Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksTin tức sự kiện

 
Tin tức sự kiện - Biển và Hải đảo
 
Công bố đường mực nước triều cao trung bình nhiều năm trên địa bàn tỉnh Bến Tre 
 
Dự thảo Báo cáo xác định chiều rộng hành lang bảo vệ bờ biển 
 
Dự thảo danh mục khu vực thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển tỉnh Bến Tre 
 
Thực hiện Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016, để tăng cường công tác quản lý quy hoạch, đầu tư xây dựng và đảm bảo khai thác hiệu quả, bền vững quỹ đất ven biển, ứng phó, thích nghi với biến đổi khí hậu và nước biển dâng, UBND tỉnh đã có ý kiến chỉ đạo tại Công văn số 585/UBND-KT ngày 20/02/2017 về việc thực hiện quy định tại Điều 79 của Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo 
 
Ngày 04/10/2017, Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre ký Quyết định số 52/2017/QĐ-UBND ban hành Quy chế phối hợp quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển tỉnh Bến Tre 
 
Từ ngày 01/7/2016, Luật Tài nguyên môi trường biển và hải đảo có hiệu lực. Đây là thời điểm đánh dấu lần đầu tiên “luật hóa” quy định về phương thức quản lý mới trên biển là “quản lý tổng hợp” và nó được kỳ vọng sẽ đem lại hiệu quả trong sử dụng tài nguyên và quản lý môi trưởng biển, đảo. 
 
Góp ý Quy chế Phối hợp quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo tỉnh Bến Tre  
 
Ngày 20/02/2017, UBND tỉnh ban hành Công văn số 585/UBND-KT chỉ đạo các sở, ban ngành và các huyện ven biển về việc thực hiện quy định tại Điều 79 của Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo. 
 
Đới bờ hay còn gọi là vùng ven biển, bao gồm vùng biển ven bờ có ranh giới ngoài cách bờ khoảng 6 hải lý và vùng đất ven biển là các xã, phường, thị trấn giáp biển. Phân vùng chức năng đới bờ nhằm hướng tới khai thác, sử dụng hợp lý các tài nguyên và không gian đới bờ; giảm thiểu xung đột lợi ích giữa các ngành kinh tế; bảo vệ, duy trì và khôi phục các hệ sinh thái đới bờ 
 
Sở Tài nguyên và Môi trường vừa công bố quyết định của UBND tỉnh Bến Tre về việc thành lập Chi cục Biển và Hải đảo Bến Tre và bổ nhiệm chức vụ lãnh đạo Chi cục 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Từ ngày 08/6/2020 đến ngày 15/6/2020)Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Từ ngày 08/6/2020 đến ngày 15/6/2020)
Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Từ ngày 08/6/2020 đến ngày 15/6/2020)
16/06/2020 10:00 SAĐã ban hành
Phó Thủ tướng Trương Vĩnh Trọng: Phải tập trung xử lý dứt điểm các vụ khiếu kiện kéo dàiPhó Thủ tướng Trương Vĩnh Trọng: Phải tập trung xử lý dứt điểm các vụ khiếu kiện kéo dài
Sáng 17/11, tại Trụ sở Chính phủ, Phó Thủ tướng Trương Vĩnh Trọng chủ trì cuộc họp với lãnh đạo Thanh tra Chính phủ, Bộ Tư pháp và Bộ Công an về những biện pháp giải quyết các vụ việc khiếu kiện kéo dài.



Theo kết quả rà soát của các cơ quan chức năng, thời gian qua, cả nước có 42 vụ việc khiếu nại, tố cáo, kéo dài; trong đó có 17 vụ việc khiếu kiện về đất đai đã được các cơ quan có thẩm quyền của địa phương và Trung ương xem xét giải quyết theo trình tự của pháp luật, bảo đảm thấu tình, đạt lý; nhưng công dân không chấp hành và tiếp tục khiếu kiện kéo dài nhiều năm. Đáng chú ý 15 trong tổng số 17 vụ việc trên đã được các cơ quan ở Trung ương có ý kiến chỉ đạo. Tuy nhiên, một số vụ việc đã có ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Văn phòng Chính phủ nhưng các địa phương xem xét giải quyết còn chậm trễ. Có 10 vụ việc tại 7 tỉnh, thành phố liên quan đến đòi lại nhà đất, đền bù, thu hồi đất; tranh chấp quyền sử dụng đất; thanh toán tài sản trưng mua; kỷ luật buộc thôi việc... đã được các cơ quan có thẩm quyền tại Trung ương đề nghị chính quyền địa phương rà soát, xem xét lại.
Phát biểu chỉ đạo tại cuộc họp, Phó Thủ tướng Trương Vĩnh Trọng yêu cầu các cơ quan chức năng cần có ngay các biện pháp tập trung xử lý dứt điểm các vụ việc trên, không để tồn động kéo dài. Đối với 17 vụ việc đã được các cơ quan có thẩm quyền của địa phương và Trung ương xem xét, các cơ quan chức năng thống nhất để có văn bản từ chối giải quyết tiếp vì sự việc đã được xử lý, giải quyết thấu tình đạt lý, đúng chính sách của luật phát hiện hành; đồng thời, yêu cầu công dân chấp hành các quy định giải quyết của các cơ quan có thẩm quyền, chấm dứt khiếu nại. Đối với 25 vụ việc khác (15 vụ việc đã được các cơ quan có thẩm quyền ở Trung ương nhiều lần có ý kiến chỉ đạo và 10 vụ việc tại 7 tỉnh, thành phố), Phó Thủ tướng chỉ đạo Bộ Tư pháp, Thanh tra Chính phủ, Bộ Công an... tiếp tục phối hợp chặt chẽ với chính quyền các địa phương rà soát, xem xét và sớm giải quyết dứt điểm tại địa phương.

Theo www.monre.gov.vn



20/11/2008 12:00 SAĐã ban hành
Ngày Nước thế giới 2018 - “Câu trả lời là trong thiên nhiên”Ngày Nước thế giới 2018 - “Câu trả lời là trong thiên nhiên”
“Chúng ta có thể giảm lũ lụt, hạn hán và ô nhiễm nước như thế nào? Bằng cách sử dụng các giải pháp chúng ta tìm thấy trong thiên nhiên”. Đó là thông điệp ngày Nước thế giới năm 2018 mà Ủy ban về nước của Liên hiệp quốc (UN-Water) muốn gửi đến chúng ta.

      "Chúng ta có thể giảm lũ lụt, hạn hán và ô nhiễm nước như thế nào? Bằng cách sử dụng các giải pháp chúng ta tìm thấy trong thiên nhiên". Đó là thông điệp ngày Nước thế giới năm 2018 mà Ủy ban về nước của Liên hiệp quốc (UN-Water) muốn gửi đến chúng ta.

Ngay_nuoc_the_gioi_2018_worldwaterday.png
Nguồn: worldwaterday.org

      Ngày Nước thế giới 22/3 hàng năm tập trung quan tâm vào những vấn đề quan trọng của tài nguyên nước và nước sạch. Năm 2018, UN-Water chọn chủ đề là “Nước với thiên nhiên” với chiến dịch vận động, nâng cao nhận thức trong việc tìm, áp dụng các giải pháp dựa vào tự nhiên trước các thách thức về nước mà chúng ta đối mặt trong thế kỷ 21.


          Giải pháp tiêu biểu dựa vào tự nhiên mà UN-Water đưa ra như:


           -   Trồng cây để bổ sung cho rừng; trồng cây bản địa, cây bụi trong vùng đệm, hành lang bảo vệ dọc theo các dòng nước;

          -    Kết nối lại các dòng sông với vùng ngập lũ và phục hồi đất ngập nước.


           Theo UN-Water, các giải pháp dựa vào tự nhiên có thể giảm đáng kể ô nhiễm, bảo vệ đất khỏi xói mòn. Việc áp dụng giải pháp dựa vào tự nhiên chắc chắn tạo ra "cơ sở hạ tầng xanh", các hệ thống tự nhiên hay bán tự nhiên này mang lại cho chúng ta những lợi ích tương đương hoặc tương tự như cơ sở hạ tầng xám thông thường. Bên cạnh đó, giải pháp dựa vào tự nhiên thường tạo ra lợi ích ngoài các dịch vụ liên quan đến nước, ví dụ đất ngập nước được dùng để xử lý nước thải, cung cấp sinh khối cho sản xuất năng lượng, cải thiện đa dạng sinh học và tạo không gian giải trí, du lịch và việc làm liên quan. Hầu hết giải pháp dựa vào tự nhiên, bao gồm cả cảnh quan đô thị thì chủ yếu liên quan đến việc quản lý thực vật, đất hoặc đất ngập nước, bao gồm sông và hồ. Giải pháp dựa vào tự nhiên không phải là thuốc chữa bách bệnh đối với những thách thức liên quan đến nước mà chúng ta phải đối mặt trong tình trạng gia tăng dân số toàn cầu, nhưng đây là một trong những cách bền vững và tiết kiệm chi phí để giúp cân bằng lại chu trình nước, giảm nhẹ tác động của biến đổi khí hậu, cải thiện sức khoẻ và sinh kế con người.

          Các thông tin về hiện trạng và cảnh báo liên quan đến nước trên thế giới cũng được UN-Water đưa ra:

         + Hiện nay, khoảng 2,1 tỷ người không tiếp cận các dịch vụ nước sạch được quản lý an toàn; Đến năm 2050, dân số thế giới sẽ tăng khoảng 2 tỷ người và nhu cầu nước toàn cầu có thể lên đến 30% so với hiện nay;
         + Nông nghiệp hiện chiếm 70% lượng nước sử dụng toàn cầu, chủ yếu là để tưới tiêu; Công nghiệp chiếm 20% trên tổng số, tập trung vào năng lượng và sản xuất; 10% còn lại là nước sử dụng trong sinh hoạt gia đình.
         + Khoảng 1,9 tỷ người sống trong các khu vực có khả năng khan hiếm nước nghiêm trọng. Đến năm 2050, con số này có thể tăng lên khoảng 3 tỷ người;
        + Trên toàn cầu, hơn 80% nước thải sinh ra từ hoạt động xã hội chảy ngược trở lại môi trường mà không được xử lý hoặc tái sử dụng.
       +   Ít nhất 65% diện tích đất rừng bị suy thoái; từ năm 1900 đến nay, khoảng 64-71% diện tích đất ngập nước tự nhiên mất đi do hoạt động của con người.

          Tỉnh Bến Tre có tiềm năng trong việc ứng dụng các giải pháp dựa vào tự nhiên để góp phần bảo vệ, sử dụng hiệu quả nguồn nước trên địa bàn tỉnh. Có thể xem Bến Tre như là vùng đất ngập nước rộng lớn với hệ thống sông, rạch, kênh, mương dầy đặc; bãi bồi, rừng ngập mặn ven biển, Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Thạnh Phú, Khu bảo tồn sân chim Vàm Hồ; hồ chứa nước ngọt…Bên cạnh đó là hành lang thực vật bản địa ven sông (như bần, dừa nước, sậy,…) và ven biển (mắm, đước,…).

DSC_0369_2018.JPGIMG_1634_201.jpg

Hình: Hành lang thực vật bản địa - bần, dừa nước ven sông tỉnh Bến Tre

(Ảnh: Duy Anh)

       Trước nhu cầu sử dụng nước để phát huy thế mạnh kinh tế của tỉnh về nuôi trồng thủy sản, trồng trọt trong thời gian tới; áp lực nước thải từ phát triển công nghiệp và thách thức liên quan đến khô hạn, xâm nhập mặn thì bên cạnh các biện pháp công trình thủy lợi trọng điểm, việc quản lý và bảo vệ, phát triển "cơ sở hạ tầng xanh" hiện có của tỉnh là một trong những giải pháp cần được quan tâm hơn. Đây sẽ là giải pháp hỗ trợ tích cực trong phát huy hiệu quả các công trình thủy lợi, cải thiện chất lượng nước, bảo tồn đa dạng sinh học và ít tốn kém chi phí trong điều kiện hạn chế về nguồn lực, giải pháp phù hợp với tinh thần Nghị quyết 120/NQ-CP của Chính phủ về phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long thích ứng biến đổi khí hậu.

(Nguồn thông tin ngày Nước thế giới 2018 - website: worldwaterday.org)

Huỳnh Lê Duy Anh - P. Quản lý tài nguyên và Khí tượng thủy văn


13/03/2018 11:00 SAĐã ban hành
Hội nghị triển khai thực hiện Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu khu vực miền Nam; Cơ hội, thách thức và hành động ứng phó của Bến TreHội nghị triển khai thực hiện Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu khu vực miền Nam; Cơ hội, thách thức và hành động ứng phó của Bến Tre
Ngày 18 tháng 8 năm 2017, tại Thành phố Hồ Chí Minh, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tổ chức Hội nghị tập huấn triển khai thực hiện Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu

           Ngày 18 tháng 8 năm 2017, tại Thành phố Hồ Chí Minh, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tổ chức Hội nghị tập huấn triển khai thực hiện Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu. Hội nghị do Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì cùng Đại diện Cục Biến đổi khí hậu, Viện Khí tượng thủy văn và Biến đổi khí hậu và Đại biểu tham dự đến từ các Sở Tài nguyên và Môi trường, Công thương, Kế hoạch và Đầu tư, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn của 19 tỉnh, thành phố khu vực miền Nam.

            Đại biểu tỉnh Bến Tre tham dự Hội nghị là các thành viên Tổ giúp việc cho Ban Chỉ đạo ứng phó biến đổi khí hậu tỉnh thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường, Công thương và Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

21.8-Paris_-_HCM_workshop_2017.png 

Hình: Ông Võ Văn Ngoan - Sở Tài nguyên và Môi trường chia sẻ kinh nghiệm ứng phó biến đổi khí hậu tỉnh Bến Tre (Ảnh: Duy Anh)

        Hội nghị đã phổ biến các thông tin liên quan đến kế hoạch thực hiện Thỏa thuận Paris của Việt Nam theo Quyết định 2053/QĐ-TTg ngày 28/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ; hướng dẫn xây dựng kế hoạch cấp tỉnh thực hiện Thỏa thuận Paris. Đồng thời, Hội nghị cung cấp các thông tin về kịch bản biến đổi khí hậu và tác động đến ĐBSCL; công tác quản lý Nhà nước về biến đổi khí hậu; gắn kết tăng trưởng xanh, giảm nhẹ rủi ro thiên tai với ứng phó biến đổi khí hậu để phát triển bền vững; và trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm ứng phó biến đổi khí hậu giữa các tỉnh, thành phố trong khu vực.

        Theo Cục Biến đổi khí hậu - Bộ Tài nguyên và Môi trường: trong khuôn khổ Thỏa thuận Paris, Việt Nam sẽ thực hiện "Đóng góp do quốc gia tự quyết" (NDC) đến năm 2030 với hai hợp phần chính: về giảm nhẹ cam kết giảm 8% tổng lượng phát thải khí nhà kính so với kịch bản phát thải thông thường và có thể tăng lên 25% khi nhận được sự hỗ trợ của quốc tế; về thích ứng sẽ tiếp tục thực hiện các chương trình, dự án thuộc Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu nhằm tăng khả năng chống chịu, bảo vệ cuộc sống và sinh kế nhân dân; Kế hoạch thực hiện Thỏa thuận Paris của Việt Nam thực hiện 05 mục tiêu cụ thể trong NDC: (1) Thực hiện cam kết giảm phát thải khí nhà kính; (2) Thực hiện cam kết thích ứng biến đổi khí hậu; (3) Chuẩn bị nguồn lực con người, công nghệ và tài chính; (4) Thiết lập hệ thống công khai, minh bạch nhằm giám sát, đánh giá các nội dung thực hiện của mục tiêu (1), (2) và (3); mục tiêu (5) là hoàn thiện thể chế, chính sách tạo môi trường thuận lợi và tập trung nỗ lực quốc gia cho ứng phó biến đổi khí hậu; Khung thời gian của Kế hoạch thực hiện Thỏa thuận Paris đến năm 2030, trong đó: giai đoạn 2016 - 2020 tiếp tục thực hiện các hoạt động ứng phó biến đổi khí hậu đã được phê duyệt, chuẩn bị về mặt thể chế chính sách, nguồn lực nhằm đến năm 2020 sẵn sàng thực hiện các nghĩa vụ do Thỏa thuận Paris quy định; giai đoạn 2021 - 2030 thực hiện các nội dung trong NDC và các nhiệm vụ mới theo quy định của thỏa thuận Paris.

            Bến Tre là một trong những tỉnh được nhận định chịu tác động mạnh của biến đổi khí hậu, tỉnh đã xây dựng Kế hoạch hành động ứng phó biến đổi khí hậu giai đoạn 2016 - 2020 và cụ thể các nhiệm vụ thực hiện thỏa thuận Paris cho giai đoạn 2017 - 2020 trên cơ sở Quyết định số 2053/QĐ-TTg ngày 28/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ. Theo đánh giá của Ban Chỉ đạo ứng phó biến đổi khí hậu (Báo cáo số 01/BC-BCĐBĐKH ngày 25/7/2017), sau thời gian thực hiện các nhiệm vụ ứng phó biến đổi khí hậu đến tháng 6/2017 tỉnh đã đạt những kết quả tích cực, nhưng vẫn tồn tại một số khó khăn, hạn chế và những thách thức, cơ hội trong thời gian tới, cụ thể như sau:

           Hạn chế, khó khăn: công tác ứng phó còn bị động, lúng túng; sự quan tâm chưa đúng mức của một số cán bộ, công chức, một bộ phận người dân chưa tích cực tham gia bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu; về nguồn nhân lực, tỉnh đã thành lập Tổ giúp việc cho Ban Chỉ đạo đều là cán bộ kiêm nhiệm.

          Cơ hội hỗ trợ, hợp tác quốc tế; ứng dụng công nghệ tiên tiến trong ứng phó biến đổi khí hậu: tỉnh đã và đang tranh thủ được tài trợ Quốc tế, hỗ trợ của Trung ương triển khai các công trình trọng điểm ứng phó biến đổi khí như Dự án Quản lý nước tỉnh Bến Tre (ứng dụng công nghệ Nhật trong quản lý nước và ứng phó hạn mặn); Xây dựng hệ thống quan trắc chất lượng nước và cảnh báo mặn tự động (Deltares Hà Lan tư vấn thực hiện); Cấp nước sinh hoạt Cù lao Minh trong điều kiện biến đổi khí hậu; Dự án Đê biển Thạnh Phú; Củng cố, nâng cấp đê biển huyện Bình Đại; Cân đối ngân sách tỉnh thực hiện dự án Hồ chứa nước ngọt Kênh lấp huyện Ba Tri; Và cơ hội phát triển điện năng lượng mặt trời, điện gió góp phần giảm phát thải khí nhà kính.

         Thách thức: các tác động của biến đổi khí hậu ngày càng bất thường và có xu hướng gia tăng về cường độ; nguy cơ xâm nhập mặn, khô hạn kéo dài, sạt lở ven biển, triều cường,…vẫn tiếp diễn, mặt khác các công trình trọng điểm ứng phó chưa hoàn thành, khép kín; thêm vào đó, khả năng thông tin, cảnh báo, dự báo mặn còn hạn chế và sự không ổn định của nước thượng nguồn sông Mekong gia tăng áp lực lên công tác ứng phó biến đổi khí hậu.

Huỳnh Lê Duy Anh - Phòng QLTN&KTTV


22/08/2017 8:00 SAĐã ban hành
Khung chính sách bồi thường, hỗ trợ tái định cư (RPF)Khung chính sách bồi thường, hỗ trợ tái định cư (RPF)
Để thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và khôi phục đời sống những người bị ảnh hưởng bởi Dự án Quản lý nước Bến Tre vay vốn Tổ chức JICA - Nhật Bản (sau đây gọi tắt là Dự án B-SWAMP) do bị thu hồi đất, thiệt hại nhà cửa và những tài sản khác, Chính phủ Việt Nam (GoV) với Quyết định số 2418/QĐ-TTg, ngày 12/12/2016 đã phê duyệt Khung Chính sách Bồi thường, hỗ trợ, Tái định cư (sau đây gọi là Khung chính sách tái định cư) của Dự án

     1. Tóm tắt nội dung dự án 

      Trước tình hình biến đổi khí hậu phức tạp, sự ấm dần lên của trái đất dẫn đến hiện tượng tan băng ở 2 cực, sự dâng cao mực nước biển dẫn đến ngập các vùng đất thấp ở các quốc gia nằm ven biển, khí hậu thay đổi khắc liệt mưa, hạn bất thường và lưu lượng sông Mêkông giảm đáng kể do hiện tại và trong tương lai các quốc gia nằm thượng lưu như Trung Quốc, Thái Lan, Lào…có kế hoạch đẩy mạnh phát triển thuỷ điện để thay thế cho các nguồn năng lượng đang ngày một cạn kiệt. Tất cả các yêu tố trên dẫn đến ngập, lụt, hạn hán, xâm nhập mặn khốc liệt, thiệt hại nghiêm trọng đến sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Bến Tre nói riêng và Đồng bằng sông Cửu Long nói chung.

       Bộ Nông nghiệp và PTNT cùng UBND tỉnh Bến Tre xây dựng dự án "Quản lý nước Bến Tre" được điều chỉnh từ dự án "Hệ thống thủy lợi Bến Tre" (JICA3) với quy mô từ 03 tỉnh (Trà Vinh, Vĩnh Long, Bến Tre), tập trung cho 01 tỉnh (Bến Tre), nhằm mục tiêu chủ động kiểm soát mặn, nước biển dâng, lấy nước, tiêu nước, lấy phù sa, thau chua, rửa phèn phục vụ sản xuất nông nghiệp kết hợp nuôi trồng thủy sản, tạo địa bàn phân bố dân cư & kết hợp giao thông thủy bộ, tạo thành mạng lưới giao thông thủy bộ liên tục trong vùng, hoàn thiện khép kín hệ thống thủy lợi của tỉnh nhằm mục tiêu phát triển vùng kinh tế, xã hội trọng điểm của tỉnh Bến Tre, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia.

      2. Mục tiêu chung của dự án

      Bảo vệ ngành nông nghiệp và đời sống của nhân dân khu vực dự án không bị đe dọa bởi xâm nhập mặn gây ra bởi biến đổi khí hậu, kiểm soát mặn và cung cấp nước ngọt để phục vụ sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, du lịch...  phục vụ phát triển kinh tế - xã hội cho tỉnh Bến Tre.

Tải nội dung chi tiết:

1. QD 2353-QĐ-TTg phe duyet chu truong dau tu.pdf

2. QD 2418-QĐ-TTg phe duyet RPF.pdf

3. 12122016_RPF B-SWAMP_VN-Approval.doc

4. Bando DA.pdf

16/05/2017 8:00 SAĐã ban hành
Ngành Tài nguyên và Môi trường Bến Tre: MỘT NĂM BÁM SÁT MỤC TIÊU PHỤC VỤ NHÂN DÂNNgành Tài nguyên và Môi trường Bến Tre: MỘT NĂM BÁM SÁT MỤC TIÊU PHỤC VỤ NHÂN DÂN
<dd>Có thể nói 2007 là năm mà ngành Tài nguyên và Môi trường Bến Tre gặt hái được nhiều thành công trong cả hai phương diện quản lý nhà nước và thực hiện các mục tiêu hoạt động của ngành.
Có thể nói 2007 là năm mà ngành Tài nguyên và Môi trường Bến Tre gặt hái được nhiều thành công trong cả hai phương diện quản lý nhà nước và thực hiện các mục tiêu hoạt động của ngành.
Thực hiện chức trách quản lý nhà nước, trong năm 2007 hầu hết các nhiệm vụ công tác của ngành thực hiện theo đúng kế hoạch, đảm bảo số lượng, chất lượng và thời gian thực hiện.
Công tác quản lý đất đai ngày càng chặt chẽ, các nhiệm vụ thuộc thẩm quyền giải quyết của cấp tỉnh do pháp luật đất đai quy định đều được Sở tập trung thực hiện tốt; đã hoàn thành cơ bản công tác đo đạc lập bản đồ địa chính và đăng ký lập hồ sơ địa chính 19 xã thuộc huyện Bình Đại, hoàn thành công tác lập hồ sơ địa chính 6 xã thuộc huyện Giồng Trôm và 6 xã thuộc huyệnThạnh Phú; hoàn thành cơ bản công tác cấp giấy CNQSDĐ (trên 90% số hộ gia đình, các nhân sử dụng đất được cấp giấy); hoàn thành công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp tỉnh và 8/8 huyện, thị xã; đã điều tra và xây dựng xong phương án quản lý nguồn quỹ đất công của tỉnh; hồ sơ địa chính được lập mới và chỉnh lý biến động ngày càng được hoàn thiện; các dịch vụ công phục vụ người sử dụng đất mặc dù còn nhiều việc phải tiếp tục chấn chỉnh, nhưng nhìn chung đã ngày càng hiệu quả và phục vụ người dân tốt hơn… Đặc biệt trong năm 2007, Sở Tài nguyên và Môi trường đã tham mưu tốt cho UBND tỉnh về việc chuẩn bị kế hoạch tham gia thực hiện Dự án Hoàn thiện và hiện đại hoá hệ thống quản lý đất đai Việt Nam (VLAP) giai đoạn 2008-2013, một cơ hội lớn cho công tác quản lý đất đai ở Bến Tre.
Bảo vệ môi trường, một nhiệm vụ hết sức quan trọng và cấp bách trong giai đoạn hiện nay, giai đoạn hội nhập phát triển kinh tế, Bến Tre cũng như các tỉnh khác trong cả nước sẽ gánh chịu hệ quả từ sự mâu thuẩn tất yếu giữa phát triển kinh tế và ô nhiễm môi trường. Do đó, công tác bảo vệ môi trường đã được tập trung thực hiện xuyên suốt trong năm qua. Công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật bảo vệ môi trường ngày càng hiệu quả, nhận thức của người dân về bảo vệ môi trường được nâng cao; công tác quan trắc môi trường, thẩm định môi trường, kiểm soát ô nhiễm môi trường ngày càng được chuyên sâu; các mô hình xử lý ô nhiễm được tập trung nghiên cứu nhằm ứng dụng giải quyết ô nhiễm môi trường trong chăn nuôi heo, sản xuất than thiêu kết, chỉ xơ dừa… và đã đạt được một số kết quả bước đầu; Dự án Hợp phần kiểm soát ô nhiễm môi trường khu đông dân cư nghèo tỉnh Bến Tre đã được triển khai thực hiện đúng kế hoạch trong năm thứ nhất; Dự án "Quy hoạch môi trường tỉnh Bến Tre giai đoạn 2006-2010 và định hướng đến năm 2020" với nhiều chương trình giải quyết ô nhiễm trường của tỉnh trong tương lai đã được xây dựng ... tất cả đã góp phần cải thiện môi trường sống của người dân.
Về công tác quản lý tài nguyên năm qua cũng có những chuyển biến tích cực. Công tác điều tra, khảo sát đánh giá, kiểm tra khai thác tài nguyên nước và cát lòng sông được tăng cường, trong đó có hỗ trợ các huyện thành lập HTX khai thác cát sông, nhằm khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả hai loại tài nguyên quý giá này. Trong năm, Sở Tài nguyên và Môi trường cũng đã triển khai thực hiện giai đoạn đầu Đề án điều tra, bổ sung quy hoạch thăm dò, khai thác khoáng sản cát lòng sông đến 2010 và định hướng đến năm 2020 tỉnh Bến Tre.
Công tác thanh tra chuyên ngành tài nguyên và môi trường ngày càng chuyên sâu. Với vai trò là cơ quan tham mưu giải quyết khiếu kiện về đất đai, năm qua ngành Tài nguyên và Môi trường đã bám sát kế hoạch giải quyết khiếu kiện về đất đai của tỉnh, tập trung lực lượng tham gia các Đoàn công tác liên ngành của tỉnh. Kết quả đã giải quyết xong cơ bản dạng khiếu kiện đất TĐSX và giải quyết thấu tình đạt lý nhiều vụ việc khác, góp phần ổn định tình hình trật tự ở địa phương.
Bên cạnh các công tác chuyên môn, công tác xây dựng cơ sở dữ liệu tài nguyên môi trường và ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý cũng được Sở Tài nguyên và Môi trường quan tâm thực hiện và đã đạt được một số kết quả khả quan như đang thực hiện giai đoạn đầu của kế hoạch xây dựng cơ sở dữ liệu tài nguyên môi trường tỉnh Bến Tre (dạng số) để phục vụ cho công tác của ngành và của tỉnh; Hệ thống thông tin đất đai Bến Tre (BTLIS) và chương trình phần mềm Bản đồ quản lý hiện trạng khai thác tài nguyên nước tỉnh Bến Tre đang trong quá trình chạy thử nghiệm, Website Sở Tài nguyên và Môi trường Bến Tre với chương trình xem thông tin quy hoạch thửa đất được đông đảo các tổ chức và người dân truy cập xem thông tin... tất cả những công tác trên đã góp phần nâng cao hiệu quả quả lý nhà nước của ngành tại địa phương và góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nhà.
Năm 2008 là năm thứ 3 thực hiện Kế hoạch 5 năm 2006-2010 của tỉnh. Nỗ lực của ngành Tài nguyên và Môi trường trong năm qua có ý nghĩa quan trọng, góp phần thực hiện mục tiêu ngày càng phục vụ nhân dân tốt hơn và góp phần vào sự phát triển bền vững của tỉnh nhà. Hy vọng kế thừa thành công trong thời gian qua, ngành Tài nguyên và Môi trường Bến Tre sẽ tiếp tục gặt hái những thành tựu mới.
VĨNH THỊNH
07/01/2008 12:00 SAĐã ban hành
Kế hoạch thanh tra về tài nguyên và môi trường năm 2019Kế hoạch thanh tra về tài nguyên và môi trường năm 2019
Quyết định số 3549/QĐ-BTNMT ngày 23 tháng 11 năm 2018 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc phê duyệt Kế hoạch thanh tra năm 2019.
29/01/2019 4:00 CHĐã ban hành
Kết quả thực hiện tiêu chí Môi trường và An toàn thực phẩm trong xây dựng nông thôn mới  trên địa bàn tỉnh đến tháng 6 năm 2020Kết quả thực hiện tiêu chí Môi trường và An toàn thực phẩm trong xây dựng nông thôn mới  trên địa bàn tỉnh đến tháng 6 năm 2020
Để thực hiện mục tiêu đến năm 2020 có 100% xã đạt tiêu chí sô 17, Sở Tài nguyên và Môi trường đã tham mưu xây dựng và trình Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Đề án về thực hiện tiêu chí Môi trường và An toàn thực phẩm trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh

Nhằm đẩy nhanh tiến độ kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện tiêu chí 17 về Môi trường và An toàn thực phẩm trong xây dựng nông thôn mới của các xã trên địa bàn tỉnh. Năm 2020, được Sở Tài nguyên và Môi trường chọn làm năm về đích trong thực hiện các nhiệm vụ được Tỉnh ủy giao trong đó có nhiệm vụ về xây dựng nông thôn mới.

Để thực hiện mục tiêu đến năm 2020 có 100% xã đạt tiêu chí sô 17, Sở Tài nguyên và Môi trường đã tham mưu xây dựng và trình Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Đề án về thực hiện tiêu chí Môi trường và An toàn thực phẩm trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh; phối hợp với các ngành tổ chức các hội nghị, lớp tập huấn hướng dẫn việc thực hiện tiêu chí 17 cho Ban Chỉ đạo xây dựng nông thôn mới, cán bộ phụ trách tiêu chí 17 và Ban phát triển các ấp của các xã. Bên cạnh đó, phối hợp với các đoàn thể tổ chức hội thi tuyên truyền viên, báo cáo viên về bảo vệ môi trường trong xây dựng nông thôn mới qua đó nhằm nâng cao nhận thức của người dân. Qua gần 5 năm triển khai thực hiện, đến nay kết quả thực hiện tiêu chí 17 tại 142 xã đạt được nhiều kết quả khả quan như:

            Chỉ tiêu 17.1 có 99,4% hộ sử dụng nước hợp vệ sinh, trong đó có 70,1% hộ sử dụng nước sạch; có 101 xã tự đánh giá đạt. Chỉ tiêu 17.2 có 71% cơ sở thuộc đối tượng phải thực hiện thủ tục môi trường đã lập và được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy xác nhận và 83,3% cơ sở có công trình, biện pháp xử lý chất thải; có 83 xã tự đánh giá đạt. Chỉ tiêu 17.3 về xây dựng cảnh quan môi trường, xanh - sạch - đẹp - an toàn được các địa phương định kỳ tổ chức gắn với việc thực hiện Ngày Chủ nhật nông thôn mới hàng tháng; có 84 xã tự đánh giá đạt. Chỉ tiêu 17.4 có 139 xã có quy hoạch đất xây dựng nghĩa trang nhân dân, việc mai táng người chết phù hợp với tín ngưỡng, truyền thống văn hóa và nếp sống văn minh, hiện đại, đảm bảo không gây ô nhiễm môi trường. Chỉ tiêu 17.5 về chất thải rắn trên địa bàn và nước thải khu dân cư tập trung, cơ sở sản xuất – kinh doanh được thu gom, xử lý theo quy định, có 11,1% hộ đăng ký thu gom rác và 80,9% tự thực hiện các biện pháp xử lý rác thải như chôn lấp hợp vệ sinh và đốt; có 89 xã tự đánh giá đạt. Chỉ tiêu 17.6 có 98,8% hộ có nhà tắm kín đáo, 88,2% hộ có nhà tiêu hợp vệ sinh, có 98,6% hộ có bể chứa nước sinh hoạt hợp vệ sinh và 80,6% hộ được đánh giá thực hiện tốt nội dung 3 sạch; có 71 xã tự đánh giá đạt chỉ tiêu. Chỉ tiêu 17.7 có 64,3% hộ chăn nuôi thuộc đối tượng phải đăng ký hồ sơ môi trường đã lập và được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy xác nhận; có 100 xã tự đánh giá đạt. Chỉ tiêu 17.8 có 53 xã tự đánh giá đạt chỉ tiêu về hộ gia đình và cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm tuân thủ các quy định về đảm bảo an toàn thực phẩm. Đến nay, đã có 60 xã được Sở Tài nguyên và Môi trường kiểm tra, công nhận đạt tiêu chí 17.

ntm1.png
Đường nông thôn mới huyện Ba Tri (Ảnh: Nguyễn Quốc Thi)

              Qua những kết quả trên có thể thấy, các địa phương đã có sự chủ động trong thực hiện các chỉ tiêu khó như sử dụng nước sạch; xây dựng nhà tiêu hợp vệ sinh; thực hiện thủ tục môi trường đối với các cơ sở sản xuất, hộ chăn nuôi; cải tạo cảnh quan môi trường. Công tác tuyên truyền, vận động được các địa phương tập trung thực hiện, qua đó đã góp phần nâng cao nhận thức của người dân về bảo vệ môi trường nói chung và tự giác tham gia các phần việc liên quan đến hộ gia đình trong xây dựng nông thôn mới, góp phần đẩy nhanh tiến độ thực hiện tiêu chí 17 tại các địa phương.

             Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn không ít khó khăn như: tuy đa số cơ sở sản xuất, hộ chăn nuôi có công trình, biện pháp xử lý chất thải nhưng vẫn còn tình trạng ô nhiễm môi trường do công trình xử lý bị hư hỏng, quá tải, không vận hành thường xuyên; tỷ lệ hộ chưa có nhà tiêu hợp vệ sinh còn cao, tình trạng sử dụng song song cầu tiêu ao cá vẫn còn khá phổ biến do công tác vận động tuyên truyền chưa đạt hiệu quả, người dân còn tư tưởng trông chờ vào sự hỗ trợ; việc xây dựng cảnh quan môi trường xanh, sạch, đẹp tuy có sự quan tâm nhưng chưa có sự chuyển biến lớn, chưa tạo được nét đặc trưng riêng của xã nông thôn mới; việc thực hiện chỉ tiêu 17.8 về an toàn thực phẩm đối với các cơ sở trên địa bàn vẫn là khó khăn chung của các địa phương, nguyên nhân là do cán bộ thực hiện còn gặp khó khăn trong việc xác định đối tượng phải thực hiện các quy định về an toàn thực phẩm của ngành công thương, nông nghiệp và y tế; thiếu chủ động trong việc liên hệ các ngành để hỗ trợ tổ chức lớp tập huấn kiến thức an toàn thực phẩm và việc vận động người dân, cơ sở tham gia các lớp tập huấn cũng như khám sức khỏe,…

              Để hoàn thành mục tiêu có 100% xã đạt tiêu chí 17 đòi hỏi phải có sự chung tay nổ lực rất lớn của cấp, các ngành mà đặc biệt là sự quan tâm, chỉ đạo sâu xác của Ban Chỉ đạo xây dựng nông thôn mới địa phương cùng sự đồng lòng và tự giác tham gia của người dân trong việc thực hiện các phần việc liên quan đến hộ gia đình. Trong đó, cần xác định những nội dung trọng tâm cần thực hiện như triển khai cho các hộ chăn nuôi và trồng trọt trên địa bàn ký bản cam kết an toàn thực phẩm thuộc lĩnh vực nông nghiệp, vận động các cơ sở tham dự các lớp tập huấn kiến thức do ngành công thương và y tế tổ chức, thực hiện khám sức khỏe theo quy định; tăng cường các đoàn vận động người dân thực hiện các phần việc như xây dựng nhà tiêu hợp vệ sinh, thực hiện 3 sạch, xóa cầu tiêu ao cá; tổ bảo vệ môi trường tổ chức kiểm tra, lập biên bản nhắc nhở các cơ sở, hộ chăn nuôi thực hiện đăng ký thủ tục môi trường và xử lý chất thải theo quy định, xử lý nghiêm đối với các trường hợp vi phạm. Bên cạnh đó, Ban chỉ đạo xây dựng nông thôn mới huyện phải thường xuyên kiểm tra, đôn đốc tiến độ thực hiện của các xã trên địa bàn, làm rõ trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân được phân công thực hiện,….có như vậy chúng ta mới có thể hoàn thành mục tiêu trên trong năm 2020.

Nguyễn Minh Trí



24/06/2020 10:00 SAĐã ban hành
Thông báo về việc mở lớp đào tạo nghiệp vụ Bảo vệ môi trường trong kinh doanh xăng dầu đợt 1 năm 2020Thông báo về việc mở lớp đào tạo nghiệp vụ Bảo vệ môi trường trong kinh doanh xăng dầu đợt 1 năm 2020
Thông báo mở lớp đào tạo nghiệp vụ Bảo vệ môi trường trong kinh doanh xăng dầu đợt 1 năm 2020

​1. Mục đích đào tạo: 

    - Trang bị kiến thức cơ bản về môi trường và bảo vệ môi trường cho người học, nhằm nâng cao nhận thức về môi trường, trách nhiệm bảo vệ môi trường trong kinh doanh xăng dầu. 

     - Nắm được kiến thức cơ bản về môi trường, ô nhiễm môi trường trong kinh doanh xăng dầu. - Hiểu được tính chất, cơ chế ảnh hưởng của chất độc hại trong xăng dầu đối với môi trường và sức khỏe con người. 

      - Nắm vững cách xử lý, khắc phục, hạn chế tác động của ô nhiễm môi trường trong kinh doanh xăng dầu. 

2. Đối tượng, hình thức đào tạo: 

      - Đối tượng: Quản lý và nhân viên trực tiếp phục vụ kinh doanh tại cơ sở kinh doanh xăng dầu. 

      - Hình thức: Sở Tài nguyên và Môi trường phối hợp với các đơn vị có liên quan tổ chức thực hiện. 

3. Thời gian và địa điểm: 

     * Thời gian: 03 ngày (ngày 23, 24 và 25 tháng 6 năm 2020). Đăng ký từ ngày thông báo đến ngày 22 tháng 6 năm 2020. 

     * Địa điểm: Trung tâm điều dưỡng người có công (khu nghỉ dưỡng Mỹ An). Địa chỉ: số 18B, ấp Mỹ An B, xã Mỹ Thạnh An, Tp Bến Tre, tỉnh Bến Tre. 

4. Học phí: 1.000.000 đồng/học viên (bao gồm soạn tài liệu, tiền giảng viên, chấm bài, soạn thảo câu trắc nghiệm, hội trường, máy chiếu, trông giữ xe phục vụ cho học viên lớp học, giải khát, giấy chứng nhận hoàn thành khóa học, công tác tổ chức lớp…). 

5. Giảng viên: có thâm niên công tác, có học hàm thạc sĩ, đồng thời trực tiếp biên soạn các tài liệu. 

6. Nghĩa vụ của học viên: phải theo học đầy đủ các chuyên đề và có bài thu hoạch đạt yêu cầu. Nhập học: học viên mang theo 02 tấm màu cỡ 3x4, chứng minh nhân dân photo (có chứng thực). 

7. Nội dung đào tạo: 

     - Chuyên đề 1: Ảnh hưởng của hoạt động kinh doanh xăng dầu đến môi trường, sức khỏe con người và biện pháp quản lý. 

     - Chuyên đề 2: Những quy định của pháp luật, trách nhiệm và nghĩa vụ bảo vệ môi trường của tổ chức, cá nhân trong xăng dầu. 

     - Chuyên đề 3: Một số biện pháp quản lý, xử lý nước thải nhiễm dầu, ứng phó sự cố tràn dầu và sự cố cháy nổ trong kinh doanh xăng dầu. 

     - Chuyện đề 4: An toàn môi trường trong quá trình vận chuyển và kinh doanh xăng dầu. 

     - Chuyên đề 5: Một số biện pháp quản lý, xử lý chất thải rắn trong kinh doanh xăng dầu. 

     - Chuyên đề 6: Hướng dẫn viết thu hoạch cuối khóa.

Chi tiết xem tại: thong_bao_xd_dot_12020.pdf

17/06/2020 4:00 CHĐã ban hành
Bản đồ tình hình xâm nhập mặn tỉnh Bến Tre từ ngày 01/3 đến ngày 05/3/2019Bản đồ tình hình xâm nhập mặn tỉnh Bến Tre từ ngày 01/3 đến ngày 05/3/2019
Bản đồ tình hình xâm nhập mặn tỉnh Bến Tre từ ngày 01/3 đến ngày 05/3/2019
06/03/2019 6:00 CHĐã ban hành
Một số hoá chất độc hại có nguy cơ gây bệnh ung thưMột số hoá chất độc hại có nguy cơ gây bệnh ung thư
Theo các nhà khoa học, thì một trong những nguyên nhân chính gây bệnh ung thư cho con người là do các loại hoá chất độc hại, nhiễm vào cơ thể qua thực phẩm, qua đất, nước vào thức ăn, nước uống và không khí để thở.



Hiện nay, bất chấp các bằng chứng hiển nhiên về tác động xấu của các hoá chất độc hại, nhưng chúng ta được cung cấp rất ít thông tin an toàn cần thiết về phần lớn trong khoảng 70.000 hoá chất do con người làm ra trên thị trường, đặc biệt là các hoá chất do con người làm ra tại các nước đang phát triển. Sau đây là một số hoá chất độc hại gây ung thư phổ biến nhất ở nước ta hiện nay:
Chất dioxin: Là một loại cực độc có mặt trong hầu hết các môi trường thành phần, trong đó nguồn phát thải dioxin do đốt cháy túi nilong từ các hoạt động của con người là một nguồn phát sinh không kém phần quan trọng. Dioxin ít tan trong nước, tồn tại nhiều và lâu ở đất, trầm tích (có khi đến 30 – 40 năm), xâm nhiễm qua con đường thực phẩm, vào thực vật, rồi vào tôm cá, vào rau quả và cuối cùng vào con người. Cũng có thể ngộ độc trực tiếp do hô hấp, hay qua da do tiếp xúc, hay qua nước uống. Nếu liều lượng cao có thể gây độc cấp tính, nếu liều lượng thấp gây độc mãn tính, nhất là gây ung thư.
Hóa chất gây ung thư có trong thực phẩm và qua chế biến thực phẩm: Các độc chất từ thuốc trừ sâu và phân hóa học. Chúng tồn dư trong môi trường đất, nước rồi tích lũy vào sản phẩm nông nghiệp như lúa, khoai, rau quả. Chúng cũng có mặt trong thực phẩm dưới vai trò là chất bảo quản, diệt nấm mốc hoặc là tạp chất sinh ra trong quy trình nuôi trồng, sản xuất hoặc chế biến thực phẩm.
Chất formon, hàn the: Là hợp chất hữu cơ rất độc, thế nhưng lại bị lạm dụng làm bánh phở, hủ tiếu, bún, bánh ướt để các loại thực phẩm này dai và lâu thiu. Nó làm biến dị các nhiễm sắc thể, gây nên các bệnh gây ung thư cho con người như: ung thư xoang mũi, họng, phổi, ung thư đường tiêu hóa. Còn hàn the thì khi đưa vào cơ thể, khoảng 20% sẽ tích tụ vĩnh viễn và gây tổn thương các tế bào gan, teo tinh hoàn và là tác nhân gây ung thư không kém formon.
Chất 3-MCPD và 1,3-DCP: có trong nước tương do quy trình công nghệ không hợp lý. Chúng được tạo ra từ quá trình thủy phân chất béo (váng dầu) bằng dung dịch axit clohydric. Chất này có khả năng biến đổi gen, và đặc biệt nguy hiểm hơn khi hàm lượng 3-MCPD cao, tạo điều kiện thuận lợi hình thành một chất gây ung thư mạnh hơn đó là 1,3-DCP (1,3- diclopropan-2-0l) gây nên khối u thận, biểu mô miệng, lưỡi và biểu hiện gây ung thư trên cơ thể động vật, tất nhiên nó sẽ gây ung thư cho người rất cao.
Độc tố gây ung thư của nấm mốc: Mỗi buổi nhậu, người ta bày ra một gói đậu phộng rang hay một gói hạt điều cho thực khách nhấm nháp, uống bia… Nhưng nếu các hạt này bị mốc, thấy rõ ở mầm hạt, màu vàng xám hoặc đen, thì ung thư sẽ có thể xảy ra khi ăn nhiều loại này.
Độc tố gây ung thư do rượu: Khi rượu được đưa vào trong cơ thể người, quá trình chuyển hóa của rượu có sinh ra acetaldehyd (Aa), là một carcinogen trong các mô động vật, là chất gây biến dị vi khuẩn và các tế bào động vật có vú. Sau thời gian nghiện rượu mãn tính, Aa có nồng độ cao trong máu tăng nguy cơ gây ung thư gan và các tổ chức khác trong cơ thể. Aa có khả năng làm DNA (vật liệu di truyền ở cấp độ phân tử tham gia quyết định các tính trạng) đột biến, gây ung thư.
Độc chất gây ung thư từ thuốc lá: Nhiễm độc khói thuốc lá không chỉ cho người hút mà nguy hại hơn là nó ô nhiễm môi trường gây cho người hít phải, nhất là trẻ con bị ung thư phổi. Thành phần khói thuốc lá rất phức tạp, có tới hơn 4.000 hợp chất trong đó 200 loại hóa chất có hại cho sức khỏe và nguy hiểm hơn nữa là số lượng chất gây ung thư cho người lên 40 chất.
Một số hoá chất, khí thải gây ung thư cho con người do ô nhiễm môi trường:
- Các chất khí thải của động cơ và các lò đốt công nghiệp sử dụng nhiên liệu than, củi, xăng... Bụi chì từ khói xe, SO2, N2O, Clo từ khói thải nhà máy, bụi phấn, thậm chí cả nước hoa quá liều nữa. Bụi xi măng, chứa nhiều hạt silic có kích thước từ 1-5 micro mét. Những chất khí này khi vào phổi sẽ nằm lại trong các phế nang, phế quản, gây ung thư phổi, ung thư thanh quản…
- Nhựa Polychlorobipheyl (PCB) được sử dụng rộng rãi dưới dạng các sản phẩm như: dầu nhờn, cồn dán, xi đánh giày, chất hút bụi, thuốc trừ sâu, dưới tác dụng của nhiệt độ môi trường sẽ bị phân hủy thành nhiều chất dioxin cực độc hại dẫn đến ung thư ác tính.
- Bụi amian (cả amian trắng, xanh hay nâu) trong không khí hay sợi amian trong nước từ các mái nhà lợp tôn phibroximăng theo nước mưa chảy xuống, là nguyên nhân gây ung thư phế quản, phổi, biểu mô.
- Chất fenol có trong dầu vỏ hạt điều, là một chất độc trong môi trường nước và cả trong môi trường không khí, nó có mặt trong khói khi đốt vỏ hạt điều có khả năng gây ung thư.
Muốn tránh các bệnh nêu trên, đối với mỗi người phải tự xây dựng cho mình một môi trường sống, sinh hoạt phải sạch và lành mạnh, tránh việc sử dụng các đồ ăn, thức uống có nguy cơ gây độc cao.

Mai Hanh (Tổng hợp nguồn:www.vista.gov.vn)




10/12/2008 12:00 SAĐã ban hành
Thông báo v/v Kiểm tra hiện trạng sử dụng đất, công trình xây dựng của chủ đầu tư dự án Khu dân cư thị trấn Thạnh PhúThông báo v/v Kiểm tra hiện trạng sử dụng đất, công trình xây dựng của chủ đầu tư dự án Khu dân cư thị trấn Thạnh Phú
Thông báo v/v Kiểm tra hiện trạng sử dụng đất, công trình xây dựng của chủ đầu tư dự án Khu dân cư thị trấn Thạnh Phú


Tải văn bản: 2299_2019_TB_STNMT.pdf

01/08/2019 9:00 SAĐã ban hành
Thông báo về việc góp ý dự thảo văn bảnThông báo về việc góp ý dự thảo văn bản
Góp ý Quy chế Phối hợp quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo tỉnh Bến Tre

I. Nội dung

   Sở Tài nguyên và Môi trường đã Dự thảo Quy chế phối hợp quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo trên địa bàn tỉnh Bến Tre.

   Để hoàn chỉnh Dự thảo Quy chế và có cơ sở trình Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành, Sở Tài nguyên và Môi trường kính đề nghị quý cơ quan, đơn vị đóng góp ý kiến Dự thảo Quy chế và gửi về Sở Tài nguyên và Môi trường để tổng hợp.

II. Thời gian
    Thời gian góp ý dự thảo văn bản: Từ ngày 08/8/2017 đến ngày 08/9/2017
III. Địa chỉ nhận góp ý
     Các ý kiến đóng góp về nội dung của văn bản trên gửi về Chi cục Biển và Hải đảo - Sở Tài nguyên và Môi trường, có thể bằng văn bản hoặc địa chỉ email (nguyennhan2883@gmail.com).

Tải nội dung văn bản dự thảo:

DuThao_Quy_che_phoi_hop_2017_8_08-UBND.doc

08/08/2017 3:00 SAĐã ban hành
Quyết định 99/QĐ-STNMT Ban hành Kế hoạch thanh tra, kiểm tra năm 2020Quyết định 99/QĐ-STNMT Ban hành Kế hoạch thanh tra, kiểm tra năm 2020
​Ngày 04 tháng 01 năm 2020 Sở Tài nguyên và Môi trường Ban hành Kế hoạch thanh tra, kiểm tra năm 2020

     ​Ngày 04 tháng 01 năm 2020 Sở Tài nguyên và Môi trường Ban hành Kế hoạch thanh tra, kiểm tra năm 2020.

Chi tiết xem tại: 99_2020_QD_STNMT_KehoachThanhtra.pdf

07/02/2020 3:00 CHĐã ban hành
Sở Tài nguyên và Môi trường làm việc với nhà đầu tư dự án thu gom, phân loại và tái chế rác thảiSở Tài nguyên và Môi trường làm việc với nhà đầu tư dự án thu gom, phân loại và tái chế rác thải
Sở Tài nguyên và Môi trường đã chủ động liên hệ và tham khảo các mô hình xử lý rác thải sinh hoạt của các đơn vị trong và ngoài tỉnh trong đó có mô hình thu gom, phân loại và tái chế rác thải của Công ty Cổ phần Doanh nghiệp xã hội Revival waste (Công ty RW)

Trong những năm gần đây, tình hình ô nhiễm từ chất thải rắn sinh hoạt có chiều hướng gia tăng trên địa bàn tỉnh Bến Tre, quá tải và ô nhiễm tại các bãi rác trên địa bàn gây bức xúc đối với người dân; việc chấp hành quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường đối với rác thải còn chưa nghiêm, tình trạng vứt, thải rác ra khu vực công cộng, kênh rạch còn diễn ra ở nhiều nơi; công tác xã hội hóa về xử lý rác thải còn hạn chế; chưa có mô hình thu gom, xử lý rác hiệu quả, đa phần chỉ là chôn lấp tại các bãi rác lộ thiên,… Trước tình hình đó, thực hiện ý kiến kết luận của đồng chí Bí thư tỉnh ủy tại hội nghị trực tuyến về quản lý nhà nước về rác thải sinh hoạt tỉnh Bến Tre ngày 20 tháng 9 năm 2019, Sở Tài nguyên và Môi trường đã chủ trì, phối hợp với các ngành xây dựng và trình Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Đề án số 03 ngày 03 tháng 02 năm 2020 về Quản lý chất thải rắn sinh hoạt tỉnh Bến Tre trong đó có nhiệm vụ lập và triển khai nhân rộng mô hình phân loại rác tại nguồn trên địa bàn các huyện thành phố.

Để thực hiện nhiệm vụ đó, Sở Tài nguyên và Môi trường đã chủ động liên hệ và tham khảo các mô hình xử lý rác thải sinh hoạt của các đơn vị trong và ngoài tỉnh trong đó có mô hình thu gom, phân loại và tái chế rác thải của Công ty Cổ phần Doanh nghiệp xã hội Revival waste (Công ty RW). 

RW1.jpg

Đại diện nhà đầu tư trình bày tại cuộc họp (Ảnh: Ngọc Mai)

Để có căn cứ trình Ủy ban nhân dân tỉnh cho chủ trường phối hợp thực hiện “Chương trình thu gom, phân loại và tái chế rác thải trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2020 – 2025”. Ngày 18 tháng 6 năm 2020, Sở Tài nguyên và Môi trường đã tổ chức cuộc họp mời các sở ban ngành và các đoàn thể đến tìm hiểu và đóng góp cho chương trình thu gom, phân loại và tái chế rác thải của Công ty RW.

Tham dự cuộc họp, có ông Bùi Minh Tuấn – Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường, cùng đại diện lãnh đạo Chi cục Bảo vệ môi trường, Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh, các sở Xây dựng, Tài chính, Giáo dục và Đào tạo, Kế hoạch và Đầu tư, Khoa học và Công nghệ, Công thương, Ủy ban nhân dân thành phố Bến Tre, Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh, Tỉnh đoàn, Câu lạc bộ Trí thức trẻ tỉnh và Công ty Cổ phần công trình đô thị Bến Tre. Về phía công ty RW có ông Huỳnh Hữu Hải Bình – Tổng giám đốc công ty, cùng đội ngũ cố vấn, kỹ thuật.

Tại buổi trình bày, phía công ty RW đã giới thiệu về công tác quản lý rác thải theo định hướng kinh tế tuần hoàn, xem rác thải là nguồn tài nguyên, mỗi loại rác thải ra đều có giải pháp xử lý phù hợp, chương trình đã được triển khai tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Năng. Bên cạnh đó, công ty cũng đã trình bày đề xuất giải pháp quản lý rác thải tại tỉnh Bến Tre bao gồm các hoạt động như: Ban hành thể chế công tác phân loại rác tại nguồn; xây dựng thí điểm và hoàn thiện mô hình quản lý rác thải; truyền thông nâng cao nhận thức; thiết lập mạng lưới trạm tiếp nhận rác; tối ưu công tác thu gom nhằm giải thiểu chi phí và thúc đẩy hoạt động tái chế tại địa phương. Hoạt động thí điểm được thực hiện tại các trường học, cơ quan công sở và các địa điểm công cộng trên địa bàn thành phố Bến Tre với hai nhóm rác là bao bì chứa thực phẩm lỏng và nhựa; bao gồm các hoạt động chính như: hội nghị triển khai, đào tạo tập huấn, thực hiện phân loại rác, ngày thứ 7 tái chế,…

Sau khi nghe đại diện công ty trình bày, các đại biểu tham gia hoan nghênh việc Công ty RW đã đến và tìm hiểu cơ hội đầu tư tại tỉnh, nhất là trong lĩnh vực xử lý rác thải, một trong những vấn đề môi trường nóng trong thời gian qua. Nếu dự án được triển khai sẽ góp phần nâng cao nhận thức và góp phần hình thành thói quen của người dân trong việc thu gom, phân loại và xử lý rác thải, giúp giảm lượng rác thải phát sinh. Bên cạnh đó, các đại biểu tham dự cũng đặt một số câu hỏi liên quan đến sản phẩm của dự án, phạm vi triển khai của dự án, khả năng nhân rộng của dự án, việc tổ chức thu gom, tài chính cho dự án, chính sách hỗ trợ của dự án đối với các đối tượng tham gia,… Kết luận tại cuộc họp, ông Bùi Minh Tuấn – Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường đề nghị phía công ty cần điều chỉnh, bổ sung một số nội dung liên quan đến thời gian triển khai dự án, đối tượng tham gia, nguồn tài chính thực hiện dự án, hiệu quả sẽ mang lại…để Sở Tài nguyên và Môi trường có căn cứ trình Ủy ban nhân dân tỉnh cho chủ trương phối hợp triển khai dự án. Tin rằng, với sự quan tâm chỉ đạo sâu sát của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân, sự phối hợp giữa các sở, ban ngành và địa phương, cùng với sự tham gia của các doanh nghiệp thì trong thời gian không xa, công tác thu gom, phân loại và xử lý rác thải trên địa bàn tỉnh sẽ đạt được mục tiêu đã đề ra góp phần xây dựng một “Bến Tre xanh” và một “Bến Tre đáng sống”.

Nguyễn Minh Trí


24/06/2020 10:00 SAĐã ban hành
Tập huấn các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý tài nguyên nước và khoáng sảnTập huấn các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý tài nguyên nước và khoáng sản
Ngày 8 tháng 8 năm 2017, tại Hội trường số 3 Tỉnh Ủy, Sở Tài nguyên và Môi trường tổ chức lớp tập huấn các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý tài nguyên nước và khoáng sản

08.8.TapHuan_VB_QPPL_QLTN-KS-1.jpg

Ông Trịnh Minh Khôi - Chánh Văn phòng Sở phát biểu khai mạc lớp tập huấn. (Ảnh: Duy Anh)

       Trong thời gian qua, tình hình khai thác cát trái phép trên địa bàn tỉnh nói riêng, cả nước nói chung có những diễn biến phức tạp. Nguyên nhân do nhu cầu sử dụng cát làm vật liệu san lấp rất lớn, trong khi lượng cát bổ cập từ thượng nguồn về ngày càng giảm. Trước tình hình trên, Ủy ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo các ngành, các cấp thực hiện nghiêm túc, những quy định pháp luật hiện hành, các văn bản chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; đồng thời triển khai thực hiện quyết liệt, đồng bộ nhiều biện pháp, giải pháp để xử lý có hiệu quả với nạn khai thác cát trái phép này.     

        Nhằm góp phần nâng cao năng lực cán bộ trong thực thi công vụ và hiệu quả công tác quản lý Nhà nước, ngày 8 tháng 8 năm 2017, tại Hội trường số 3 Tỉnh Ủy, Sở Tài nguyên và Môi trường tổ chức lớp tập huấn các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý tài nguyên nước và khoáng sản.

         Đến tham dự và chủ trì có Ông Lê Văn Đáo - Phó Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường cùng sự tham gia của gần 200 Đại biểu là đại diện các sở, ngành liên quan; Công an tỉnh; Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh; Ủy ban nhân dân, Phòng Tài nguyên và Môi trường các huyện, thành phố Bến Tre; Đoàn kiểm tra liên ngành khoáng sản tỉnh, huyện; Ủy ban nhân dân 164 xã, phường, thị trấn; và các Công ty, Hợp tác xã khai thác cát trên địa bàn tỉnh.

08.8.TapHuan_VB_QPPL_QLTN-KS-3.png
                              Quan cảnh lớp tập huấn. (Ảnh: Duy Anh)

        Lớp tập huấn đã phổ biến, cập nhật các chính sách, pháp luật về tài nguyên của Trung ương và Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành trong thời gian gần đây để áp dụng vào công tác thanh tra, kiểm tra và quản lý trên địa bàn tỉnh. Trong đó, nội dung tập huấn tập trung vào các văn bản Quy phạm pháp luật như Nghị định 158/2016/ND-CP ngày 29 tháng 11 năm 2016 quy định chi tiết thi hành một số điều Luật khoáng sản; Nghị định số 33/2017/NĐ-CP ngày 03 tháng 4 năm 2017 xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản; Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18 tháng 11 năm 2016 xử phạt hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường; Quyết định số 27/2017/QĐ-UBND ngày 19 tháng 5 năm 2017 ban hành quy chế quản lý hoạt động khoáng sản tỉnh Bến Tre. Bên cạnh đó, các Đại biểu tham dự tập huấn đã trao đổi, thảo luận, chia sẻ những khó khăn, kinh nghiệm trong thực hiện nhiệm vụ.

Huỳnh Lê Duy Anh
08/08/2017 4:00 CHĐã ban hành
Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Từ ngày 01/6/2020 đến ngày 07/6/2020)Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Từ ngày 01/6/2020 đến ngày 07/6/2020)
Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Từ ngày 01/6/2020 đến ngày 07/6/2020)
08/06/2020 3:00 CHĐã ban hành
Thông báo mời thầu - Gói thầu: Tư vấn Quy hoạch tài nguyên nước tỉnh Bến Tre năm 2030, tầm nhìn đến năm 2040Thông báo mời thầu - Gói thầu: Tư vấn Quy hoạch tài nguyên nước tỉnh Bến Tre năm 2030, tầm nhìn đến năm 2040
Ngày 15 tháng 6 năm 2018, Sở Tài nguyên và Môi trường ban hành thông báo số 1550/TB-STNMT Thông báo mời thầu - Gói thầu: Tư vấn Quy hoạch tài nguyên nước tỉnh Bến Tre năm 2030, tầm nhìn đến năm 2040

​Tên bên mời thầu: Sở Tài nguyên và Môi trường Bến Tre

Tên gói thầu: Tư vấn Quy hoạch tài nguyên nước tỉnh Bến Tre năm 2030, tầm nhìn đến năm 2040

Thời gian phát hành Hồ sơ mời thầu (HSMT): từ 08 giờ, ngày 22 tháng 6 năm 2018 đến trước 08 giờ, ngày 12 tháng 7 năm 2018 (trong giờ hành chính).

Địa điểm phát hành HSMT: Phòng Kế hoạch tài chính - Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bến Tre

- Địa chỉ: số 01 Trần Quốc Tuấn, Phường 2, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

Tải nội dung: 1550_2018_TB_STNMT.pdf

18/06/2018 9:00 SAĐã ban hành
Họp tổ giúp việc Ban chỉ đạo ứng phó biến đổi khí hậu tỉnh Bến TreHọp tổ giúp việc Ban chỉ đạo ứng phó biến đổi khí hậu tỉnh Bến Tre
Ngày 14 tháng 7 năm 2017, Sở Tài nguyên và Môi trường tổ chức cuộc họp các thành viên Tổ giúp việc cho Ban Chỉ đạo ứng phó biến đổi khí hậu tỉnh Bến Tre định kỳ 06 tháng (lần 01) năm 2017

      Ngày 14 tháng 7 năm 2017, Sở Tài nguyên và Môi trường tổ chức cuộc họp các thành viên Tổ giúp việc cho Ban Chỉ đạo ứng phó biến đổi khí hậu tỉnh Bến Tre định kỳ 06 tháng (lần 01) năm 2017 do Ông Nguyễn Văn Chinh (Phó trưởng Ban Chỉ đạo - Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường) chủ trì cùng với sự tham dự của 18 thành viên Tổ giúp việc là Lãnh đạo, chuyên viên thuộc các Sở.

19.7.HopToGiupViec_BCĐ-UPBĐKH.jpg

Hình: Họp Tổ giúp việc Ban Chỉ đạo ứng phó biến đổi khí hậu tỉnh Bến Tre

(Ảnh: Duy Anh)

     Tổ giúp việc được thành lập đồng thời với kiện toàn Ban Chỉ đạo theo Quyết định số 2903/QĐ-UBND ngày 30 tháng 11 năm 2016 của Ủy ban nhân dân tỉnh. Thành lập Tổ giúp việc làm đầu mối tại các cơ quan và tham mưu cho Ban Chỉ đạo là điểm mới trong bộ máy ứng phó biến đổi khí hậu của tỉnh so với giai đoạn 2010 - 2015. Tổ giúp việc tổ chức họp theo Quy chế hoạt động của Ban Chỉ đạo định kỳ 06 tháng nhằm tổng hợp, đánh giá tình hình thực hiện các nhiệm vụ ứng phó biến đổi khí hậu của tỉnh để kịp thời báo cáo, đề xuất Ban Chỉ đạo, Ủy ban nhân dân tỉnh giải quyết các khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện và kế hoạch cho giai đoạn tiếp theo.

          Bên cạnh các nội dung nêu trên, cuộc họp đã phổ biến các chủ trương, chính sách mới của Trung ương, tỉnh về biến đổi khí hậu như: Thông báo số 278/TB-VPCP ngày 22 tháng 6 năm 2017 của Văn phòng Chính phủ về kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại phiên họp lần thứ VIII Ủy ban quốc gia về biến đổi khí hậu; Quyết định số 2053/QĐ-TTg ngày 28 tháng 10 năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ ban hành kế hoạch thực hiện Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu của Việt Nam; tiếp tục quán triệt Chỉ thị 10-CT/TU ngày 19 tháng 5 năm 2016 của Tỉnh Ủy về nâng cao năng lực ứng phó biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường; phổ biến nhiệm vụ thực hiện Thỏa thuận Paris của tỉnh theo Công văn số 964/UBND-KT ngày 14 tháng 2 năm 2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh.

Duy Anh


19/07/2017 2:00 CHĐã ban hành
Truyền thông về "Ngày Nước thế giới 2018" và "Ngày Khí tượng thế giới 2018"Truyền thông về "Ngày Nước thế giới 2018" và "Ngày Khí tượng thế giới 2018"
Truyền thông về "Ngày Nước thế giới 2018" và "Ngày Khí tượng thế giới 2018"
16/03/2018 9:00 SAĐã ban hành
Kế hoạch thanh tra năm 2020 của Bộ Tài nguyên và Môi trườngKế hoạch thanh tra năm 2020 của Bộ Tài nguyên và Môi trường
Ngày 17 tháng 01 năm 2020, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Quyết định số 146/QĐ-BTNMT Phê duyệt kế hoạch thanh tra năm 2020

​      Ngày 17 tháng 01 năm 2020, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Quyết định số 146/QĐ-BTNMT Phê duyệt kế hoạch thanh tra năm 2020

     Chi tiết xem tại: QD_146_KeHoachThanhTra_2020.zip


03/02/2020 10:00 SAĐã ban hành
Triển khai thực hiện Thông tư số 18/2020/TT-BTTTT và Thông tư số 19/2020/TT-BTTTT ngày 20/8/2020 của Bộ Thông tin và Truyền thôngTriển khai thực hiện Thông tư số 18/2020/TT-BTTTT và Thông tư số 19/2020/TT-BTTTT ngày 20/8/2020 của Bộ Thông tin và Truyền thông
Ngày 20 tháng 8 năm 2020, Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành Thông tư số 18/2020/TT-BTTTT Quy hoạch băng tần 2300-2400 MHz và băng tần-2690 MHz cho hệ thống thông tin di động IMT của Việt Nam và Thông tư số 19/2020/TTBTTTT Quy hoạch băng tần 24,25-27,5 GHz cho hệ thống thông tin di động IMT của Việt Nam. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 06 tháng 10 năm 2020.

      Sở Tài nguyên và Môi trường triển khai Thông tư số 18/2020/TT-BTTTT và Thông tư số 19/2020/TT-BTTTT đến các tổ chức, cá nhân và doanh nghiệp được biết.

       Thông tư số 18/2020/TT-BTTTT ngày 20 tháng 8 năm 2020 của Bộ Thông tin và Truyền thông về Quy hoạch băng tần 2300-2400 MHz và băng tần 2500-2690 MHz cho hệ thống thông tin di động IMT của Việt Nam. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 06 tháng 10 năm 2020.

       Thông tư số 19/2020/TT-BTTTT ngày 20 tháng 8 năm 2020 của Bộ Thông tin và Truyền thông về Quy hoạch băng tần 24,25-27,5 GHz cho hệ thống thông tin di động IMT của Việt Nam. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 06 tháng 10 năm 2020.

Tải văn bản:

1. Thong_tu_so_18-TT-2020-BTTTT.PDF

2. Thong_tu_so_19-TT-2020-BTTTT.PDF

31/08/2020 9:00 SAĐã ban hành
Thông báo về việc đấu giá quyền khai thác khoáng sảnThông báo về việc đấu giá quyền khai thác khoáng sản
Thực hiện Kế hoạch số 1219/KH-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh, ngày 19 tháng 3 năm 2019 đấu giá quyền khai thác khoáng sản cát lòng sông trên địa bàn tỉnh Bến Tre năm 2019 và ý kiến chỉ đạo của Hội đồng đấu giá quyền khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh Bến Tre;

​     1. Ngày 23 tháng 10 năm 2019, Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre đã phát hành Văn bản 871/ĐG, thông báo trên Đài Phát Thanh - Truyền hình tỉnh Bến Tre mời tổ chức, cá nhân tham gia đấu giá quyền khai thác khoáng sản tại 03 khu vực khoáng sản thuộc địa phận xã An Hiệp - An Ngãi Tây; xã An Đức - An Hòa Tây và xã An Hòa Tây, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

      2. Hồ sơ mời tham gia đấu giá quyền khai thác khoáng sản tại 03 khu vực khoáng sản nêu trên, được phát hành tại:

        Phòng Kế hoạch tài chính, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bến Tre;

        Điện thoại: 02753.839788. Địa chỉ: số 01, đường Trần Quốc Tuấn, phường 02, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

         3. Thời gian bán Hồ sơ mời tham gia đấu giá quyền khai thác khoáng sản và nhận Hồ sơ đăng ký tham gia Phiên đấu giá quyền khai thác khoáng sản:

         Từ 7 giờ 00 ngày 30/10/2019 đến 17 giờ 00 ngày 29/11/2019;

Xem chi tiết tại: 3235_2019_TB_STNMT.PDF

30/10/2019 9:00 SAĐã ban hành
Quy chế phối hợp quản lý tổng hợp  tài nguyên và bảo vệ môi trường biển trên địa bàn tỉnh Bến TreQuy chế phối hợp quản lý tổng hợp  tài nguyên và bảo vệ môi trường biển trên địa bàn tỉnh Bến Tre
Ngày 04/10/2017, Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre ký Quyết định số 52/2017/QĐ-UBND ban hành Quy chế phối hợp quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển tỉnh Bến Tre

          Ngày 04/10/2017, Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre ký Quyết định số 52/2017/QĐ-UBND ban hành Quy chế phối hợp quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển tỉnh Bến Tre. Việc ban hành quy chế nhằm mục đích đưa hoạt động quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển trên địa bàn tỉnh đảm bảo chặt chẽ, hiệu quả theo đúng quy định pháp luật; thiết lập cơ chế phối hợp đồng bộ, phân định và nâng cao trách nhiệm phối hợp giữa các sở, ban, ngành, đoàn thể, các tổ chức có liên quan và Ủy ban nhân dân các huyện ven biển trong hoạt động quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển; và nâng cao hiệu quả khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm tài nguyên và bảo vệ môi trường biển theo hướng bền vững.

mot_goc_bo_ThanhPhu.png

Một góc bờ biển Thạnh Phú, Bến Tre

Quy chế phối hợp được thực hiện theo nguyên tắc bảo đảm sự quản lý thống nhất, đồng bộ, hiệu quả, phân công rõ nhiệm vụ của từng sở, ban, ngành, Ủy ban nhân dân các huyện ven biển và các tổ chức có liên quan trong việc chủ trì, phối hợp thực hiện quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển; việc thực hiện các nhiệm vụ phối hợp phải trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao, bảo đảm bí mật quốc gia và bảo mật thông tin theo quy định của pháp luật; tuân thủ các quy định của Quy chế này và các quy định của pháp luật có liên quan; không cản trở các hoạt động khai thác, sử dụng hợp pháp tài nguyên biển, hải đảo và các hoạt động hợp pháp khác của tổ chức, cá nhân trên vùng biển của tỉnh.

Quy chế gồm có 03 Chương và 11 Điều, các nội dung phối hợp được nêu trong quy chế gồm:

- Phối hợp xây dựng, thực hiện văn bản pháp luật về quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển.

- Phối hợp lập và tổ chức thực hiện các chương trình, kế hoạch sử dụng khai thác bền vững tài nguyên, bảo vệ môi trường biển; quy hoạch, kế hoạch sử dụng biển; quy hoạch khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên vùng bờ; chương trình quản lý tổng hợp tài nguyên vùng bờ.

- Phối hợp quản lý, thực hiện hoạt động điều tra cơ bản, nghiên cứu khoa học về tài nguyên môi trường biển.

- Phối hợp thiết lập hệ thống quan trắc, giám sát tổng hợp về tài nguyên, môi trường biển; xây dựng hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu tài nguyên, môi trường biển.

- Phối hợp kiểm soát ô nhiễm môi trường biển; ứng phó, khắc phục sự cố tràn dầu, hóa chất độc trên biển.

- Phối hợp tuyên truyền về biển và hải đảo; phổ biến giáo dục pháp luật về quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển và hải đảo.

- Phối hợp hợp tác quốc tế về quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo.

- Thanh tra, kiểm tra giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển.

Quy chế phối hợp quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển tỉnh Bến Tre có hiệu lực thi hành kể từ ngày 16/10/2017./.

Vĩnh Thịnh


28/11/2017 10:00 SAĐã ban hành
Công bố đường mực nước triều cao trung bình nhiều năm trên địa bàn tỉnh Bến TreCông bố đường mực nước triều cao trung bình nhiều năm trên địa bàn tỉnh Bến Tre
Công bố đường mực nước triều cao trung bình nhiều năm trên địa bàn tỉnh Bến Tre

    Đường mực nước triều cao trung bình nhiều năm trên địa bàn tỉnh Bến Tre là tập hợp 223 điểm (111 điểm tính toán bổ sung trên cơ sở 112 điểm triều đặc trưng theo Quyết định 1790/QĐ-BTNMT ngày 06 tháng 6 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường) có độ cao địa hình trùng với giá trị mực nước triều cao trung bình nhiều năm.


Tải nội dung văn bản: 2584_QD_UBND_MucNuocTrieuTB_2019.zip

   

27/11/2019 9:00 SAĐã ban hành
Bản tin tình hình xâm nhập mặn tỉnh Bến Tre (Từ ngày 30/4 đến ngày 07/5/2019)Bản tin tình hình xâm nhập mặn tỉnh Bến Tre (Từ ngày 30/4 đến ngày 07/5/2019)
Bản tin dự báo độ mặn Từ ngày 30/04 đến ngày 07/05/2019 (Tuần 18/2019)

I/ TÓM TẮT TÌNH HÌNH XÂM NHẬP MẶN TỪ 07 GIỜ NGÀY 23 ĐẾN 07 GIỜ NGÀY 30/04/2019 (TUẦN 17/2019):

Diễn biến xâm nhập mặn cao nhất hàng ngày có xu thế giảm nhẹ từ ngày 23 đến ngày 26, sau đó tăng dần từ ngày 27 đến ngày 30.

Độ mặn xâm nhập sâu nhất xuất hiện trong các ngày 23-24 và ngày 29-30 ở mức xấp xỉ và thấp hơn so với tuần trước. Độ mặn xâm nhập sâu trên các sông ở mức xấp xỉ và thấp hơn năm 2015, năm 2018 cùng thời kỳ.

Độ mặn cao nhất đo được tại các nơi như sau:

Ø Trên sông Cửa Đại:

+ Tại Bình Đại (cảng cá Bình Đại - huyện Bình Đại): 17.2 ‰ ngày 23.

+ Tại Lộc Thuận (xã Lộc Thuận - huyện Bình Đại): 9.7 ‰  ngày 23.

+ Tại Giao Hoà (xã Giao Hoà - huyện Châu Thành): 1.6 ‰  ngày 29.

+ Tại Quới Sơn (Ấp 2, xã Quới Sơn - huyện Châu Thành): 0.6 ‰ ngày 23-24.

+ Tại Long Hòa (xã Long Hòa - huyện Bình Đại): 0.6 ‰ ngày 23-24 (sông Ba Lai).

Ø Trên sông Hàm Luông:

+ Tại An Thuận (cảng cá Tiệm Tôm – huyện Ba Tri): 14.8 ‰ ngày 24.

+ Tại Sơn Đốc (xã Hưng Lễ – huyện Giồng Trôm): 3.8 ‰ ngày 24.

+ Tại Phú Khánh (xã Phú Khánh – huyện Thạnh Phú): 4.2 ‰ ngày 29 (trong kênh).

+ Tại Vàm Cái Quao (xã Bình Khánh Đông – huyện Mõ Cày Nam): 4.2 ‰ ngày 24.

+ Tại Vàm Thủ Cửu (xã Phước Long – huyện Giồng Trôm): 1.5 ‰ ngày 29.

+ Tại Vàm Nước Trong (xã Tân Thành Bình – huyện Mõ Cày Bắc): 0.8 ‰ ngày 23-24.

+ Tại Mỹ Hóa (phường 07 – Tp. Bến Tre): 0.5 ‰  ngày 23.

+ Tại Thanh Tân (Ấp Thanh Xuân 1, xã Thanh Tân – huyện Mõ Cày Bắc): 0.1‰.

+ Tại An Hiệp (xã An Hiệp - huyện Châu Thành): 0.1 ‰.

+ Tại Vàm Mơn (xã Phú Sơn – huyện Chợ Lách): 0.1 ‰.

Ø Trên sông Cổ Chiên:

+ Tại Bến Trại (xã An Thuận – huyện Thạnh Phú): 15.3 ‰ ngày 27.

+ Tại Hương Mỹ (xã Hương Mỹ – huyện Mõ Cày Nam): 1.6 ‰  ngày 27.

+ Tại Cẩm Sơn (xã Cẩm Sơn – huyện Mõ Cày Nam): 1.1 ‰ ngày 29.

+ Tại Vàm Thom (xã Thành Thới B – huyện Mõ Cày Nam): 0.2 ‰ ngày 23-30.

+ Tại Nhuận Phú Tân (xã Nhuận Phú Tân - huyện Mõ Cày Bắc): 0.1 ‰.

Độ mặn 4 ‰ trên các sông chính đã xâm nhập đến:

- Sông Cửa Đại: xã Phú Thuận (huyện Bình Đại), (cách cửa sông khoảng 32 - 34km).

- Sông Hàm Luông: xã Thạnh Phú Đông (huyện Giồng Trôm) – xã Bình Khánh Đông (huyện Mõ Cày Nam), (cách cửa sông khoảng 34-36km).

- Sông Cổ Chiên: xã Thới Thạnh (huyện Thạnh Phú) - Hương Mỹ(huyện Mõ Cày Nam), (cách cửa sông khoảng 26 - 28km).

Độ mặn 1 ‰ trên các sông chính đã xâm nhập đến:

- Sông Cửa Đại: xã Quới Sơn (huyện Châu Thành), (cách cửa sông khoảng 44 - 46km).

- Sông Hàm Luông: xã Mỹ Thạnh An – Phường 07 (Tp. Bến Tre) – (Ấp Thanh Sơn 1) xã Thanh Tân (huyện Mõ Cày Bắc), (cách cửa sông khoảng 46 - 48km).

- Sông Cổ Chiên: xã Cẩm Sơn - Thành Thới A (huyện Mõ Cày Nam), (cách cửa sông khoảng 36 - 38km).

II / DỰ BÁO TÌNH HÌNH XÂM NHẬP MẶN TỪ NGÀY 30/04 ĐẾN NGÀY 07/05/2019) (TUẦN 18/2019):

Diễn biến xâm nhập mặn cao nhất hàng ngày có xu thế tăng nhanh từ ngày 30/04 đến ngày 03/05, sau đó ít biến đổi rồi giảm dần từ ngày 06 đến 07.

Độ mặn xâm nhập sâu nhất xuất hiện trong các ngày 03-06/05 ở mức sâu hơn so với tuần qua. Độ mặn xâm nhập sâu trên các sông ở mức xấp xỉ cùng thời kỳ năm 2015 và sâu hơn cùng thời kỳ năm 2018.

Ø Trên sông Cửa Đại:

+ Tại Bình Đại (cảng cá Bình Đại - huyện Bình Đại): Smax từ  18.0 ‰ đến 21.0 ‰.

+ Tại Lộc Thuận (xã Lộc Thuận - huyện Bình Đại): Smax từ  9.0 ‰ đến 12.0 ‰.

+ Tại Giao Hoà (xã Giao Hoà - huyện Châu Thành): Smax từ  2.5 ‰ đến 4.5 ‰.

+ Tại Quới Sơn (Ấp 2, xã Quới Sơn - huyện Châu Thành): Smax từ  0.5 ‰ đến 1.0 ‰.

+ Tại Long Hòa (xã Long Hòa - huyện Bình Đại): Smax từ  1.0 ‰ đến 2.0 ‰.

Ø Trên sông Hàm Luông:

+ Tại An Thuận (Tiệm Tôm – huyện Ba Tri): Smax từ 17.0 ‰ đến 20.0 ‰.

+ Tại Sơn Đốc (xã Hưng Lễ - huyện Giồng Trôm): Smax từ 7.0 ‰ đến 10.0 ‰.

+ Tại Phú Khánh (xã Phú Khánh – huyện Thạnh Phú): Smax từ 4.0 ‰ đến 7.0 ‰ (trong kênh).

+ Tại Vàm Cái Quao (xã Bình Khánh Đông – huyện Mõ Cày Nam): Smax từ 4.5 ‰ đến 6.5 ‰.

+ Tại Vàm Thủ Cửu (xã Phước Long – huyện Giồng Trôm): Smax từ 2.5 ‰ đến 4.5 ‰.

+ Tại Vàm Nước Trong (xã Tân Thành Bình – huyện Mõ Cày Bắc): Smax từ 1.0 ‰ đến 2.5 ‰.

+ Tại Mỹ Hoá (phường 07 – Tp. Bến Tre): Smax từ 0.5 ‰ đến 1.5 ‰.

+ Tại Thanh Tân (Ấp Thanh Xuân 1, xã Thanh Tân – huyện Mõ Cày Bắc): Smax từ 0.2 ‰ đến 0.5 ‰.

+ Tại An Hiệp (xã An Hiệp - huyện Châu Thành): Smax từ 0.2 ‰ đến 0.5 ‰.

+ Tại Vàm Mơn (xã Phú Sơn – huyện Chợ Lách): 0.1 ‰.

Ø Trên sông Cổ Chiên:

+ Tại Bến Trại (xã An Thuận – huyện Thạnh Phú): Smax từ  16.0 ‰ đến 19.0 ‰.

+ Tại Hương Mỹ (xã Hương Mỹ - huyện Mõ Cày Nam): Smax từ  4.0 ‰ đến 7.0 ‰.

+ Tại Cẩm Sơn (xã Cẩm Sơn – huyện Mõ Cày Nam): Smax từ  3.0 ‰ đến 5.0 ‰.

+ Tại Vàm Thom (xã Thành Thới B – huyện Mõ Cày Nam): Smax từ 0.5 ‰ đến 1.5 ‰.

+ Tại Nhuận Phú Tân (xã Nhuận Phú Tân - huyện Mõ Cày Bắc): Smax từ 0.2 ‰ đến 1.0 ‰.

Độ mặn 4 ‰ trên các sông chính có khả năng xâm nhập đến:

- Sông Cửa Đại: xã Long Định (huyện Bình Đại) – Giao Hòa (huyện Châu Thành), (cách cửa sông khoảng 38 - 40km).

- Sông Hàm Luông: xã Phước Long, Hưng Phong (huyện Giồng Trôm) – xã Phước Hiệp (huyện Mõ Cày Nam), (cách cửa sông khoảng 36 - 38km).

- Sông Cổ Chiên: xã Cẩm Sơn – Thành Thới A (huyện Mõ Cày Nam), (cách cửa sông khoảng 36 - 38km).

Độ mặn 1 ‰ trên các sông chính có khả năng xâm nhập đến:

- Sông Cửa Đại: xã Quới Sơn – Tân Thạch (huyện Châu Thành), (cách cửa sông khoảng 47 - 49km).

- Sông Hàm Luông: Phường 07 – xã Bình Phú (Tp. Bến Tre) – (Ấp Thanh Sơn 2-3) xã Thanh Tân (huyện Mõ Cày Bắc), (cách cửa sông khoảng 48 - 50km).

- Sông Cổ Chiên: xã Nhuận Phú Tân (huyện Mõ Cày Bắc), (cách cửa sông khoảng 50 - 52km).

* Cấp độ rủi ro thiên tai do xâm nhập mặn trong tuần này: cấp độ 1.

Ban_tin_man_30_4(Tuan_18_2019).jpgBan_tin_man_30_4_2019(Tuan_18_2019).jpg

13/05/2019 4:00 CHĐã ban hành
Thông tư số 63/2017/TT-BTNMT Quy định kỹ thuật đo vẽ bản đồ địa hình đáy biển tỷ lệ 1:5.000Thông tư số 63/2017/TT-BTNMT Quy định kỹ thuật đo vẽ bản đồ địa hình đáy biển tỷ lệ 1:5.000
Ngày 22 tháng 12 năm 2017, Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành Thông tư số 63/2017/TT-BTNMT Quy định kỹ thuật đo vẽ bản đồ địa hình đáy biển tỷ lệ 1:5.000

​Tải nội dung: TT_63_2017_TT_BTNMT.pdf

10/01/2018 4:00 CHĐã ban hành
CHÍNH SÁCH HỔ TRỢ CÁC CƠ SỞ GÂY Ô NHIỄM DI DỜI KHỎI KHU DÂN CƯCHÍNH SÁCH HỔ TRỢ CÁC CƠ SỞ GÂY Ô NHIỄM DI DỜI KHỎI KHU DÂN CƯ
Lộ trình thực hiện việc di chuyển các cơ sở gây ô nhiễm môi trường ra khỏi khu dân cư đã được quy định cụ thể trong Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.



Trên cơ sở đó, nhiều tỉnh, thành phố đã tiến hành phê duyệt và tổ chức thực hiện chương trình di dời cơ sở sản xuất, kinh doanh gây ô nhiễm môi trường và đã đạt được kết quả đáng khích lệ. Điều quan trọng nhất là các địa phương phải chủ động quy hoạch, bố trí quỹ đất hợp lý kết hợp với đầu tư cơ sở hạ tầng nhằm đáp ứng được các yêu cầu của cơ sở khi di dời tới.
Thời gian qua, Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng đã tích cực phối hợp với các bộ, ngành, địa phương xây dựng và trình Chính phủ ban hành một số cơ chế, chính sách nhằm hỗ trợ di dời cơ sở sản xuất kinh doanh do ô nhiễm môi trường. Theo đó, cơ chế, chính sách hỗ trợ tập trung giải quyết 2 nhóm vấn đề sau:
1. Hỗ trợ các cơ chế, chính sách về đất đai như sau:
- Được Nhà nước giao hoặc cho thuê đất trực tiếp mà không phải thương lượng với người sử dụng đất để nhận chuyển nhượng.
- Không phải đấu giá quyền sử dụng đất khi Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất tại nơi mà cơ sở di chuyển đến.
- Miễn, giảm tiền sử dụng đất khi được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất.
- Được miễn tiền thuê đất, thuê mặt nước trong thời hạn nhất định khi dự án đi vào hoạt động.
- Được bồi thường, hỗ trợ trong trường hợp Nhà nước thu hồi đất.
- Được sử dụng số tiền thu được do chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong trường hợp phải di dời theo quy hoạch do ô nhiễm môi trường và được chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
2. Hỗ trợ các cơ chế, chính sách về tài chính như sau:
- Được miễn thuế 2 năm, kể từ khi có thu nhập chịu thuế và giảm 50% số thuế phải nộp cho 2 năm tiếp theo.
- Được sử dụng một phần nguồn thu tiền sử dụng đất tại địa điểm phải di dời để đầu tư mở rộng, di dời, nâng cao năng lực sản xuất tại địa điểm mới.
- Được áp dụng chính sách miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định tại điều 35 Nghị định số 24/2007/NĐ-CP ngày 14/02/2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật thuế thu nhập doanh nghiệp.
- Được hưởng các cơ chế, chính sách hỗ trợ cho vay từ Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam.
Hiện tại Bộ Tài nguyên và Môi trường đang xây dựng trình Chính phủ chỉ thị về một số giải pháp cấp bách đẩy mạnh công tác xử lý ô nhiễm triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, trong đó nêu rõ trách nhiệm của các bộ, ngành, địa phương có liên quan. Đồng thời, khẩn trương hoàn thành chương trình hỗ trợ có mục tiêu nhằm xử lý, khắc phục ô nhiễm và giảm thiểu suy thoái môi trường từ ngân sách nhà nước đối với một số đối tượng thuộc khu vực công ích, tiếp tục rà soát, điều chỉnh các cơ chế, chính sách có liên quan nhằm hổ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ sở khi di dời địa điểm. Qua đó góp phần cùng với các bộ, ngành và địa phương thực hiện thành công các mục tiêu mà Kế hoạch xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng đã đặt ra đến năm 2012.

(theo Bản tin Tài nguyên và Môi trường)



04/12/2007 12:00 SAĐã ban hành
Những quy định mới về trình tự giải quyết khiếu nại về đất đaiNhững quy định mới về trình tự giải quyết khiếu nại về đất đai
Quyền khiếu nại là một trong những quyền cơ bản của công dân trong một xã hội mà Nhà nước quản lý bằng pháp luật (Nhà nước pháp quyền). Khiếu nại là việc công dân đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình.



Trong các lĩnh vực thuộc đời sống xã hội giai đoạn hiện nay, có thể nói quản lý đất đai là một trong những lĩnh vực có số vụ khiếu kiện nhiều nhất. Khiếu nại đúng nơi và giải quyết khiếu nại đúng quy định sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý xã hội của bộ máy Nhà nước, ổn định tình hình trật tự của địa phương và tạo niềm tin của nhân dân.
Đến cuối tháng 11/2007 số đơn khiếu nại gửi đến UBND tỉnh Bến Tre là 890 đơn. Trong đó, khiếu nại liên quan đến đất đai là 537đơn (chiếm 60,34%), khiếu nại ở các lĩnh vực khác chiếm chưa đến 40%. Tuy nhiên một vấn đề đáng quan tâm là, trong số 537 đơn khiếu nại liên quan đến đất đai, qua rà soát chỉ có 128 đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của cấp tỉnh (23,8%), số đơn còn lại 409 (76,2%) thuộc thẩm quyền giải quyết của UBND cấp huyện và cấp xã. Điều đó cho thấy có một số lượng lớn đơn khiếu nại vượt cấp và không đúng thẩm quyền, kéo theo hệ quả là có một số lượng lớn người đi lên tỉnh gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự địa phương, ảnh hưởng hoạt động bình thường của các cơ quan cấp tỉnh và ảnh hưởng đến lao động sản xuất của chính những người đi khiếu nại. Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên có thể một phần là do công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật về đất đai chưa đạt được hiệu quả, người dân chưa nắm được các quy định về khiếu nại trong lĩnh vực đất đai.
Nhằm giúp bạn đọc nắm được vấn đề khiếu nại và giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực đất đai, chúng tôi xin tổng hợp và giới thiệu các quy định đang có hiệu lực thi hành từ Luật Khiếu nại tố cáo, Luật Đất đai 2003 và các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai… như sau:

CÁC QUYẾT ĐỊNH HÀNH CHÍNH HOẶC HÀNH VI HÀNH CHÍNH BỊ KHIẾU NẠI ĐÓ LÀ:

Quyết định hành chính bao gồm: quyết định giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, trưng dụng đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất; quyết định bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng, tái định cư; quyết định cấp hoặc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; quyết định gia hạn thời hạn sử dụng đất.
Hành vi hành chính trong quản lý đất đai bị khiếu nại là hành vi của cán bộ, công chức nhà nước khi giải quyết những công việc nêu trên.

TRÌNH TỰ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI ĐỐI VỚI QUYẾT ĐỊNH HÀNH CHÍNH, HÀNH VI HÀNH CHÍNH CỦA CHỦ TỊCH ỦY BAN NHÂN CẤP HUYỆN

- Trong thời hạn không quá chín mươi (90) ngày, kể từ ngày Chủ tịch UBND cấp huyện có quyết định hành chính, hành vi hành chính trong quản lý đất đai mà người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không đồng ý với quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính đó thì có quyền nộp đơn khiếu nại đến UBND cấp huyện.
Chủ tịch UBND cấp huyện có trách nhiệm giải quyết khiếu nại theo thời hạn quy định của Luật Khiếu nại, tố cáo như sau : Thời gian thụ lý giải quyết trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được đơn khiếu nại; thời gian giải quyết lần đầu không quá 30 ngày, đối với những vụ việc phức tạp có thể kéo dài nhưng không quá 45 ngày, kể từ ngày thụ lý để giải quyết; ở những vùng sâu, vùng xa thì thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu không quá 45 ngày, đối với những vụ việc phức tạp có thể kéo dài nhưng không quá 60 ngày, kể từ ngày thụ lý để giải quyết.
Quyết định giải quyết của Chủ tịch UBND cấp huyện phải được công bố công khai và gửi cho người khiếu nại, người khác có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.
- Trong thời hạn không quá bốn mươi lăm (45) ngày, kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết của Chủ tịch UBND cấp huyện mà người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết đó thì có quyền khởi kiện ra Toà án nhân dân hoặc khiếu nại đến UBND cấp tỉnh.
Trường hợp khiếu nại đến UBND cấp tỉnh thì Chủ tịch UBND cấp tỉnh có trách nhiệm giải quyết khiếu nại theo thời hạn quy định của Luật Khiếu nại, tố cáo như sau : Thời gian thụ lý giải quyết trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được đơn khiếu nại; thời gian giải quyết lần hai không quá 45 ngày, đối với những vụ việc phức tạp có thể kéo dài nhưng không quá 60 ngày, kể từ ngày thụ lý để giải quyết; ở những vùng sâu, vùng xa thì thời hạn giải quyết khiếu nại lần hai không quá 60 ngày, đối với những vụ việc phức tạp có thể kéo dài nhưng không quá 70 ngày, kể từ ngày thụ lý để giải quyết.
Quyết định giải quyết khiếu nại của Chủ tịch UBND cấp tỉnh là quyết định giải quyết lần hai, phải được công bố công khai và gửi cho người khiếu nại, người khác có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.

TRÌNH TỰ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI ĐỐI VỚI QUYẾT ĐỊNH HÀNH CHÍNH, HÀNH VI HÀNH CHÍNH CỦA CHỦ TỊCH ỦY BAN NHÂN CẤP TỈNH

- Trong thời hạn không quá ba mươi (30) ngày, kể từ ngày Chủ tịch UBND cấp tỉnh có quyết định hành chính, hành vi hành chính trong quản lý đất đai mà người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không đồng ý với quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính đó thì có quyền nộp đơn khiếu nại đến UBND cấp tỉnh.
Chủ tịch UBND cấp tỉnh có trách nhiệm giải quyết khiếu nại theo thời hạn quy định của Luật Khiếu nại, tố cáo (lần đầu như nêu trên).
Quyết định giải quyết khiếu nại của Chủ tịch UBND cấp tỉnh phải được công bố công khai và gửi cho người khiếu nại, người khác có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.
- Trong thời hạn không quá bốn mươi lăm (45) ngày, kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết của Chủ tịch UBND cấp tỉnh mà người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết đó thì có quyền khởi kiện tại Toà án nhân dân.

ĐỐI VỚI CÁC TRƯỜNG HỢP KHIẾU NẠI KHÁC CÓ LIÊN QUAN ĐẾN QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI

Việc giải quyết khiếu nại đối với hành vi hành chính của cán bộ, công chức thuộc UBND xã, phường, thị trấn; hành vi hành chính của cán bộ, công chức thuộc Phòng Tài nguyên và Môi trường; hành vi hành chính của cán bộ, công chức thuộc Văn phòng UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; hành vi hành chính của cán bộ, công chức thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường, hành vi hành chính của cán bộ, công chức thuộc Văn phòng UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; quyết định hành chính của Sở Tài nguyên và Môi trường và quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lý đất đai của Chủ tịch UBND huyện, Chủ tịch UBND tỉnh không thuộc các trường hợp nêu trên được thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo./.

Vĩnh Thịnh




04/12/2007 12:00 SAĐã ban hành
Bản tin tình hình xâm nhập mặn tỉnh Bến Tre (Từ ngày 14/02 đến ngày 21/2/2017)Bản tin tình hình xâm nhập mặn tỉnh Bến Tre (Từ ngày 14/02 đến ngày 21/2/2017)
Bản tin dự báo độ mặn từ ngày 14 tháng 02 đến ngày 21 tháng 02 năm 2017 (Tuần 07/2017)

I/ TÓM TẮT TÌNH HÌNH XÂM NHẬP MẶN TỪ NGÀY 07 ĐẾN 07 GIỜ NGÀY 14/02/2017 (TUẦN 06/2017):

Diễn biến xâm nhập mặn cao nhất hàng ngày có xu thế xâm nhập sâu dần từ ngày 07 đến ngày 14.

Độ mặn xâm nhập sâu nhất xuất hiện trong các ngày 12 đến ngày 14 và ở mức sâu hơn so với tuần trước và thấp hơn so với cùng thời kỳ năm 2016.

Độ mặn cao nhất đo được tại các nơi như sau:

Ø Trên sông Cửa Đại:

+ Tại Bình Đại (cảng cá Bình Đại - huyện Bình Đại): 21.6 ‰ ngày 11.

+ Tại Lộc Thuận (xã Lộc Thuận - huyện Bình Đại): 6.2 ‰  ngày 14.

+ Tại Giao Hoà (xã Giao Hoà - huyện Châu Thành): 1.8 ‰  ngày 11.

+ Tại Quới Sơn (Ấp 2, xã Quới Sơn - huyện Châu Thành): 0.2 ‰ ngày12-14.

+ Tại Long Hòa (xã Long Hòa - huyện Bình Đại): 0.1 ‰. (sông Ba Lai).

Ø Trên sông Hàm Luông:

+ Tại An Thuận (cảng cá Tiệm Tôm – huyện Ba Tri): 25.0 ‰ ngày 12.

+ Tại Sơn Đốc (xã Hưng Lễ – huyện Giồng Trôm): 9.5 ‰ ngày 11.

+ Tại Phú Khánh (xã Phú Khánh – huyện Thạnh Phú): 5.9 ‰ ngày 13.

+ Tại Vàm Thủ Cửu (xã Phước Long – huyện Giồng Trôm): 1.9 ‰ ngày 13,14.

+ Tại Mỹ Hoá (phường 07 – Tp. Bến Tre): 0.4 ‰  ngày 14.

+ Tại An Hiệp (xã An Hiệp - huyện Châu Thành): 0.1 ‰.

Ø Trên sông Cổ Chiên:

+ Tại Bến Trại (xã An Thuận – huyện Thạnh Phú): 20.1 ‰ ngày 10.

+ Tại Hương Mỹ (xã Hương Mỹ – huyện Mõ Cày Nam): 2.9 ‰  ngày 12.

+ Tại Thành Thới B (xã Thành Thới B – huyện Mõ Cày Nam): 0.2 ‰ ngày 12.

+ Tại Nhuận Phú Tân (xã Nhuận Phú Tân - huyện Mõ Cày Bắc): 0.1 ‰.

Độ mặn 4 ‰ trên các sông chính đã xâm nhập đến:

- Sông Cửa Đại: xã Phú Thuận (huyện Bình Đại), (cách cửa sông khoảng 32-34km).

- Sông Hàm Luông: xã Thạnh Phú Đông (huyện Giồng Trôm) – xã Bình Khánh Đông (huyện mõ Cày Nam), (cách cửa sông khoảng 32 - 34km).

- Sông Cổ Chiên: xã Thới Thạnh (huyện Thạnh Phú), (cách cửa sông khoảng 26-28km).

Độ mặn 1 ‰ trên các sông chính đã xâm nhập đến:

- Sông Cửa Đại: xã  Quới Sơn (huyện Châu Thành), (cách cửa sông khoảng 44-46km).

- Sông Hàm Luông: xã Mỹ Thạnh An (Tp. Bến Tre), (cách cửa sông khoảng 44-46km).

- Sông Cổ Chiên: xã Cẩm Sơn – Thành Thới A (huyện Mõ Cày Nam), (cách cửa sông khoảng 36 - 38km).

II / DỰ BÁO TÌNH HÌNH XÂM NHẬP MẶN TỪ NGÀY 14 ĐẾN NGÀY 21/02/2017 (TUẦN 07/2017):

Diễn biến xâm nhập mặn cao nhất hàng ngày có xu thế xâm nhập sâu dần từ ngày 14 đến ngày 19, sau đó ít biến đổi.

Độ mặn xâm nhập sâu nhất xuất hiện trong các ngày 17-19 và ở mức sâu hơn so với tuần qua và tương đương so với cùng thời kỳ năm 2016.

Ø Trên sông Cửa Đại:

+ Tại Bình Đại (cảng cá Bình Đại - huyện Bình Đại): Smax từ  25.0 ‰ đến 28.0 ‰.

+ Tại Lộc Thuận (xã Lộc Thuận - huyện Bình Đại): Smax từ  12.0 ‰ đến 15.0 ‰.

+ Tại Giao Hoà (xã Giao Hoà - huyện Châu Thành): Smax từ  6.0 ‰ đến 8.0 ‰.

+ Tại Quới Sơn (Ấp 2, xã Quới Sơn - huyện Châu Thành): Smax từ  2.0 ‰ đến 4.0 ‰.

+ Tại Long Hoà (xã Long Hoà – huyện Bình Đại): 3.0 ‰  đến 5.0 ‰ (sông Ba Lai).

Ø Trên sông Hàm Luông:

+ Tại An Thuận (Tiệm Tôm – huyện Ba Tri): Smax từ 27.0 ‰ đến 30.0 ‰.

+ Tại Sơn Đốc (xã Hưng Lễ - huyện Giồng Trôm): Smax từ 13.0 ‰ đến 16.0 ‰.

+ Tại Phú Khánh (xã Phú Khánh – huyện Thạnh Phú): Smax từ 11.0 ‰ đến 14.0 ‰ (trong kênh).

+ Tại Vàm Thủ Cửu (xã Phước Long – huyện Giồng Trôm): Smax từ 8.0 ‰ đến 11.0 ‰.

+ Tại Mỹ Hoá (phường 07 – Tp. Bến Tre): Smax từ 5.0 ‰ đến 7.0 ‰.

+ Tại An Hiệp (xã An Hiệp – huyện Châu Thành): Smax từ 2.5 ‰ đến 4.5 ‰.

+ Tại Vàm Mơn (xã Phú Sơn – huyện Chợ Lách): Smax từ 0.5 ‰ đến 2.5 ‰.

+ Tại Hòa Nghĩa (xã Hòa Nghĩa - huyện Chợ Lách): 0.2 ‰.

Ø Trên sông Cổ Chiên:

+ Tại Bến Trại (xã An Thuận – huyện Thạnh Phú): Smax từ  26.0 ‰ đến 29.0 ‰.

+ Tại Hương Mỹ (xã Hương Mỹ - huyện Mõ Cày Nam): Smax từ 12.0 ‰ đến 15.0‰.

+ Tại Thành Thới B (xã Thành Thới B – huyện Mõ Cày Nam): Smax từ 9.0 ‰ đến 11.0 ‰.

+ Tại Nhuận Phú Tân (xã Nhuận Phú Tân): Smax từ 3.0 ‰ đến 5.0 ‰.

Độ mặn 4 ‰ trên các sông chính có khả năng xâm nhập đến:

- Sông Cửa Đại: xã Quới Sơn (huyện Châu Thành), (cách cửa sông khoảng 44-46km).

- Sông Hàm Luông: xã Sơn Hòa (huyện Châu Thành), (cách cửa sông khoảng 52-54km).

- Sông Cổ Chiên: xã Nhuận Phú Tân (huyện Mõ Cày Bắc), (cách cửa sông khoảng 54 - 56km).

Độ mặn 1 ‰ trên các sông chính có khả năng xâm nhập đến:

- Sông Cửa Đại: xã An Khánh – Phú Túc (huyện Châu Thành), (cách cửa sông khoảng 56-58km).

- Sông Hàm Luông: xã Phú Sơn (huyện Chợ Lách), (cách cửa sông khoảng 64-66km).

- Sông Cổ Chiên: xã Tân Thiềng (huyện Chợ Lách), (cách cửa sông khoảng 64 - 66km).

* Cấp độ rủi ro thiên tai do xâm nhập mặn trong tuần này:

Sông Cửa Đại: cấp độ 1.

Sông Hàm Luông:cấp độ 2.

Sông Cổ Chiên: cấp độ 2.

Ban tin man 14-2-2017.png

Ban tin man 14-2-2017.png

16/02/2017 2:45 CHĐã ban hành
1 - 30Next
Ảnh
Video
SỞ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG TỈNH BẾN TRE
Chịu trách nh​iệm chính: Ông Bùi Minh Tuấn - Chức vụ: Giám đốc Sở TN và MT | Giấy phép số: 139/GP - BC, ngày 16 tháng 4 năm 2007
Địa chỉ trụ sở: Số 126A, đường Nguyễn Thị Định, Tổ 10, Khu phố 2, Phường Phú Tân, Tp.Bến Tre, tỉnh Bến Tre
Điện thoại: 0275.3822210 - 0275.3825696 - Fax: 0275.3813176; Email: stnmt@bentre.gov.vn