụng đất

         - Nghị định số 135/2016/NĐ-CP hướng dẫn xác định giá khởi điểm khi Nhà nước giao đất có thu tiền thông qua đấu giá quyền sử dụng đất như sau:

           + Đối với thửa đất hoặc khi đất có giá trị (tính theo giá đất trong Bảng giá đất) từ 30 tỷ đồng trở lên đối với thành phố trực thuộc trung ương; từ 10 tỷ đồng trở lên đối với miền núi, vùng cao; 20 tỷ đồng trở lên đối với tỉnh còn lại do Sở Tài nguyên và Môi trường xác định, chuyển Hội đồng thẩm định định giá đất tổ chức thẩm định, trình Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt.

           + Đối với thửa đất hoặc khu đất có giá trị (tính theo Bảng giá đất) dưới mức trên thì cơ quan tài chính xác định theo phương pháp hệ số điều chỉnh giá đất.

           - Bên cạnh đó, Nghị định 135/2016/NĐ-CP bổ sung quy định không miễn, giảm tiền sử dụng đất trong trường hợp đấu giá quyền sử dụng đất để giao đất cho người trúng đấu giá thuộc đối tượng được miễn, giảm tiền sử dụng đất.

    2. Sử đổi, bổ sung Nghị định 46/2014/NĐ-CP về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước

          Nghị định 135/2016/NĐ-CP sửa đổi quy định đơn giá thuê đất trong trường hợp đấu giá quyền sử dụng đất thuê. Theo đó:

         - Giá khởi điểm đấu giá quyền sử dụng đất thuê trả tiền thuê đất hàng năm do cơ quan tài chính xác định theo phương pháp hệ số Điều chỉnh giá đất.

         - Với đất trả tiền thuê đất một lần thì giá khởi điểm được xác định như sau:

         + Trường hợp giá trị (tính theo giá đất trong Bảng giá đất) thửa đất hoặc khu đất từ 30 tỷ đồng trở lên đối với thành phố trực thuộc trung ương; từ 10 tỷ đồng trở lên đối với các tỉnh miền núi, vùng cao; từ 20 tỷ đồng trở lên đối với tỉnh còn lại do Sở Tài nguyên và Môi trường xác định, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt.

          + Trường hợp giá trị (tính theo giá đất trong Bảng giá đất) thửa đất hoặc khu đất dưới mức trên thì giá khởi điểm là giá đất do cơ quan tài chính xác định theo phương pháp hệ số Điều chỉnh giá đất.

           Ngoài ra, Nghị định số 135/2016/NĐ-CP còn sửa đổi, bổ sung các quy định về: Xác định tiền thuê đất, thuê mặt nước; xử lý tiền bồi thường, giải phóng mặt bằng; đơn giá thuê đất; miễn, giảm tiền thuê đất, thuê mặt nước….

    Nghị định 135/2016/NĐ-CP có hiệu lực ngày 15/11/2016.

    N.K.Phương

    26/10/2016 9:00 SAĐã ban hành
    DIỆN TÍCH TỐI THIỂU ĐƯỢC TÁCH THỬA ĐỐI VỚI CÁC LOẠI ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẾN TREDIỆN TÍCH TỐI THIỂU ĐƯỢC TÁCH THỬA ĐỐI VỚI CÁC LOẠI ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẾN TRE
    UBND tỉnh Bến Tre đã ban hành Quyết định số: 26/QĐ-UBND ngày 17 tháng 12 năm 2008, về việc quy định diện tích đất tối thiểu được tách thửa, đối với các loại đất trên địa bàn tỉnh Bến Tre.



    Quyết định này được áp dụng cho tất cả các tổ chức, cá nhân khi thực hiện các thủ tục về đất đai có phát sinh việc tách nhập thửa đất, cụ thể được quy định như sau:
    - Diện tích đất tối thiểu sau khi tách thửa được qui định là 300 m2 đối với đất sản xuất nông nghiệp tại các xã, 200 m2 tại các thị trấn và 100 m2 tại các phường;
    - Diện tích đất ở tối thiểu sau khi tách thửa được quy định 36 m2 tại các phường, 50 m2 tại các thị trấn và 70 m2 tại các xã; Song song đó kèm thêm điều kiện là các thửa đất ở được phép tách thửa phải có cạnh nhỏ nhất bằng hoặc lớn hơn 4 m;
    - Đối với đất phi nông nghiệp không phải là đất ở thì việc tách hợp thửa đất căn cứ vào dự án đầu tư đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt nhưng phải đảm bảo phù hợp với quy hoạch sử dụng đất hoặc quy hoạch xây dựng đô thị chi tiết;
    Quyết định trên không áp dụng trong các trường hợp sau: Tách thửa do Nhà nước thu hồi đất, hiến tặng cho Nhà nước một phần diện tích để thực hiện dự án đầu tư, xây dựng nhà tình thương, tình nghĩa hoặc giảm diện tích do sạt lở tự nhiên; Tách thửa theo kết quả hòa giải thành về tranh chấp đất đai đã được uỷ ban nhân dân có thẩm quyền quyết định công nhận; Thực hiện quyết định hành chính giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai; Thực hiện bản án hoặc quyết định của tòa án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án; Các trường hợp tách thửa đã nộp đầy đủ thủ tục tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất trước ngày quyết định này có hiệu lực thi hành;
    Quyết định của UBND tỉnh cũng quy định rõ: không cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với trường hợp tự ý tách thửa đất thành hai hoặc nhiều thửa đất trong đó có một hoặc nhiều thửa đất có diện tích nhỏ hơn diện tích đất tối thiểu theo quy định này và cũng không được thực hiện các quyền của người sử dụng đất kể từ ngày quyết định này có hiệu lực thi hành nhưng được phép tách thửa có diện tích nhỏ hơn diện tích tối thiểu theo quy định đồng thời với việc xin hợp thửa đất đó với thửa đất liền kề tạo thành thửa đất khác có diện tích bằng hoặc lớn hơn diện tích tối thiểu.

    Q. Hân




    22/12/2008 12:00 SAĐã ban hành
    Công văn 1402/STNMT-CCQLĐĐ về việc báo cáo đánh giá tình hình quản lý, sử dụng đất đai ở địa phươngCông văn 1402/STNMT-CCQLĐĐ về việc báo cáo đánh giá tình hình quản lý, sử dụng đất đai ở địa phương
    Báo cáo đánh giá tình hình quản lý, sử dụng đất đai ở địa phương

    ​    Để có cơ sở báo cáo Tổng cục Quản lý đất đai đảm bảo chất lượng và thời gian, Sở Tài nguyên và Môi trường gửi đề cương yêu cầu báo cáo theo Công văn số 1678/TCQLĐĐ-CKSQLSDĐ, trong đó Sở đã có trình bày chi tiết các nội dung báo cáo theo chức năng của từng đơn vị, đề nghị các đơn vị quan tâm báo cáo và gửi về Sở Tài nguyên và Môi trường.

       File gửi theo địa chỉ: nthchau.stnmt@bentre.gov.vn

       Thời gian báo cáo định kỳ hàng năm: Báo cáo 6 tháng gửi trước ngày 10/6 và báo cáo năm gửi trước ngày 10/11.

    Tải nội dung: CV_1402_STNMT_CCQLDD.7z


    04/06/2018 10:00 SAĐã ban hành
    Thứ trưởng Nguyễn Xuân Cường: Tạo cơ hội để quản lý khai thác khoáng sản hiệu quả hơnThứ trưởng Nguyễn Xuân Cường: Tạo cơ hội để quản lý khai thác khoáng sản hiệu quả hơn
    “Nghị định 07 về sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 160 là cơ hội để Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam (ĐC&KS) điều chỉnh những nội dung còn bất cập trong quản lý tài nguyên khoáng sản.



    Đặc biệt, khi triển khai Nghị định 07 sẽ tạo ra một cơ sở vững chắc để công tác quản lý khai thác hiệu quả hơn”, Thứ trưởng Nguyễn Xuân Cường đã nhấn mạnh như vậy tại Hội nghị triển khai thực hiện Nghị định số 07/2009/NĐ-CP ngày 22/1/2009 của Chính phủ sáng 3/3. Tham dự Hội nghị có đại diện lãnh đạo các Tổng cục, Cục, Vụ, Viện thuộc Bộ TN&MT.
    Tại Hội nghị, Quyền Cục trưởng Cục ĐC&KS Việt Nam Nguyễn Văn Thuấn đã trình bày bản dự thảo kế hoạch để triển khai thực hiện Nghị định này. Theo đó, Bộ TN&MT chủ trì, phối hợp với các Bộ liên quan tổ chức Hội nghị quán triệt và tập huấn triển khai các quy định của Nghị định 07 đến UBND các tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương. Cụ thể, Cục ĐC&KS Việt Nam sẽ tham mưu, tổ chức để Bộ TN&MT chủ trì, phối hợp với Bộ Công Thương, Bộ Xây dựng xác định các khu vực vực đấu thầu thăm dò, đấu thầu khai thác khoáng sản và trình Thủ tướng Chính phủ quyết định phê duyệt khu vực dự trữ tài nguyên khoáng sản; chủ trì phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Công Thương, Bộ Xây dựng quy định nguyên tắc và phương pháp định giá tài nguyên khoáng sản làm cơ sở đấu giá khoáng sản; chủ trì phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Công Thương, Bộ Xây dựng trình Thủ tướng Chính phủ ban hành quy chế đấu thầu thăm dò, đấu thầu khai thác khoáng sản.
    Các đại biểu đã góp ý kiến sôi nổi vào bản dự thảo kế hoạch này và nhất trí cao với những đề xuất của Cục ĐC&KS Việt Nam, đồng thời khẳng định, các đơn vị liên quan trong Bộ TN&MT sẽ thường xuyên hợp tác với Cục để đẩy nhanh tiến độ triển khai Nghị định, dứt điểm hoàn thành những nhiệm vụ trọng tâm vào cuối năm nay.
    Kết luận buổi làm việc, Thứ trưởng Nguyễn Xuân Cường chỉ đạo Cục ĐC&KS Việt Nam phải khẩn trương biên soạn tài liệu tập huấn triển khai Nghị định ở 3 miền Bắc - Trung - Nam, thông qua hình thức giao ban vùng.

    Theo www.monre.gov.vn




    09/03/2009 12:00 SAĐã ban hành
    Thông tư số 14/2017/TT-BTNMT quy định về Định mức kinh tế - kỹ thuật đo đạc lập bản đồ địa chính, đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất, lập hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đấtThông tư số 14/2017/TT-BTNMT quy định về Định mức kinh tế - kỹ thuật đo đạc lập bản đồ địa chính, đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất, lập hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
    Thông tư số 14/2017/TT-BTNMT quy định về Định mức kinh tế - kỹ thuật đo đạc lập bản đồ địa chính, đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất, lập hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất

    Ngày 20 tháng 7 năm 2017, Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành Thông tư số 14/2017/TT-BTNMT quy định về Định mức kinh tế - kỹ thuật đo đạc lập bản đồ địa chính, đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất, lập hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

    Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 06 tháng 9 năm 2017 và thay thế Thông tư số 50/2013/TT-BTNMT ngày 27 tháng 12 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường.

    Thông tư quy định một số nội dung chuyển tiếp đối với các dự án, công trình về đo đạc lập bản đồ địa chính, đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất, lập hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đã triển khai thực hiện trước ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành như sau:

    - Đối với khối lượng công việc đã thực hiện trước ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành thì thực hiện theo dự án, thiết kế kỹ thuật dự toán đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt;

    - Đối với khối lượng công việc chưa thực hiện thì điều chỉnh bổ sung dự toán và trình cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định của Thông tư này./.

    TT 14.2017.BTNMTdinh_muc_KT-KT_do_dac_lap_BDDC_cap_GCN.pdf

    08/09/2017 10:00 SAĐã ban hành
    Công bố đường mực nước triều cao trung bình nhiều năm trên địa bàn tỉnh Bến TreCông bố đường mực nước triều cao trung bình nhiều năm trên địa bàn tỉnh Bến Tre
    Công bố đường mực nước triều cao trung bình nhiều năm trên địa bàn tỉnh Bến Tre

        Đường mực nước triều cao trung bình nhiều năm trên địa bàn tỉnh Bến Tre là tập hợp 223 điểm (111 điểm tính toán bổ sung trên cơ sở 112 điểm triều đặc trưng theo Quyết định 1790/QĐ-BTNMT ngày 06 tháng 6 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường) có độ cao địa hình trùng với giá trị mực nước triều cao trung bình nhiều năm.


    Tải nội dung văn bản: 2584_QD_UBND_MucNuocTrieuTB_2019.zip

       

    27/11/2019 9:00 SAĐã ban hành
    BẢN TIN TÌNH HÌNH XÂM NHẬP MẶN TỈNH BẾN TRE (Từ ngày 12 đến ngày 19/4/2016)BẢN TIN TÌNH HÌNH XÂM NHẬP MẶN TỈNH BẾN TRE (Từ ngày 12 đến ngày 19/4/2016)

    I/ TÓM TẮT TÌNH HÌNH XÂM NHẬP MẶN TỪ NGÀY 05 ĐẾN NGÀY 12/4/2016 :

    Diễn biến xâm nhập mặn cao nhất hàng ngày trên sông Cửa Đại và Cổ Chiên có xu thế giảm nhẹ ít biến đổi trong 02 ngày đầu, rồi tăng dần trong các ngày 07, 08, 09, sau đó giảm dần. Riêng trên sông Hàm Luông xâm nhập mặn có xu thế giảm nhẹ dần từ ngày 05 đến ngày 12.

    Độ mặn xâm nhập sâu nhất trên sông Hàm Luông và Cửa Đại ở mức giảm, thấp hơn so với tuần trước và còn cao hơn năm 2015 cùng thời kỳ. Riêng trên sông Cổ Chiên mặn xâm nhập sâu hơn so với tuần trước và sâu hơn so với năm 2015 cùng thời kỳ.

    Độ mặn cao nhất đo được tại các nơi như sau:

    * Trên sông Cửa Đại:

    + Tại Bình Đại (cảng cá Bình Đại - huyện Bình Đại): 22.5 ‰ ngày 09.

    + Tại Lộc Thuận (xã Lộc Thuận - huyện Bình Đại): 15.7 ‰  ngày 08.

    + Tại Giao Hoà (xã Giao Hoà - huyện Châu Thành): 5.6 ‰  ngày 07.

    + Tại Quới Sơn (ấp 2, xã Quới Sơn - huyện Châu Thành): 3.2 ‰ ngày 09.

    + Tại Long Hoà (xã Long Hoà - huyện Bình Đại): 3.9 ‰ ngày 05 (Sông Ba Lai).

    * Trên sông Hàm Luông:

    + Tại An Thuận (cảng cá Tiệm Tôm - huyện Ba Tri): 26.3 ‰ ngày 09.

    + Tại Sơn Đốc (xã Hưng Lễ - huyện Giồng Trôm): 21.8 ‰ ngày 07.

    + Tại Phú Khánh (xã Phú Khánh - huyện Thạnh Phú): 12.2 ‰ ngày 07 (trong kênh).

    + Tại Mỹ Hoá (phường 07 - Tp. Bến Tre): 9.0 ‰  ngày 05.

    + Tại An Hiệp (xã An Hiệp - huyện Châu Thành): 6.2 ‰ ngày 05.

    + Tại Vàm Mơn (xã Phú Sơn - huyện Chợ Lách): 2.9 ‰ ngày 05.

    + Tại Hoà Nghĩa (phà Tân Phú - huyện Chợ Lách): 0.7 ‰ ngày 05.

    * Trên sông Cổ Chiên:

    + Tại Bến Trại (xã An Thuận - huyện Thạnh Phú): 22.5 ‰ ngày 09.

    + Tại Hương Mỹ (xã Hương Mỹ - huyện Mõ Cày Nam): 10.6 ‰ ngày 06.

    + Tại Thành Thới B (xã Thành Thới B - huyện Mõ Cày Nam): 3.4 ‰  ngày 07, 08.

    + Tại Nhuận Phú Tân (xã Nhuận Phú Tân - huyện Mõ Cày Bắc): 1.1 ‰  ngày 07.

    Độ mặn 4 ‰ trên các sông chính đã xâm nhập đến:

    - Sông Cửa Đại: xã Qưới Sơn (huyện Châu Thành), (cách cửa sông khoảng 44 - 46km).

    - Sông Hàm Luông: xã Tiên Thủy (huyện Châu Thành), (cách cửa sông khoảng 60 - 62km).

    - Sông Cổ Chiên: xã Thành Thới B (huyện Mõ Cày Nam), (cách cửa sông khoảng 44 - 46km).

    Độ mặn 1 ‰ trên các sông chính đã xâm nhập đến:

    - Sông Cửa Đại: xã An Khánh - Phú Túc (huyện Châu Thành), (cách cửa sông khoảng 54 - 56km).

    - Sông Hàm Luông : xã Hòa Nghĩa (huyện Chợ Lách) - Tân Phú (huyện Châu Thành), (cách cửa sông khoảng 70 - 72km).

    - Sông Cổ Chiên: Nhuận Phú Tân (huyện Mõ Cày Bắc), (cách cửa sông khoảng 54 - 56km).

    II / DỰ BÁO TÌNH HÌNH XÂM NHẬP MẶN TỪ NGÀY 12 ĐẾN NGÀY 19/4/2016:

    Diễn biến xâm nhập mặn cao nhất hàng ngày có xu thế giảm nhẹ dần từ ngày 12 đến ngày 17, sau đó tăng dần.

    II.1. Độ mặn xâm nhập sâu nhất xuất hiện trong các ngày 12, 13 ở mức giảm, thấp hơn so với tuần qua và tương đương năm 2015 cùng thời kỳ.

    * Trên sông Cửa Đại:

    + Tại Bình Đại (cảng cá Bình Đại - huyện Bình Đại): Smax từ  19.0 ‰ đến 22.0 ‰.

    + Tại Lộc Thuận (xã Lộc Thuận - huyện Bình Đại): Smax từ  12.0 ‰ đến 15.0 ‰.

    + Tại Giao Hoà (xã Giao Hoà - huyện Châu Thành): Smax từ  3.0 ‰ đến 5.0 ‰.

    + Tại Quới Sơn (ấp 2, xã Quới Sơn - huyện Châu Thành): Smax từ  1.0 ‰ đến 2.5 ‰.

    + Tại Long Hoà (xã Long Hoà - huyện Bình Đại): Smax từ  2.0 ‰ đến 4.0 ‰ (Sông Ba Lai).

    * Trên sông Hàm Luông:

    + Tại An Thuận (Tiệm Tôm - huyện Ba Tri): Smax từ 23.0 ‰ đến 26.0 ‰.

    + Tại Sơn Đốc (xã Hưng Lễ - huyện Giồng Trôm): Smax từ 16.0 ‰ đến 19.0 ‰.

    + Tại Phú Khánh (xã Phú Khánh - huyện Thạnh Phú): Smax từ 8.0 ‰ đến 11.0 ‰ (trong kênh).

    + Tại Mỹ Hoá (phường 07 - Tp. Bến Tre): Smax từ  5.0 ‰ đến 7.0 ‰.

    + Tại An Hiệp (xã An Hiệp - huyện Châu Thành): Smax từ  2.0 ‰ đến 3.5 ‰.

    + Tại Vàm Mơn (xã Phú Sơn - huyện Chợ Lách): Smax từ 0.1 ‰ đến 1.5 ‰.

    + Tại Hoà Nghĩa (phà Tân Phú - huyện Chợ Lách): Smax từ 0.1 ‰ đến 0.5 ‰.

    * Trên sông Cổ Chiên:

    + Tại Bến Trại (xã An Thuận - huyện Thạnh Phú):: Smax từ  19.0 ‰ đến 22.0 ‰.

    + Tại Hương Mỹ (xã Hương Mỹ - huyện Mõ Cày Nam): Smax từ  5.0 ‰ đến 8.0 ‰.

    + Tại Thành Thới B (xã Thành Thới B - huyện Mõ Cày Nam): Smax từ 0.5 ‰ đến 2.0 ‰.

    + Tại Nhuận Phú Tân (xã Nhuận Phú Tân - huyện Mõ Cày Bắc): Smax từ  0.1 ‰ đến 1.0 ‰.

    Độ mặn 4 ‰ trên các sông chính có khả năng xâm nhập đến:

    - Sông Cửa Đại: xã Giao Hòa (huyện Châu Thành), (cách cửa sông khoảng 40 - 42km).

    - Sông Hàm Luông: xã Sơn Hòa (huyện Châu Thành) , (cách cửa sông khoảng 52 - 54km).

    - Sông Cổ Chiên: xã Cẩm Sơn - Thành Thới A (huyện Mõ Cày Nam), (cách cửa sông khoảng 36 - 38km).

    Độ mặn 1 ‰ trên các sông chính có khả năng xâm nhập đến:

    - Sông Cửa Đại: xã Tân Thạch (huyện Châu Thành), (cách cửa sông khoảng 50 - 52km).

    - Sông Hàm Luông : xã Phú Mỹ (huyện Mõ Cày Bắc) - Tiên Thủy (huyện Châu Thành), (cách cửa sông khoảng 60 - 62km).

    - Sông Cổ Chiên: Khánh Thạnh Tân (huyện Mõ Cày Bắc), (cách cửa sông khoảng 47 - 49km).

    II.2. Xâm nhập mặn có khả năng giảm thấp nhất trong các ngày 15 đến 17. Dự báo trong các ngày này độ mặn cao nhất tại các nơi như sau:

    * Trên sông Cửa Đại:

    + Tại Bình Đại (cảng cá Bình Đại - huyện Bình Đại): Smax từ  16.0 ‰ đến 19.0 ‰.

    + Tại Lộc Thuận (xã Lộc Thuận - huyện Bình Đại): Smax từ  8.0 ‰ đến 11.0 ‰.

    + Tại Giao Hoà (xã Giao Hoà - huyện Châu Thành): Smax từ  1.5 ‰ đến 3.5 ‰.

    + Tại Quới Sơn (ấp 2, xã Quới Sơn - huyện Châu Thành): Smax từ  0.5 ‰ đến 1.5 ‰.

    + Tại Long Hoà (xã Long Hoà - huyện Bình Đại): Smax từ  1.0 ‰ đến 2.0 ‰ (Sông Ba Lai).

    * Trên sông Hàm Luông:

    + Tại An Thuận (Tiệm Tôm - huyện Ba Tri): Smax từ 20.0 ‰ đến 23.0 ‰.

    + Tại Sơn Đốc (xã Hưng Lễ - huyện Giồng Trôm): Smax từ 15.0 ‰ đến 16.0 ‰.

    + Tại Phú Khánh (xã Phú Khánh - huyện Thạnh Phú): Smax từ 6.0 ‰ đến 9.0 ‰ (trong kênh).

    + Tại Mỹ Hoá (phường 07 - Tp. Bến Tre): Smax từ  3.0 ‰ đến 5.0 ‰.

    + Tại An Hiệp (xã An Hiệp - huyện Châu Thành): Smax từ  0.5 ‰ đến 2.0 ‰.

    + Tại Vàm Mơn (xã Phú Sơn - huyện Chợ Lách): Smax từ 0.1 ‰ đến 1.0 ‰.

    + Tại Hoà Nghĩa (phà Tân Phú - huyện Chợ Lách): Smax từ 0.1 ‰ (không mặn).

    * Trên sông Cổ Chiên:

    + Tại Bến Trại (xã An Thuận - huyện Thạnh Phú):: Smax từ  15.0 ‰ đến 18.0 ‰.

    + Tại Hương Mỹ (xã Hương Mỹ - huyện Mõ Cày Nam): Smax từ  2.5 ‰ đến 5.0 ‰.

    + Tại Thành Thới B (xã Thành Thới B - huyện Mõ Cày Nam): Smax từ 0.1 ‰ đến 0.5 ‰.

    + Tại Nhuận Phú Tân (xã Nhuận Phú Tân - huyện Mõ Cày Bắc): Smax từ  0.1 ‰ (không mặn).

    Độ mặn 4 ‰ trên các sông chính có khả năng giảm đến:

    - Sông Cửa Đại: xã Phú Thuận (huyện Bình Đại), (cách cửa sông khoảng 32 - 34km).

    - Sông Hàm Luông: xã Mỹ Thạnh An - Phường 7 (Tp Bến Tre), (cách cửa sông khoảng 46 - 48km).

    - Sông Cổ Chiên: xã Hương Mỹ (huyện Mõ Cày Nam), (cách cửa sông khoảng 28 - 30km).

    Độ mặn 1 ‰ trên các sông chính có khả năng giảm đến:

    - Sông Cửa Đại: xã Qưới Sơn (huyện Châu Thành), (cách cửa sông khoảng 44 - 46km).

    - Sông Hàm Luông: xã An Hiệp - Tiên Thủy (huyện Châu Thành), (cách cửa sông khoảng 56 - 58km).

    - Sông Cổ Chiên: Thành Thới A (huyện Mõ Cày Nam), (cách cửa sông khoảng 38 - 40km).

    * Cấp độ rủi ro thiên tai do xâm nhập mặn trong đợt này trên sông Cửa Đại và Cổ Chiên ở cấp độ 1, sông Hàm Luông còn xấp xỉ cấp độ 2.

    * Ghi chú: Độ mặn đạt mức nhỏ nhất sau khi nước ròng thấp trong khoảng thời gian từ 60 đến 180 phút. Bà con nhân dân nên lưu ý thử nước trước khi sử dụng.

     Ban_do_man 12-19.4.2016.png

     Ban_do_man 12-19.4.2016.png

    14/04/2016 3:00 CHĐã ban hành
    TẠM NGƯNG CẤP PHÉP KHẢO SÁT, THĂM DÒ, KHAI THÁC KHOÁNG SẢN CÁT LÒNG SÔNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẾN TRETẠM NGƯNG CẤP PHÉP KHẢO SÁT, THĂM DÒ, KHAI THÁC KHOÁNG SẢN CÁT LÒNG SÔNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẾN TRE
    Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre vừa thông báo tạm ngưng cấp phép đối với hoạt động khảo sát, thăm dò, khai thác khoáng sản cát lòng sông trên địa bàn tỉnh Bến Tre.


    Theo Thông báo số 190/TB-UBND ngày 23 tháng 10 năm 2009 của Ủy ban nhân dân tỉnh bến Tre về việc tạm ngưng cấp phép khảo sát, thăm dò, khai thác khoáng sản cát lòng sông trên địa bàn tỉnh Bến Tre, trong thời gian qua, thực hiện những quy định của pháp luật khoáng sản, bảo vệ môi trường, Nghị quyết Hội đồng nhân dân tỉnh Bến Tre về Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản cát lòng sông tỉnh Bến Tre đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 đã xác định được vị trí, diện tích khu thăm dò, khai thác và khu vực cấm, tạm thời cấm hoạt động thăm dò, khai thác khoáng sản cát lòng sông, đã tạo điều kiện để doanh nghiệp, hợp tác xã và cá nhân có nơi khai thác cát san lấp đúng quy định, nhằm hạn chế tối đa việc khai thác cát trái phép gây sạt lỡ bờ sông và ô nhiễm môi trường, đồng thời đáp ứng nhu cấu cát san lấp phục vụ các công trình công cộng và trong nhân dân.
    Tuy nhiên, vẫn còn hiện tượng khai thác cát sông trái phép, không đúng quy định, gây sạt lở bờ sông ở một vài nơi và doanh nghiệp, hợp tác xã, cá nhân khai thác cát còn lãng phí, chưa tận thu tối đa nguồn tài nguyên cát một cách hiệu quả và bền vững làm cho nguồn tài nguyên cát sông có nguy cơ ngày càng cạn kiệt, khó phục hồi.
    Để việc thăm dò, khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên cát sông mang tính bền vững, hạn chế tối đa việc lãng phí, thất thoát và tạo điều kiện các doanh nghiệp, hợp tác xã và cá nhân khai thác cát hiệu quả hơn, Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre đã thông báo nội dung như sau:
    1. Tạm ngưng cấp phép khảo sát, thăm dò, khai thác khoáng sản cát lòng sông trên địa bàn tỉnh Bến Tre;
    2. Các doanh nghiệp, hợp tác xã đã được cấp phép khai thác, tiếp tục thực hiện đúng theo nội dung quy định giấy phép đã cấp;
    3. Sở Tài nguyên và Môi trường phối hợp với các ngành liên quan và các huyện, thành phố xây dựng phương án đấu thầu thăm dò, khai thác khoáng sản cát lòng sông trên địa bàn tỉnh Bến Tre giai đoạn 2010 – 2015 đối với các khu vực mỏ cát đã được phê duyệt theo quy hoạch, trình Ủy ban nhân tỉnh phê duyệt vào đầu quý II năm 2010./.
    Lê Uyên



    28/10/2009 12:00 SAĐã ban hành
    1 - 30Next
    Ảnh
    Video
    SỞ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG TỈNH BẾN TRE
    Chịu trách nh​iệm chính: Ông Nguyễn Văn Chinh - Chức vụ: Giám đốc Sở TN và MT | Giấy phép số: 139/GP - BC, ngày 16 tháng 4 năm 2007
    Địa chỉ trụ sở: Số 01 - Trần Quốc Tuấn - Phường 2 - Thành phố Bến Tre - Tỉnh Bến Tre
    Điện thoại: 0275.3822210 - 0275.3211494 - Fax: 0275.3813176; Email: stnmt@bentre.gov.vn