Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksTin tức sự kiện

 
Tin tức sự kiện - Môi trường
 
Quyết định số 2093/QĐ-UBND ngày 27 tháng 8 năm 2020 của Ủy ban nhân dân tỉnh về Phê duyệt quy trình nội bộ giải quyết 02 thủ tục hành chính trong lĩnh vực môi trường thuộc thẩm quyền tiếp nhận và giải quyết của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Bến Tre 
 
Gói thầu: Xây dựng kế hoạch thực hiện Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu tỉnh Bến Tre giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030 
 
Báo cáo tổng hợp Dự án Quy hoạch mạng lưới quan trắc môi trường tỉnh Bến Tre năm 2011 
 
Sở Tài nguyên và Môi trường đã chủ động liên hệ và tham khảo các mô hình xử lý rác thải sinh hoạt của các đơn vị trong và ngoài tỉnh trong đó có mô hình thu gom, phân loại và tái chế rác thải của Công ty Cổ phần Doanh nghiệp xã hội Revival waste (Công ty RW) 
 
Để thực hiện mục tiêu đến năm 2020 có 100% xã đạt tiêu chí sô 17, Sở Tài nguyên và Môi trường đã tham mưu xây dựng và trình Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Đề án về thực hiện tiêu chí Môi trường và An toàn thực phẩm trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh 
 
Thông báo mở lớp đào tạo nghiệp vụ Bảo vệ môi trường trong kinh doanh xăng dầu đợt 1 năm 2020 
 
Kết quả phân tích mẫu tại 02 vị trí quan trắc khu vực đập tạm trên sông Ba Lai ngày 20/4/2020 cho thấy giá trị độ mặn trong khoảng 5,6–5,7mg/l. Độ mặn thay đổi không đáng kể so với quan trắc đợt 03 ngày 06/4/2020. 
 
Kết quả phân tích mẫu nước mặt khu vực nhà máy nước Sơn Đông ngày 20/4/2020 cho thấy giá trị độ mặn dao động trong khoảng 4,9-5,3 mg/l. So với kết quả các đợt quan trắc trước, độ mặn có xu hướng giảm dần 
 
Trung tâm quan trắc tài nguyên và môi trường tỉnh Bến Tre đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường đánh giá và chứng nhận là tổ chức đủ điều kiện hoạt động dịch vụ quan trắc môi trường (số hiệu: VIMCERTS 262) theo Quyết định số 100/QĐ-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành ngày 14 tháng 01 năm 2020. 
 
Trung tâm Quan trắc tài nguyên và môi trường thông báo tuyển dụng hợp đồng lao động vị trí Giao dịch khách hàng, tiếp nhận và trả kết quả, quản lý các hợp đồng dịch vụ 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
Thông báo về việc mở lớp đào tạo nghiệp vụ Bảo vệ môi trường trong kinh doanh xăng dầu đợt 1 năm 2020Thông báo về việc mở lớp đào tạo nghiệp vụ Bảo vệ môi trường trong kinh doanh xăng dầu đợt 1 năm 2020
Thông báo mở lớp đào tạo nghiệp vụ Bảo vệ môi trường trong kinh doanh xăng dầu đợt 1 năm 2020

​1. Mục đích đào tạo: 

    - Trang bị kiến thức cơ bản về môi trường và bảo vệ môi trường cho người học, nhằm nâng cao nhận thức về môi trường, trách nhiệm bảo vệ môi trường trong kinh doanh xăng dầu. 

     - Nắm được kiến thức cơ bản về môi trường, ô nhiễm môi trường trong kinh doanh xăng dầu. - Hiểu được tính chất, cơ chế ảnh hưởng của chất độc hại trong xăng dầu đối với môi trường và sức khỏe con người. 

      - Nắm vững cách xử lý, khắc phục, hạn chế tác động của ô nhiễm môi trường trong kinh doanh xăng dầu. 

2. Đối tượng, hình thức đào tạo: 

      - Đối tượng: Quản lý và nhân viên trực tiếp phục vụ kinh doanh tại cơ sở kinh doanh xăng dầu. 

      - Hình thức: Sở Tài nguyên và Môi trường phối hợp với các đơn vị có liên quan tổ chức thực hiện. 

3. Thời gian và địa điểm: 

     * Thời gian: 03 ngày (ngày 23, 24 và 25 tháng 6 năm 2020). Đăng ký từ ngày thông báo đến ngày 22 tháng 6 năm 2020. 

     * Địa điểm: Trung tâm điều dưỡng người có công (khu nghỉ dưỡng Mỹ An). Địa chỉ: số 18B, ấp Mỹ An B, xã Mỹ Thạnh An, Tp Bến Tre, tỉnh Bến Tre. 

4. Học phí: 1.000.000 đồng/học viên (bao gồm soạn tài liệu, tiền giảng viên, chấm bài, soạn thảo câu trắc nghiệm, hội trường, máy chiếu, trông giữ xe phục vụ cho học viên lớp học, giải khát, giấy chứng nhận hoàn thành khóa học, công tác tổ chức lớp…). 

5. Giảng viên: có thâm niên công tác, có học hàm thạc sĩ, đồng thời trực tiếp biên soạn các tài liệu. 

6. Nghĩa vụ của học viên: phải theo học đầy đủ các chuyên đề và có bài thu hoạch đạt yêu cầu. Nhập học: học viên mang theo 02 tấm màu cỡ 3x4, chứng minh nhân dân photo (có chứng thực). 

7. Nội dung đào tạo: 

     - Chuyên đề 1: Ảnh hưởng của hoạt động kinh doanh xăng dầu đến môi trường, sức khỏe con người và biện pháp quản lý. 

     - Chuyên đề 2: Những quy định của pháp luật, trách nhiệm và nghĩa vụ bảo vệ môi trường của tổ chức, cá nhân trong xăng dầu. 

     - Chuyên đề 3: Một số biện pháp quản lý, xử lý nước thải nhiễm dầu, ứng phó sự cố tràn dầu và sự cố cháy nổ trong kinh doanh xăng dầu. 

     - Chuyện đề 4: An toàn môi trường trong quá trình vận chuyển và kinh doanh xăng dầu. 

     - Chuyên đề 5: Một số biện pháp quản lý, xử lý chất thải rắn trong kinh doanh xăng dầu. 

     - Chuyên đề 6: Hướng dẫn viết thu hoạch cuối khóa.

Chi tiết xem tại: thong_bao_xd_dot_12020.pdf

17/06/2020 4:00 CHĐã ban hành
Thực hiện nghiêm việc sử dụng hoá đơn chứng từ trong hoạt động mua bán, quản lý khai thác cát lòng sôngThực hiện nghiêm việc sử dụng hoá đơn chứng từ trong hoạt động mua bán, quản lý khai thác cát lòng sông
Sở Tài nguyên và Môi trường đề nghị các Đơn vị khai thác cát  thực hiện nghiêm việc sử dụng hoá đơn chứng từ trong hoạt động mua bán, quản lý khai thác cát lòng sông trên địa bàn tỉnh Bến Tre.
18/10/2018 4:00 CHĐã ban hành
NGHỊ ĐỊNH 84 VỀ ĐẤT ĐAI_ Bài 4 : Những quy định mới về thu hồi đất và bồi thường hỗ trợ về đất khi Nhà nước thu hồi đất (Tiếp theo)NGHỊ ĐỊNH 84 VỀ ĐẤT ĐAI_ Bài 4 : Những quy định mới về thu hồi đất và bồi thường hỗ trợ về đất khi Nhà nước thu hồi đất (Tiếp theo)
Chuyên mục Tài nguyên và Môi trường kỳ này xin giới thiệu tiếp những quy định mới về thu hồi đất và bồi thường hỗ trợ về đất khi Nhà nước thu hồi đất được quy định trong Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ.



ĐỐI VỚI ĐẤT ĐƯỢC GIAO KHÔNG ĐÚNG THẨM QUYỀN TRƯỚC NGÀY 01/7/2004 NHƯNG ĐÃ NỘP TIỀN ĐỂ ĐƯỢC SỬ DỤNG ĐẤT MÀ CHƯA ĐƯỢC CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN

Đất được giao không đúng thẩm quyền trước ngày 01/7/2004 nhưng người đang sử dụng đất đã nộp tiền để được sử dụng đất mà chưa được cấp Giấy chứng nhận thì việc bồi thường, hỗ trợ về đất được thực hiện theo quy định sau:
Trường hợp sử dụng đất trước ngày 15/10/1993 thì người đang sử dụng đất được bồi thường về đất đối với diện tích và loại đất được giao.
Trường hợp sử dụng đất trong khoảng thời gian từ ngày 15/10/1993 đến trước ngày 01/7/2004 thì người đang sử dụng đất được bồi thường, hỗ trợ về đất như sau:
- Được bồi thường, hỗ trợ về đất đối với diện tích đất được giao là đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp không phải là đất ở; đối với diện tích đất ở trong hạn mức giao đất quy định.
- Được bồi thường về đất đối với diện tích đất được giao là đất ở ngoài hạn mức giao đất quy định nhưng phải trừ đi tiền sử dụng đất phải nộp theo mức thu quy định.

KHI DIỆN TÍCH ĐO ĐẠC THỨC TẾ KHÁC VỚI DIỆN TÍCH GHI TRÊN GIẤY TỜ

Trường hợp thu hồi đất mà diện tích đo đạc thực tế khác với diện tích ghi trên giấy tờ về quyền sử dụng đất thì được bồi thường theo quy định sau:
Nếu diện tích đo đạc thực tế nhỏ hơn diện tích ghi trên giấy tờ về quyền sử dụng đất thì bồi thường theo diện tích đo đạc thực tế.
Nếu diện tích đo đạc thực tế nhiều hơn diện tích ghi trên giấy tờ về quyền sử dụng đất do việc đo đạc trước đây thiếu chính xác hoặc do khi kê khai đăng ký trước đây người sử dụng đất không kê khai hết diện tích nhưng toàn bộ ranh giới thửa đất đã được xác định, không có tranh chấp với những người sử dụng đất liền kề, không do lấn, chiếm thì bồi thường theo diện tích đo đạc thực tế.
Nếu diện tích đất đo đạc thực tế nhiều hơn diện tích ghi trên giấy tờ về quyền sử dụng đất, được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận diện tích nhiều hơn là do khai hoang hoặc nhận chuyển quyền của người sử dụng đất trước đó, đất đã sử dụng ổn định và không có tranh chấp thì được bồi thường theo diện tích đo đạc thực tế.
Không bồi thường về đất đối với phần diện tích đất nhiều hơn diện tích đất ghi trên giấy tờ về quyền sử dụng đất mà diện tích đất nhiều hơn là do hành vi lấn, chiếm mà có.

BỒI THƯỜNG BẰNG ĐẤT Ở KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP

Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp bị thu hồi trên 30% diện tích đất nông nghiệp trong trường hợp không được Nhà nước bồi thường bằng đất nông nghiệp tương ứng mà không có nguyện vọng nhận bồi thường bằng đất làm mặt bằng sản xuất hoặc kinh doanh dịch vụ phi nông nghiệp thì được bồi thường bằng giao đất ở có thu tiền sử dụng đất tại khu tái định cư hoặc tại vị trí trong khu dân cư phù hợp với quy hoạch. Mức đất được giao do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào khả năng quỹ đất và mức đất bị thu hồi của từng hộ gia đình, cá nhân để quy định. Giá đất ở được giao bằng giá loại đất nông nghiệp tương ứng đã thu hồi cộng với chi phí đầu tư hạ tầng khu dân cư nhưng không cao hơn giá đất ở có điều kiện tương ứng tại thời điểm thu hồi đất đã được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định và công bố.

CÔNG BỐ CHỦ TRƯƠNG THU HỒI ĐẤT

Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi có đất bị thu hồi có trách nhiệm chỉ đạo phổ biến rộng rãi chủ trương thu hồi đất, các quy định về thu hồi đất, về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi thu hồi đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và phát triển kinh tế; Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất bị thu hồi có trách nhiệm niêm yết công khai chủ trương thu hồi đất tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã và tại các điểm sinh hoạt khu dân cư nơi có đất bị thu hồi, thông báo rộng rãi trên hệ thống đài truyền thanh cấp xã (ở những nơi có hệ thống truyền thanh).
Sau khi phương án tổng thể được xét duyệt, Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng có trách nhiệm thông báo cho người đang sử dụng đất biết lý do thu hồi đất; dự kiến về mức bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; biện pháp chuyển đổi ngành nghề, giải quyết việc làm; thời gian di chuyển và bàn giao đất bị thu hồi được nêu trong phương án tổng thể.
Người sử dụng đất có quyền căn cứ vào quy định của pháp luật để nhận xét, đề đạt hoặc yêu cầu Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng giải thích về những nội dung đã được thông báo.

ĐƯỢC QUYỀN KHIẾU NẠI NHƯNG VẪN THỰC HIỆN QUYẾT ĐỊNH THU HỒI ĐẤT

Khi không đồng ý với nội dung quyết định thu hồi đất, người có đất bị thu hồi đất có quyền khiếu nại. Tuy nhiên, trong khi chưa có quyết định giải quyết khiếu nại thì vẫn phải tiếp tục thực hiện quyết định thu hồi đất. Trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết khiếu nại có kết luận việc thu hồi đất là trái pháp luật thì phải dừng thực hiện quyết định thu hồi đất; cơ quan nhà nước đã ban hành quyết định thu hồi đất phải có quyết định hủy bỏ quyết định thu hồi đất đã ban hành và bồi thường thiệt hại do quyết định thu hồi đất gây ra (nếu có). Trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết khiếu nại có kết luận việc thu hồi đất là đúng pháp luật thì người có đất bị thu hồi phải chấp hành quyết định thu hồi đất.

CÔNG KHAI PHƯƠNG ÁN BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ TÁI ĐỊNH CƯ

Trong thời hạn không quá ba (03) ngày, kể từ ngày nhận được phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã được phê duyệt, Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã phổ biến và niêm yết công khai quyết định phê duyệt phương án bồi thường tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã và địa điểm sinh hoạt khu dân cư nơi có đất bị thu hồi; gửi quyết định bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho người có đất bị thu hồi, trong đó nêu rõ về mức bồi thường, hỗ trợ, về bố trí nhà hoặc đất tái định cư (nếu có), thời gian, địa điểm chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ và thời gian bàn giao đất đã bị thu hồi cho Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng.

THỰC HIỆN CHI TRẢ TIỀN TIỀN BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ TÁI ĐỊNH CƯ

Sau năm (05) ngày, kể từ ngày gửi văn bản thông báo về phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đến người có đất bị thu hồi, Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng thực hiện việc chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ. Trường hợp người được bồi thường, hỗ trợ ủy quyền cho người khác nhận thay thì người được bồi thường, hỗ trợ phải làm giấy ủy quyền theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bố trí tái định cư thì Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng có trách nhiệm bàn giao nhà ở hoặc đất ở và giấy chứng nhận về quyền sử dụng đất ở, quyền sở hữu nhà ở cho người được bố trí tái định cư trước khi giải phóng mặt bằng. Trong trường hợp có thoả thuận giữa Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng và người được bố trí tái định cư về việc nhận nhà ở, đất ở tái định cư sau khi giải phóng mặt bằng thì thực hiện theo văn bản thoả thuận có chữ ký của cả hai bên.
Trường hợp người bị thu hồi đất không nhận tiền chi trả về bồi thường, hỗ trợ, không nhận nhà hoặc đất tái định cư thì Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng chuyển khoản tiền chi trả vào tài khoản riêng mở tại Ngân hàng và giữ nguyên nhà hoặc đất tái định cư để làm căn cứ cho việc giải quyết khiếu nại sau này (nếu có).

THỜI ĐIỂM BÀN GIAO ĐẤT ĐÃ BỊ THU HỒI

Trong thời hạn hai mươi (20) ngày, kể từ ngày Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng thanh toán xong tiền bồi thường, hỗ trợ cho người bị thu hồi đất theo phương án đã được xét duyệt thì người có đất bị thu hồi phải bàn giao đất cho Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng.
Vĩnh Thịnh



22/11/2007 12:00 SAĐã ban hành
Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Tháng 12 năm 2019Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Tháng 12 năm 2019
Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Tháng 12 năm 2019
31/12/2019 10:00 SAĐã ban hành
QUYẾT TÂM THAM GIA THỰC HIỆN TỐT DỰ ÁN VLAPQUYẾT TÂM THAM GIA THỰC HIỆN TỐT DỰ ÁN VLAP
Ngày 9 và 10/11/2007, Đoàn công tác của Bộ Tài nguyên và Môi trường và Ngân hàng Thế gới đã đến làm việc tại Bến Tre để thẩm định kế hoạch và các bước chuẩn bị thực hiện Dự án Hoàn thiện và hiện đại hoá hệ thống quản lý đất đai Việt Nam (dự án VLAP).
Tại cuộc họp lãnh đạo Sở Tài nguyên và Môi trường được sự ủy quyền của UBND tỉnh Bến Tre đã khẳng định quyết tâm tham gia thực hiện tốt Dự án VLAP tại Bến Tre. Theo đó, tỉnh cam kết thực hiện đúng mục tiêu, nội dung dự án; bố trí 25 % vốn đối ứng; duy trì và phát triển hệ thống quản lý đất đai hiện đại khi được Dự án VLAP đầu tư xây dựng tại Bến Tre.

Dự kiến Dự án VLAP sẽ được triển khai từ tháng 7-2008 đến tháng 6-2013, tổng kinh phí thực hiện dự kiến lên đến 100 triệu USD (hơn 1.600 tỉ đồng), trong đó Ngân hàng Thế giới (WB) tài trợ 75 triệu USD bằng nguồn vốn IDA, chính phủ Việt Nam đối ứng 1 triệu USD, còn lại 24 triệu USD lấy từ nguồn ngân sách của các địa phương tham gia dự án. Riêng Bến Tre được Bộ Tài nguyên và Môi trường phân bổ 6.846.010 USD từ nguồn IDA của WB, vốn đối ứng của địa phương là 2.414.870 USD, tổng cộng kinh phí là 9.278.880 USD.

Văn Phong

16/11/2007 12:00 SAĐã ban hành
Thông báo Tuyển dụng hợp đồng lao động của Trung tâm Quan trắc tài nguyên và môi trườngThông báo Tuyển dụng hợp đồng lao động của Trung tâm Quan trắc tài nguyên và môi trường
Trung tâm Quan trắc tài nguyên và môi trường thông báo tuyển dụng hợp đồng lao động vị trí Giao dịch khách hàng, tiếp nhận và trả kết quả, quản lý các hợp đồng dịch vụ

​1. Vị trí tuyển dụng

    Giao dịch khách hàng, tiếp nhận và trả kết quả, quản lý các hợp đồng dịch vụ.

2. Điều kiện, tiêu chuẩn

   - Giới tính: Nữ

   - Yêu cầu trình độ: Kỹ sư khoa học môi trường

  - Tin học: Sử dụng thành thạo tin học văn phòng

  - Ngoại ngữ: Anh văn trình độ B trở lên.

3. Thời gian nhận hồ sơ

    Nhận hồ sơ từ ngày ra thông báo đến khi tuyển được người theo yêu cầu.

Chi tiết xem tại: 50_2019_TB_TTQTTNMT.pdf

06/06/2019 4:00 CHĐã ban hành
Thông báo về việc đấu giá quyền khai thác khoáng sảnThông báo về việc đấu giá quyền khai thác khoáng sản
Thông báo đấu giá quyền khai thác khoáng sản tại 02 khu vực khoáng sản Quới Sơn và Cẩm Sơn

​1) Mỏ cát Quới Sơn, thuộc xã Quới Sơn, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre

- Tổng trữ lượng khoáng sản: 1.073.695 m3

- Loại khoáng sản: cát san lấp

- Giá khởi điểm: 4.296.280.000đ (Bốn tỷ, hai trăm chín mươi sáu triệu, hai trăm tám mươi ngàn đồng)

2) Mỏ cát Cẩm Sơn, thuộc xã Cẩm Sơn, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre

- Tổng trữ lượng khoáng sản: 510.740 m3

- Loại khoáng sản: cát san lấp

- Giá khởi điểm: 2.043.680.000đ (Hai tỷ, không trăm bốn mươi ba triệu, sáu trăm tám mươi ngàn đồng)

Chi tiết xem tại: TB_DauGia_QKTKS_2019.7z




03/06/2019 8:00 SAĐã ban hành
Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Từ ngày 15/6/2020 đến ngày 22/6/2020)Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Từ ngày 15/6/2020 đến ngày 22/6/2020)
Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Từ ngày 15/6/2020 đến ngày 22/6/2020)
23/06/2020 2:00 CHĐã ban hành
Kiểm tra, xử lý các đối tượng khai thác cát trái phép trên sông Cổ ChiênKiểm tra, xử lý các đối tượng khai thác cát trái phép trên sông Cổ Chiên
Trong những năm gần đây, trên tuyến sông Cổ Chiên đoạn khu vực cồn Phú Đa, cồn Phú Bình thuộc địa phận xã Vĩnh Bình, huyện Chợ Lách đang trở thành điểm nóng về tình trạng khai thác cát trái phép. Do khu vực này là địa bàn giáp ranh giữa Bến Tre và Vĩnh Long, ít dân cư sinh sống nên các đối tượng bơm hút cát trái phép tập trung khai thác nhiều. Các đối tượng này sử dụng phương tiện có trang bị động cơ, máy bơm hút có công suất lớn để bơm hút nhanh và dễ dàng chạy thoát khi phát hiện có lực lượng kiểm tra. Thời gian hoạt động cao điểm là vào ban đêm, lúc con nước đang lớn.





Ảnh: Đoàn kierm tra triển khai lực lượng trên sông Cổ Chiên

Nắm quy luật trên, đêm ngày 25/3/2011 Thanh tra Sở Tài nguyên và Môi trường phối hợp với Đoàn kiểm tra liên ngành huyện Chợ Lách tổ chức kiểm tra và phát hiện có ba phương tiện đang bơm hút cát trái phép tại khu vực cồn Phú Đa, cồn Phú Bình. Đoàn kiểm tra lập biên bản tạm giữ phương tiện và chuyển về Uỷ ban nhân dân huyện Chợ Lách để xử lý. Sau đó, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện đã ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính mỗi đối tượng với mức phạt tiền là 10.000.000 đồng.


Ảnh: Một đối tượng đang sử dụng vòi bơm hút để lấy cát ngay đầu cồn Phú Bình



21/04/2011 12:00 SAĐã ban hành
Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Từ ngày 01/6/2020 đến ngày 07/6/2020)Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Từ ngày 01/6/2020 đến ngày 07/6/2020)
Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Từ ngày 01/6/2020 đến ngày 07/6/2020)
08/06/2020 3:00 CHĐã ban hành
Quyết định số 2965/QĐ-BTNMT Phê duyệt Kế hoạch thanh tra năm 2018Quyết định số 2965/QĐ-BTNMT Phê duyệt Kế hoạch thanh tra năm 2018
Ngày 23 tháng 11 năm 2017, Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành Quyết định số 2965/QĐ-BTNMT Phê duyệt Kế hoạch thanh tra năm 2018

​Quyết định Phê duyệt Kế hoạch thanh tra năm 2018 của Bộ Tài nguyên và Môi trường (Có Danh mục các cuộc thanh tra kèm theo).

Tải nội dung chi tiết: 2965_QD_BTNMT.zip

29/11/2017 3:00 CHĐã ban hành
Phó Chủ tịch Ngân hàng thế giới thực tế tỉnh Bến Tre về phát triển bền vững và biến đổi khí hậuPhó Chủ tịch Ngân hàng thế giới thực tế tỉnh Bến Tre về phát triển bền vững và biến đổi khí hậu
Ngày 8 tháng 12 năm 2017, Đoàn WB do Bà Laura Tuck - Phó chủ tịch phụ trách phát triển bền vững làm trưởng Đoàn đã có chuyến thực tế tại tỉnh Bến Tre. Ông Cao Văn Trọng - Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh và Lãnh đạo các Sở: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tài nguyên và Môi trường tiếp và làm việc với Đoàn
       Trong thời gian qua, Bến Tre vinh dự nhận được sự quan tâm, hỗ trợ của Ngân hàng thế giới (WB) trong phát triển bền vững và ứng phó biến đổi khí hậu. Ngày 8 tháng 12 năm 2017, Đoàn WB do Bà Laura Tuck - Phó chủ tịch phụ trách phát triển bền vững làm trưởng Đoàn đã có chuyến thực tế tại tỉnh Bến Tre. Ông Cao Văn Trọng - Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh và Lãnh đạo các Sở: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tài nguyên và Môi trường tiếp và làm việc với Đoàn. Trước đó vào năm 2014, Bà Rachel Kyte - Phó chủ tịch WB và là đại sứ đặc biệt về biến đổi khí hậu tại thời điểm đã đến thực địa ở tỉnh.
worldbank3.jpg

Hình: Bà Laura Tuck - Phó chủ tịch Ngân hàng thế giới (giữa) trao đổi với Lãnh đạo tỉnh Bến Tre (Ảnh: Văn Ngoan)
 

        Trong chương trình thực tế, Đoàn WB đã đến cống đập Ba Lai, xem lúa-tôm xã Tân Xuân và khảo sát sạt lở ven biển Cồn Ngoài xã Bảo Thuận, huyện Ba Tri. Thời gian qua, sạt lở ven biển là một trong những tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu, nước biển dâng đến Bến Tre và có xu hướng gia tăng. Khu vực sạt lở đáng chú ý là Cồn Bửng huyện Thạnh Phú và Cồn Ngoài huyện Ba Tri. Nguyên nhân do mực nước biển ở mức cao kết hợp gió mùa làm gia tăng cường độ sống biển, thêm vào đó vùng ven biển có kết cấu đất yếu và cao độ địa hình thấp, qua đó làm tăng tổn thương cho vùng bờ ven biển. Bên cạnh các tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng, một yếu tố khác tác động lâu dài và đang gia tăng áp lực lên tình trạng sạt lở ven biển của tỉnh Bến Tre nói riêng (và cả ĐBSCL) là việc mất dần phù sa bồi đắp do trầm tích bị giữ lại bởi các đập thủy điện trên dòng chính sông Mekong, vấn đề này đã được các nhà khoa học phản ảnh nhiều trong thời gian qua.


worldbank2.JPGworldbank1.JPG

Hình: Sạt lở ven biển huyện Thạnh Phú (ảnh trái) và huyện Ba Tri thời điểm năm 2017 (Ảnh: Duy Anh)

            Một số dự án do WB hỗ trợ tỉnh Bến Tre đang được triển khai như: Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển sinh kế bền vững cho người dân vùng biển Ba Tri; Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cải thiện sinh kế người dân Bắc Thạnh Phú; và sắp đến là Dự án mở rộng, nâng cấp đô thị Việt Nam - Tiểu dự án thành phố Bến Tre, dự án hướng đến thành phố xanh, thích ứng biến đổi khí hậu và giảm thiểu rủi ro thiên tai.

            Bến Tre xác định ứng phó biến đổi khí hậu là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong quá trình phát triển, tỉnh đã xây dựng và triển khai Kế hoạch hành động ứng phó biến đổi khí hậu giai đoạn 2016 - 2020, tuy nhiên với điều kiện hạn chế, khó khăn tỉnh chưa thể hoàn thành tốt và đầy đủ các nhiệm vụ, giải pháp đặt ra. Nhân chuyến thực địa của Bà Laura Tuck, Bến Tre đề xuất tiếp tục hợp tác, hỗ trợ từ WB qua dự án trọng điểm ứng phó lâu dài - "Đầu tư chống xói lở nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu Bến Tre" và các lĩnh vực khác như:

  •         + Chuyển đổi, phát triển các mô hình sinh kế thích ứng biến đổi khí hậu theo Nghị quyết số 120/NQ-CP ngày 17/11/2017 của Chính phủ về phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long thích ứng biến đổi khí hậu;         
  •         + Đào tạo nguồn nhân lực và nâng cao năng lực cán bộ quản lý;
  •         + Ứng dụng công nghệ thông tin tiên tiến, GIS vào công tác cảnh báo, dự báo; đánh giá tác động;xây dựng cơ sở dữ liệu về biến đổi khí hậu phục vụ công tác quản lý;
  •         + Bảo tồn đa dạng sinh học, phát triển bền vững du lịch sinh thái trong điều kiện biến đổi khí hậu và hợp tác vùng trong chia sẻ, sử dụng bền vững nguồn nước sông Mekong trước thách thức từ biến đổi khí hậu.

Huỳnh Lê Duy Anh - P.QLTN&KTTV, Sở TN&MT

12/12/2017 9:00 SAĐã ban hành
Góp ý dự thảo Quyết định bãi bỏ toàn bộ Quyết định số 45/2018/QĐ-UBND ngày 19 tháng 12 năm 2018 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bến TreGóp ý dự thảo Quyết định bãi bỏ toàn bộ Quyết định số 45/2018/QĐ-UBND ngày 19 tháng 12 năm 2018 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre
Thực hiện thủ tục bãi bỏ Quyết định số 45/2018/QĐ-UBND ngày 19 tháng 12 năm 2018 của Uỷ ban nhân dân tỉnh về quy định đơn giá dịch vụ đăng
ký đất đai, tài sản gắn liền với đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất trên địa bàn tỉnh Bến Tre

     ​Để dự thảo Quyết định có chất lượng và đảm bảo đúng quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật; trước khi trình Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt. Sở Tài nguyên và Môi trường đề nghị Quý cơ quan tham gia đóng góp ý kiến. 

       Văn bản góp ý gửi về Sở Tài nguyên và Môi trường (địa chỉ: Tầng 8, Nhà làm việc các Sở, Ngành tỉnh (Toà nhà số 01), 126A, đường Nguyễn Thị Định, Tổ 10, khu phố 2, phường Phú Tân, thành phố Bến Tre; điện thoại: 02753 821104) và file số xin gửi về hộp thư điện tử chicucqlddbentre@gmail.com trước ngày 25 tháng 6 năm 2020.

        Sở Tài nguyên và Môi trường rất mong nhận được sự quan tâm, phối hợp của Quý cơ quan, đơn vị để Sở Tài nguyên và Môi trường hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Tải văn bản: DU_THAO_QUYET_DINH.doc

24/06/2020 3:00 CHĐã ban hành
GIS là gì ?GIS là gì ?
Kỹ thuật "Thông tin Địa lý" (Geograpgic Information System) đã bắt đầu được<br />sử dụng rộng rãi ở các nước phát triển hơn một thập niên qua, đây là một dạng ứng dụng  công  nghệ  tin  học  (Information  Technology)  nhằm  mô  tả  thế  giới  thực  (Real world) mà loài người đang sống-tìm hiểu-khai thác. Với những tính năng ưu việt, kỹ thuật GIS ngày nay đang được ứng dụng trong nhiều lãnh vực nghiên cứu và quản lý, đặc biệt trong quản lý và quy hoạch sử dụng-khai thác các nguồn tài nguyên một cách bền vững và hợp lý.


Sự phát triển không ngừng của công nghệ thông tin đã đưa tin học thâm nhập sâu vào nhiều lĩnh vực khoa học và đời sống, mở ra một giai đoạn mới trong quá trình phát triển khoa học. Hệ thống thông tin địa lý là một trong những ứng dụng rất có giá trị của công nghệ tin học trong ngành địa lý, điều tra cơ bản, quy hoạch đô thị và cảnh báo môi trường.
Kỹ thuật GIS đã được bắt đầu sử dụng rộng rãi ở các nước phát triển hơn một thập niên qua, với những tính năng ưu việt, kỹ thuật GIS ngày nay đang được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu và quản lý.
Hệ thống thông tin địa lý là một kỹ thuật ứng dụng hệ thống vi tính số hoá, xuất hiện trong những năm 1960 cho đến nay công nghệ này được biết đến như là một kỹ thuật toàn cầu.
Trong sự phát triển của đất nước ta hiện nay, việc tổ chức quản lý thông tin địa lý một cách tổng thể có thể đóng góp không nhỏ vào việc sử dụng có hiệu quả hơn nguồn tài nguyên của đất nước.

LỢI ÍCH VÀ NHỮNG HẠN CHẾ CỦA VIỆC SỬ
DỤNG KỸ THUẬT GIS:

Kỹ thuật GIS là một công nghệ ứng dụng các tiến bộ của khoa học máy tính, (computer based technology) do đó việc sử dụng GIS trong các mục tiêu nghiên cứu so với các phương tiện cổ điển có thể mang lại những hiệu quả cao do:
Là cách tiết kiệm chi phí và thời gian nhất trong việc lưu trữ số liệu

Có thể thu thập số liệu với số lượng lớn
Số liệu lưu trữ có thể được cập nhật hoá một cách dễ dàng
Chất lượng số liệu được quản lý, xử lý và hiệu chỉnh tốt
Dễ dàng truy cập, phân tích số liệu từ nhiều nguổn và nhiều loại khác nhau
Tổng hợp một lần được nhiều loại số liệu khác nhau để phân tích và tạo ra nhanh chóng một lớp số liệu tổng hợp mới
Tuy nhiên, có những trở ngại xuất hiện trong quá trình sử dụng kỹ thuật GIS, những trở ngại này đặc biệt quan trọng là cần được cân nhắc thận trọng trong quá trình phát triển GIS tại các nước kém và đang phát triển như Việt Nam, đó là:
Chi phí và những vấn đề kỹ thuật đòi hỏi trong việc chuẩn bị lại các số liệu thô hiện có, nhằm có thể chuyển từ bản đổ dạng giấy truyền thống sang dạng kỹ thuật số trên máy tính (thông qua việc số hoá, quét ảnh...)
Đòi hỏi nhiều kiến thức của các kỹ thuật cơ bản về máy tính, và yêu cầu lớn về nguồn tài chính ban đầu.
Chi phí của việc mua sắm và lắp đặt thiết bị và phần mềm GIS khá cao.
Trong một số lĩnh vực ứng dụng, hiệu quả tài chánh thu lại thấp.
Đặc biệt trong nông nghiệp, GIS có 3 điểm thuận lợi chính khi được so sánh với cách quản lý bản đổ bằng tay trước đây:
Chúng là một công cụ khá mạnh trong việc lưu trữ và diễn đạt các số liệu đặc biệt là các bản đổ.
Chúng có thể cho ra những kết quả dưới những dạng khác nhau như các bản đổ, biểu bản, và các biểu đổ thống kê,..
Chúng là một công cụ đắc lực cho các nhà khoa học đặc biệt về lãnh vực nghiên cứu hệ thống canh tác, đánh giá đất đai, khả năng thích nghi của các kiểu sử dụng đất, quản lý và xử lý các bản đồ giai thửa trong quản lý đất đai,..Nó giúp cho các nhà làm khoa học đó khả năng phân tích các nguyên nhân và những ảnh hưởng và kiểm chứng những biến đổi trong hệ thống sinh thái cũng như khả năng thích ứng của việc thay đổi một chính sách đối với người dân.

CÁC ĐẶC ĐIỂM CỦA HỆ
THỐNG THÔNG TIN ĐỊA LÝ-GIS:

Hệ thống thông tin địa lý trước hết là một hệ thống thông tin cũng như các hệ thống thông tin khác, ví dụ như thương mại, pháp luật, ngân hàng, ... Các hệ thống thông tin nói chung đều bao gồm các phần:
Hệ thống thiết bị phần cứng bao gồm máy tính hoặc hệ mạng máy tính, các thiết bị đầu vào, các thiết bị đầu ra.
Hệ thống phần mềm bao gồm phần mềm hệ thống, phần mềm quản trị, phần mềm ứng dụng.
Hệ thống thông tin đầu vào và hệ thống cập nhật thông tin.
Hệ thống CSDL bao gồm các loại dữ kiện cần thiết.
Hệ thống hiển thị thông tin và giao diện với người sử dụng
Sự khác nhau giữa hệ thống thông tin địa lý với các hệ thống thông tin khác chỉ ở hai điểm sau:
CSDL bao gồm các dữ liệu địa lý và các dữ liệu thuộc tính (các dữ liệu chữ - số, dữ liệu multimedial,... ) và mối quan hệ giữa hai loại dữ liệu này.
Hệ thống thông tin đầu vào và hệ thống hiển thị thông tin đòi hỏi những đặc thù riêng về độ chính xác.

Hình 5.1: Sự thể hiện quang cảnh sự vật dưới các lớp bản đồ khác nhau
Một hệ thống thông tin địa lý có thể bao gồm các đặc điểm chính sau:

KHẢ NĂNG CHỒNG LẤP CÁC BẢN ĐỒ (Map
Overlaying):

Việc chồng lắp các bản đồ trong kỹ thuật GIS là một khả năng ưu việt của GIS trong việc phân tích các số liệu thuộc về không gian, để có thể xây dựng thành một bản đồ mới mang các đặc tính hoàn toàn khác với bản đồ trước đây.

Hình 5.2: Nguyên lý khi chồng lắp các bản đồ

Hình 5.3: Việc chồng lắp các bản đồ theo phương pháp cộng

Hình 5.4: Một thí dụ trong việc chồng lắp các bản đồ.

KHẢ NĂNG PHÂN LOẠI CÁC THUỘC TÍNH (Reclassification):

Một trong những điểm nổi bật trong tất cả các chương trình GIS trong việc phân tích các thuộc tính số liệu thuộc về không gian là khả năng của nó để phân loại các thuộc tính nổi bật của bản đồ. Nó là một quá trình nhằm chỉ ra một nhóm thuộc tính thuộc về một cấp nhóm nào đó. Một lớp bản đồ mới được tạo ra mang giá trị mới, mà nó được tạo thành dựa vào bản đồ trước đây.
Việc phân loại bản đồ rất quan trọng vì nó cho ra các mẩu khác nhau. Một trong những điểm quan trọng trong GIS là giúp để nhận biết được các mẩu đó. Đó có thể là những vùng thích nghi cho việc phát triển đô thị hoặc nông nghiệp mà hầu hết được chuyển sang phát triển dân cư. Việc phân loại bản đồ có thể được thực hiện trên 1 hay nhiều bản đồ..

Hình 5.5: Một thí dụ trong việc phân loại lại một bản đồ

TỔ CHỨC CƠ SỞ DỮ LIỆU TRONG GIS
:

Chức năng của hệ thống thông tin địa lý là để cải thiện khả năng người sử dụng để đánh giá đưa đến sự quyết định trong nghiên cứu, qui hoạch và quản lý. Để sắp xếp cho một số hệ thống thông tin, người sử dụng cần phải được cung cấp dữ liệu một cách đầy đủ và hữu hiệu, điều này đạt được bởi phương pháp của hệ thống quản lý dữ liệu (DBMS). Một DBMS có thể được định nghĩa như sau:
Một sự liên kết các dữ liệu đã lưu trữ cùng với nhau mà không gây một trở ngại hoặc việc làm dư thừa không cần thiết nhằm giúp ích cho chương trình được gia tăng khả năng sử dụng lên gấp bội; dữ liệu được lưu trữ để chúng là chương trình độc lập mà dữ liệu được sử dụng một cách phổ biến, và việc điều khiển trong việc thêm dữ liệu mới, hoặc sửa đổi và khôi phục dữ kiện hiện có bên trong hệ thống dữ liệu. Dữ liệu được kết cấu như thế để cung cấp một nền tảng cho việc phát triển sau này "(Martin, 1977)

CÁC LOẠI THÔNG TIN TRONG HỆ THỐNG THÔNG TIN ĐỊA LÝ:

Như trên đã giới thiệu dữ liệu trong hệ thống thông tin địa lý bao gồm dữ liệu địa lý và dữ liệu thuộc tính:
Dữ liệu địa lý: bao gồm các thể loại
Ảnh hàng không vũ trụ
Bản đồ trực ảnh (orthophotomap)
Bản đồ nền địa hình lập từ ảnh hàng không - vũ trụ
Bản đồ địa hình lập từ số liệu đo đạc mặt đất
Bản đồ địa chính
Bản đồ địa lý tổng hợp từ các loại bản đồ địa hình.
Các loại ảnh và bản đồ nói trên đều ở dạng số và lưu lại dưới dạng vector hoặc raster hỗn hợp raster-vector. Các dữ liệu địa lý dưới dạng vector được phân lớp thông tin yêu cầu của việc tổ chức các thông tin. Thông thường người ta hay phân lớp theo tính chất thông tin: lớp địa hình, lớp thuỷ văn, lớp đường giao thông, lớp dân cư, lớp thức phụ, lớp giới hành chính v.v.. Trong nhiều trường hợp để quản lý sâu hơn, người ta sẽ phân lớp chuyên biệt hơn như trong lớp thuỷ văn được phân thành các lớp con các lớp sông lớn, sông nhỏ, lớp biển, lớp ao hồ,v.v…
Các thông tin ở dạng raster là các thông tin nguồn và các thông tin hỗ trợ, không gian quản lý như một đối tượng địa lý. Các thông tin ở dạng vector tham gia trực tiếp quản lý và được định nghĩa như những đối tượng địa lý. Các đối tượng này thể hiện ở 3 dạng: điểm, đường và vùng hoặc miền. Mỗi đối tượng đều có thuộc tính hình học riêng như kích thước, miền vị trí. Vấn đề được đặt ra là tổ chức lưu trữ và hiển thị các thông tin vector như thế nào để thoả mãn các yêu cầu sau:
Thể hiện đầy đủ các thông tin cần thiết
Độ dư và độ thừa nhỏ nhất
Truy cập thông tin nhanh
Cập nhật thông tin dễ dàng và không sai sót (xoá bỏ thông tin không cần thiết, bổ sung thông tin mới , chỉnh lý các thông tin đã lạc hậu)
Thuận lợi cho việc hiển thị thông tin
Dữ liệu thuộc tính (Attribute): là các thông tin giải thích cho các hiện tượng địa lý gắn liền với hiện tượng địa lý. Các thông tin này được lưu trữ dữ liệu thông thường. Vấn đề đặt ra là là phải tìm mối quan hệ giữa thông tin địa lý và thông tin thuộc tính. Từ thông tin ta có thể tìm ra được các thông tin kia trong cơ sở dữ liệu.

HỆ QUẢN TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆU CỦA GIS
:

Giới thiệu
Hệ quản trị cơ sở dữ liệu là hệ thống quản lý, lưu trữ, bảo trì toàn bộ cơ sở dữ liệu. Hệ quản trị cơ sở dữ liệu cũng cung cấp các công cụ cho phép người dùng hỏi đáp, tra cứu và tác động vào cơ sở dữ liệu. Cơ sở dữ liệu cho một hệ thống GIS bao gồm 2 cơ sở dữ liệu thành phần chính là :
Cơ sở dữ liệu địa lý (không gian)
Cơ sở dữ liệu thuộc tính (phi không gian)
Trong hệ thống GIS, hệ quản trị cơ sở dữ liệu GIS được xây dựng bao gồm 2 hệ quản trị cơ sở dữ liệu riêng cho từng phần hoặc xây dựng một hệ quản trị cơ sở dữ liệu chung cho cả hai cơ sở dữ liệu con kể trên. Thông thường hệ quản trị cơ sở dữ liệu GIS được xây dựng bao gồm 3 hệ quản trị cơ sở dữ liệu con:
Hệ quản trị cơ sở dữ liệu cho cơ sở dữ liệu địa lý.
Hệ quản trị cơ sở dữ liệu quan hệ ở mức tra cứu, hỏi đáp. Hệ này được tích hợp cùng với hệ quản trị cơ sở dữ liệu địa lý cho phép người ta dùng truy nhập dữ liệu địa lý và dữ liệu thuộc tính đồng thời. Tuy nhiên, hệ quản trị cơ sở dữ liệu này cho thao tác trên cơ sở dữ liệu thuộc tính bị hạn chế.
Hệ quản trị cơ sở dữ liệu thuộc tính. Thông thường các hệ thống GIS đều lấy một hệ quản trị cơ sở dữ liệu quan hệ hiện có để quản trị và thực hiện các bài toán trên dữ liệu thuộc tính mà không liên quan đến dữ liệu không gian. Ví dụ: FOX, MS SQL, ORACLE.
Về hệ quản trị cơ sở dữ liệu quản lý cơ sở dữ liệu thuộc tính, chúng ta đã xem xét chi tiết trong phần “Hệ thống cơ sở dữ liệu“. Vì vậy, ở đây chúng ta chỉ đi sâu vào hệ quản trị cơ sở dữ liệu cho dữ liệu không gian.
Hệ quản trị cơ sở dữ liệu cho dữ liệu không gian bao gồm các hệ thống con sau:
Hệ thống nhập bản đồ
Hệ thống hiển thị bản đồ
Hệ thống tra cứu, hỏi đáp cơ sở dữ liệu
Hệ thống phân tích địa lý
Hệ thống phân tích thống kê
Hệ thống đầu ra
Hệ quản trị cơ sở dữ liệu GIS
Hệ thống nhập bản đồ
Hệ thống cung cấp các công cụ để số hoá các đối tượng trên bản đồ. Hiện nay tồn tại hai phương pháp để chuyển bản đồ giấy thành bản đồ số:
Số hoá bản đồ: dùng bàn vẽ (digitizer) đi lại các đối tượng bản đồ trên giấy. Chức năng có thể có trong bản thân hệ thống hoặc dùng 1 phần mềm khác số hoá, sau đó nhập vào kết quả số hoá bởi phần mềm đó.
Vector hoá bản đồ: Bản đồ được quét vào thành dạng file ảnh (scanning) sau đó chuyển sang dạng vector (vectorizing). Quá trình vectorizing có thể thực hiện thủ công qua số hoá trên màn hình (head up digitizing) hoặc dùng phần mềm chuyển tự động/bán tự động từ ảnh sang vector.
Một trong những nguồn dữ liệu quan trọng là dữ liệu được nhập từ các hệ thống khác. Vì vậy hệ thống nhập bản đồ phải có chức năng nhập (import) các dạng (format) dữ liệu khác nhau.
Hệ thống hiển thị bản đồ
Hệ thống cung cấp các khả năng hiển thị bản đồ trên màn hình cho người sử dụng xem. Hiện nay chức năng hiển thị bản đồ đều có khả năng cung cấp cách nhìn 3 chiều (3D). Bản đồ sẽ được thể hiện sinh động, trực quan hơn.
Tra cứu, hỏi đáp cơ sở dữ liệu
Hệ thống cung cấp các công cụ cho người sử dụng tra cứu, hỏi đáp, lấy các thông tin cần thiết trong cơ sở dữ liệu ra. Hệ thống này ảnh hưởng trực tiếp đến tính hiệu quả của hệ thống. Bởi vì phần lớn, người dùng chỉ có yêu cầu tra cứu thông tin. Hệ thống tra cứu phải mềm dẻo, dễ sử dụng, thời gian truy cập dữ liệu nhanh. Hệ thống cho phép tra cứu trên cả hai dữ liệu: dữ liệu không gian và dữ liệu thuộc tính
Hệ thống xử lý, phân tích địa lý
Đây là hệ thống thể hiện rõ nhất sức mạnh của GIS. Hệ thống cung cấp các công cụ cho phép người dùng xử lý, phân tích dạng dữ liệu không gian. Từ đó, chúng ta có thể sản sinh ra các thông tin mới (thông tin dẫn suất)
Hệ thống phân tích thống kê
Hệ thống cung cấp các công cụ thống kê trên dữ liệu không gian cũng như dữ liệu thuộc tính. Tuy nhiên các phép phân tích thống kê trên dữ liệu không gian khác biệt so với một số phép phân tích thống kê thông thường trên dữ liệu phi không gian.
Hệ thống in ấn bản đồ
Hệ thống có nhiệm vụ in các bản đồ kết quả ra các thiết bị ra thông dụng như máy in (printer), máy vẽ (Plotter). Yêu cầu đối với hệ thống này là tương thích với nhiều loại thiết bị ngoại vì hiện có trên thị trường.
Huỳnh Đoàn Minh (Sưu tầm và tổng hợp)



28/01/2008 12:00 SAĐã ban hành
Bản tin dự báo tình hình xâm nhập mặn tỉnh Bến Tre (Từ ngày 12/3 đến ngày 19/3/2019)Bản tin dự báo tình hình xâm nhập mặn tỉnh Bến Tre (Từ ngày 12/3 đến ngày 19/3/2019)
Bản tin dự báo  tình hình xâm nhập mặn tỉnh Bến Tre (Từ ngày 12/3 đến ngày 19/3/2019) (Tuần 11/2019)

I/ TóM TẮT TÌNH HÌNH xâm NHẬP MẶN tỪ 07 GIỜ ngày 05 ĐẾN 07 GIỜ NGÀY 12/03/2019 (TUẦN 10/2019):

Trên sông Hàm Luông và Cửa Đại, xâm nhập mặn cao nhất hàng ngày có xu thế giảm nhẹ từ ngày 05 đến ngày 10, sau đó ít biến đổi. Độ mặn xâm nhập sâu nhất xuất hiện trong các ngày 05-07/03 ở mức xấp xỉ ít sâu hơn so với tuần trước. Độ mặn xâm nhập sâu trên các sông ở mức ít sâu hơn so với cùng thời kỳ năm 2015, năm 2018 và ở mức thấp hơn so với cùng thời kỳ năm 2016.

Trên sông Cổ Chiên, xâm nhập mặn cao nhất hàng ngày có xu thế ít biến đổi trong các ngày 05 đến ngày 06, sau đó giảm nhẹ giảm nhẹ đến ngày 09 rồi giảm dần từ ngày 10 đến ngày 12. Độ mặn xâm nhập sâu nhất xuất hiện trong các ngày 05-06 ở mức xấp xỉ sâu hơn so với tuần trước. Độ mặn xâm nhập sâu trên sông ở mức sâu hơn so với cùng thời kỳ năm 2015, năm 2018 và ở mức thấp hơn so với cùng thời kỳ năm 2016.

Độ mặn cao nhất đo được tại các nơi như sau:

Ø Trên sông Cửa Đại:

+ Tại Bình Đại (cảng cá Bình Đại - huyện Bình Đại): 19.3 ‰ ngày 07.

+ Tại Lộc Thuận (xã Lộc Thuận - huyện Bình Đại): 11.7 ‰  ngày 07.

+ Tại Giao Hoà (xã Giao Hoà - huyện Châu Thành): 1.7 ‰  ngày 05-07.

+ Tại Quới Sơn (Ấp 2, xã Quới Sơn - huyện Châu Thành): 0.2 ‰ ngày 05-11.

+ Tại Long Hòa (xã Long Hòa - huyện Bình Đại): 0.4 ‰ ngày 05-09 (sông Ba Lai).

Ø Trên sông Hàm Luông:

+ Tại An Thuận (cảng cá Tiệm Tôm – huyện Ba Tri): 17.8 ‰ ngày 05.

+ Tại Sơn Đốc (xã Hưng Lễ – huyện Giồng Trôm): 8.0 ‰ ngày 05.

+ Tại Phú Khánh (xã Phú Khánh – huyện Thạnh Phú): 4.2 ‰ ngày 05 (trong kênh).

+ Tại Vàm Cái Quao (xã Bình Khánh Đông – huyện Mõ Cày Nam): 5.5 ‰ ngày 05.

+ Tại Vàm Thủ Cửu (xã Phước Long – huyện Giồng Trôm): 2.7 ‰ ngày 05.

+ Tại Vàm Nước Trong (xã Tân Thành Bình – huyện Mõ Cày Bắc): 1.6 ‰ ngày 05-06.

+ Tại Mỹ Hóa (phường 07 – Tp. Bến Tre): 0.8 ‰  ngày 05.

+ Tại Thanh Tân (xã Thanh Tân – huyện Mõ Cày Bắc): 0.1 ‰.

+ Tại An Hiệp (xã An Hiệp - huyện Châu Thành): 0.1 ‰.

+ Tại Vàm Mơn (xã Phú Sơn – huyện Chợ Lách): 0.1 ‰.

Ø Trên sông Cổ Chiên:

+ Tại Bến Trại (xã An Thuận – huyện Thạnh Phú): 16.8 ‰ ngày 06.

+ Tại Hương Mỹ (xã Hương Mỹ – huyện Mõ Cày Nam): 6.3 ‰  ngày 05.

+ Tại Cẩm Sơn (xã Cẩm Sơn – huyện Mõ Cày Nam): 3.9 ‰ ngày 05.

+ Tại Vàm Thom (xã Thành Thới B – huyện Mõ Cày Nam): 1.1 ‰ ngày 06.

+ Tại Nhuận Phú Tân (xã Nhuận Phú Tân - huyện Mõ Cày Bắc): 0.2 ‰ ngày 05.

Độ mặn 4 ‰ trên các sông chính đã xâm nhập đến:

- Sông Cửa Đại: xã Phú Thuận – Tam Hiệp (huyện Bình Đại), (cách cửa sông khoảng 33 - 35km).

- Sông Hàm Luông: xã Thạnh Phú Đông, Phước Long (huyện Giồng Trôm) - xã Bình Khánh Đông (huyện Mõ Cày Nam), (cách cửa sông khoảng 35 - 37km).

- Sông Cổ Chiên: xã Cẩm Sơn - Thành Thới A (huyện Mõ Cày Nam), (cách cửa sông khoảng 36 - 38km).

Độ mặn 1 ‰ trên các sông chính đã xâm nhập đến:

- Sông Cửa Đại: xã Quới Sơn (huyện Châu Thành), (cách cửa sông khoảng 43 - 45km).

- Sông Hàm Luông: xã Mỹ Thạnh An, Phường 07 (Tp. Bến Tre) - xã Thanh Tân (huyện Mõ Cày Bắc), (cách cửa sông khoảng 46 - 48km).

- Sông Cổ Chiên: xã Khánh Thạnh Tân (huyện Mõ Cày Bắc), (cách cửa sông khoảng 48 - 50km).

II / DỰ BÁO TÌNH HÌNH XÂM NHẬP MẶN TỪ NGÀY 12 ĐẾN NGÀY 19/03/2019) (TUẦN 11/2019):

Trên sông Hàm Luông và Cửa Đại, xâm nhập mặn cao nhất hàng ngày có xu thế ít biến đổi trong các ngày 12 đến ngày 13, sau đó sau đó tăng dần từ ngày 14 đến ngày 19. Độ mặn xâm nhập sâu nhất xuất hiện trong các ngày 18-19/03 ở mức sâu hơn so với tuần qua. Độ mặn xâm nhập sâu trên các sông ở mức xấp xỉ so với cùng thời kỳ năm 2015, ở mức thấp hơn so với cùng thời kỳ năm 2016, 2018.

Trên sông Cổ Chiên, xâm nhập mặn cao nhất hàng ngày có xu thế tăng dần từ ngày 13 đến ngày 18, sau đó ít biến đổi. Độ mặn xâm nhập sâu nhất xuất hiện trong các ngày 18-19/03 ở mức sâu hơn so với tuần qua. Độ mặn xâm nhập sâu trên sông ở mức sâu hơn so với cùng thời kỳ năm 2015, ở mức thấp hơn so với cùng thời kỳ năm 2016, 2018.

Ø Trên sông Cửa Đại:

+ Tại Bình Đại (cảng cá Bình Đại - huyện Bình Đại): Smax từ  22.0 ‰ đến 25.0 ‰.

+ Tại Lộc Thuận (xã Lộc Thuận - huyện Bình Đại): Smax từ  8.0 ‰ đến 11.0 ‰.

+ Tại Giao Hoà (xã Giao Hoà - huyện Châu Thành): Smax từ  2.0 ‰ đến 4.0 ‰.

+ Tại Quới Sơn (Ấp 2, xã Quới Sơn - huyện Châu Thành): Smax từ  0.2 ‰ đến 1.0 ‰.

+ Tại Long Hòa (xã Long Hòa - huyện Bình Đại): Smax từ  0.5 ‰ đến 1.5 ‰.

Ø Trên sông Hàm Luông:

+ Tại An Thuận (Tiệm Tôm – huyện Ba Tri): Smax từ 22.0 ‰ đến 25.0 ‰.

+ Tại Sơn Đốc (xã Hưng Lễ - huyện Giồng Trôm): Smax từ 8.0 ‰ đến 11.0 ‰.

+ Tại Phú Khánh (xã Phú Khánh – huyện Thạnh Phú): Smax từ 4.0 ‰ đến 7.0 ‰ (trong kênh).

+ Tại Vàm Cái Quao (xã Bình Khánh Đông – huyện Mõ Cày Nam): Smax từ 4.0 ‰ đến 6.0 ‰.

+ Tại Vàm Thủ Cửu (xã Phước Long – huyện Giồng Trôm): Smax từ 2.5 ‰ đến 4.5 ‰.

+ Tại Vàm Nước Trong (xã Tân Thành Bình – huyện Mõ Cày Bắc): Smax từ 1.0 ‰ đến 3.0 ‰.

+ Tại Mỹ Hoá (phường 07 – Tp. Bến Tre): Smax từ 1.0 ‰ đến 2.5 ‰.

+ Tại Thanh Tân (xã Thanh Tân – huyện Mõ Cày Bắc): Smax từ 0.2 ‰ đến 0.5 ‰.

+ Tại An Hiệp (xã An Hiệp - huyện Châu Thành): Smax từ 0.2 ‰ đến 0.5 ‰.

+ Tại Vàm Mơn (xã Phú Sơn – huyện Chợ Lách): Smax 0.1 ‰.

Ø Trên sông Cổ Chiên:

+ Tại Bến Trại (xã An Thuận – huyện Thạnh Phú): Smax từ  21.0 ‰ đến 24.0 ‰.

+ Tại Hương Mỹ (xã Hương Mỹ - huyện Mõ Cày Nam): Smax từ  6.0 ‰ đến 9.0 ‰.

+ Tại Cẩm Sơn (xã Cẩm Sơn – huyện Mõ Cày Nam): Smax từ  3.5 ‰ đến 5.5 ‰.

+ Tại Vàm Thom (xã Thành Thới B – huyện Mõ Cày Nam): Smax từ  1.0 ‰ đến 2.5 ‰.

+ Tại Nhuận Phú Tân (xã Nhuận Phú Tân - huyện Mõ Cày Bắc): Smax từ 0.2 ‰ đến 0.5 ‰.

Độ mặn 4 ‰ trên các sông chính có khả năng xâm nhập đến:

- Sông Cửa Đại: xã Long Định (huyện Bình Đại), (cách cửa sông khoảng 36 - 38km).

- Sông Hàm Luông: xã Phước Long (huyện Giồng Trôm) - xã Bình Khánh Đông, Phước Hiệp (huyện Mõ Cày Nam), (cách cửa sông khoảng 36 - 38km).

- Sông Cổ Chiên: xã Thành Thới A (huyện Mõ Cày Nam), (cách cửa sông khoảng 38 - 40km).

Độ mặn 1 ‰ trên các sông chính có khả năng xâm nhập đến:

- Sông Cửa Đại: xã Quới Sơn (huyện Châu Thành), (cách cửa sông khoảng 45 - 47km).

- Sông Hàm Luông: xã Bình Phú, Mỹ Thành (Tp. Bến Tre) - xã Thanh Tân (huyện Mõ Cày Bắc), (cách cửa sông khoảng 50 - 52km).

- Sông Cổ Chiên: xã Khánh Thạnh Tân – Nhuận Phú Tân(huyện Mõ Cày Bắc), (cách cửa sông khoảng 50 - 52km).

* Cấp độ rủi ro thiên tai do xâm nhập mặn trong tuần này: cấp độ 1.

Ban tin man 12_3(Tuan 10_2019).png

Ban tin man 12_3(Tuan 10_2019).png

14/03/2019 3:00 CHĐã ban hành
Công văn 1471/STNMT-QLTN&KTTV về việc Thực hiện các quy định trong việc tư vấn lập Hồ sơ cấp giấy phép tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh Bến TreCông văn 1471/STNMT-QLTN&KTTV về việc Thực hiện các quy định trong việc tư vấn lập Hồ sơ cấp giấy phép tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh Bến Tre
Công văn 1471/STNMT-QLTN&KTTV về việc Thực hiện các quy định trong việc tư vấn lập Hồ sơ cấp giấy phép tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh Bến Tre

​    

Tải văn bản: 1471_2018_STNMT-QLTN-KTTV.7z

12/06/2018 11:00 SAĐã ban hành
Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Tháng 5 năm 2020Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Tháng 5 năm 2020
Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Tháng 5 năm 2020

Tải danh sách: danh_sach_huy_gcn_Thang5_2020.zip

01/06/2020 10:00 SAĐã ban hành
Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Từ ngày 08/6/2020 đến ngày 15/6/2020)Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Từ ngày 08/6/2020 đến ngày 15/6/2020)
Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Từ ngày 08/6/2020 đến ngày 15/6/2020)
16/06/2020 10:00 SAĐã ban hành
Phó Thủ tướng Trương Vĩnh Trọng: Phải tập trung xử lý dứt điểm các vụ khiếu kiện kéo dàiPhó Thủ tướng Trương Vĩnh Trọng: Phải tập trung xử lý dứt điểm các vụ khiếu kiện kéo dài
Sáng 17/11, tại Trụ sở Chính phủ, Phó Thủ tướng Trương Vĩnh Trọng chủ trì cuộc họp với lãnh đạo Thanh tra Chính phủ, Bộ Tư pháp và Bộ Công an về những biện pháp giải quyết các vụ việc khiếu kiện kéo dài.



Theo kết quả rà soát của các cơ quan chức năng, thời gian qua, cả nước có 42 vụ việc khiếu nại, tố cáo, kéo dài; trong đó có 17 vụ việc khiếu kiện về đất đai đã được các cơ quan có thẩm quyền của địa phương và Trung ương xem xét giải quyết theo trình tự của pháp luật, bảo đảm thấu tình, đạt lý; nhưng công dân không chấp hành và tiếp tục khiếu kiện kéo dài nhiều năm. Đáng chú ý 15 trong tổng số 17 vụ việc trên đã được các cơ quan ở Trung ương có ý kiến chỉ đạo. Tuy nhiên, một số vụ việc đã có ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Văn phòng Chính phủ nhưng các địa phương xem xét giải quyết còn chậm trễ. Có 10 vụ việc tại 7 tỉnh, thành phố liên quan đến đòi lại nhà đất, đền bù, thu hồi đất; tranh chấp quyền sử dụng đất; thanh toán tài sản trưng mua; kỷ luật buộc thôi việc... đã được các cơ quan có thẩm quyền tại Trung ương đề nghị chính quyền địa phương rà soát, xem xét lại.
Phát biểu chỉ đạo tại cuộc họp, Phó Thủ tướng Trương Vĩnh Trọng yêu cầu các cơ quan chức năng cần có ngay các biện pháp tập trung xử lý dứt điểm các vụ việc trên, không để tồn động kéo dài. Đối với 17 vụ việc đã được các cơ quan có thẩm quyền của địa phương và Trung ương xem xét, các cơ quan chức năng thống nhất để có văn bản từ chối giải quyết tiếp vì sự việc đã được xử lý, giải quyết thấu tình đạt lý, đúng chính sách của luật phát hiện hành; đồng thời, yêu cầu công dân chấp hành các quy định giải quyết của các cơ quan có thẩm quyền, chấm dứt khiếu nại. Đối với 25 vụ việc khác (15 vụ việc đã được các cơ quan có thẩm quyền ở Trung ương nhiều lần có ý kiến chỉ đạo và 10 vụ việc tại 7 tỉnh, thành phố), Phó Thủ tướng chỉ đạo Bộ Tư pháp, Thanh tra Chính phủ, Bộ Công an... tiếp tục phối hợp chặt chẽ với chính quyền các địa phương rà soát, xem xét và sớm giải quyết dứt điểm tại địa phương.

Theo www.monre.gov.vn



20/11/2008 12:00 SAĐã ban hành
Ngày Nước thế giới 2018 - “Câu trả lời là trong thiên nhiên”Ngày Nước thế giới 2018 - “Câu trả lời là trong thiên nhiên”
“Chúng ta có thể giảm lũ lụt, hạn hán và ô nhiễm nước như thế nào? Bằng cách sử dụng các giải pháp chúng ta tìm thấy trong thiên nhiên”. Đó là thông điệp ngày Nước thế giới năm 2018 mà Ủy ban về nước của Liên hiệp quốc (UN-Water) muốn gửi đến chúng ta.

      "Chúng ta có thể giảm lũ lụt, hạn hán và ô nhiễm nước như thế nào? Bằng cách sử dụng các giải pháp chúng ta tìm thấy trong thiên nhiên". Đó là thông điệp ngày Nước thế giới năm 2018 mà Ủy ban về nước của Liên hiệp quốc (UN-Water) muốn gửi đến chúng ta.

Ngay_nuoc_the_gioi_2018_worldwaterday.png
Nguồn: worldwaterday.org

      Ngày Nước thế giới 22/3 hàng năm tập trung quan tâm vào những vấn đề quan trọng của tài nguyên nước và nước sạch. Năm 2018, UN-Water chọn chủ đề là “Nước với thiên nhiên” với chiến dịch vận động, nâng cao nhận thức trong việc tìm, áp dụng các giải pháp dựa vào tự nhiên trước các thách thức về nước mà chúng ta đối mặt trong thế kỷ 21.


          Giải pháp tiêu biểu dựa vào tự nhiên mà UN-Water đưa ra như:


           -   Trồng cây để bổ sung cho rừng; trồng cây bản địa, cây bụi trong vùng đệm, hành lang bảo vệ dọc theo các dòng nước;

          -    Kết nối lại các dòng sông với vùng ngập lũ và phục hồi đất ngập nước.


           Theo UN-Water, các giải pháp dựa vào tự nhiên có thể giảm đáng kể ô nhiễm, bảo vệ đất khỏi xói mòn. Việc áp dụng giải pháp dựa vào tự nhiên chắc chắn tạo ra "cơ sở hạ tầng xanh", các hệ thống tự nhiên hay bán tự nhiên này mang lại cho chúng ta những lợi ích tương đương hoặc tương tự như cơ sở hạ tầng xám thông thường. Bên cạnh đó, giải pháp dựa vào tự nhiên thường tạo ra lợi ích ngoài các dịch vụ liên quan đến nước, ví dụ đất ngập nước được dùng để xử lý nước thải, cung cấp sinh khối cho sản xuất năng lượng, cải thiện đa dạng sinh học và tạo không gian giải trí, du lịch và việc làm liên quan. Hầu hết giải pháp dựa vào tự nhiên, bao gồm cả cảnh quan đô thị thì chủ yếu liên quan đến việc quản lý thực vật, đất hoặc đất ngập nước, bao gồm sông và hồ. Giải pháp dựa vào tự nhiên không phải là thuốc chữa bách bệnh đối với những thách thức liên quan đến nước mà chúng ta phải đối mặt trong tình trạng gia tăng dân số toàn cầu, nhưng đây là một trong những cách bền vững và tiết kiệm chi phí để giúp cân bằng lại chu trình nước, giảm nhẹ tác động của biến đổi khí hậu, cải thiện sức khoẻ và sinh kế con người.

          Các thông tin về hiện trạng và cảnh báo liên quan đến nước trên thế giới cũng được UN-Water đưa ra:

         + Hiện nay, khoảng 2,1 tỷ người không tiếp cận các dịch vụ nước sạch được quản lý an toàn; Đến năm 2050, dân số thế giới sẽ tăng khoảng 2 tỷ người và nhu cầu nước toàn cầu có thể lên đến 30% so với hiện nay;
         + Nông nghiệp hiện chiếm 70% lượng nước sử dụng toàn cầu, chủ yếu là để tưới tiêu; Công nghiệp chiếm 20% trên tổng số, tập trung vào năng lượng và sản xuất; 10% còn lại là nước sử dụng trong sinh hoạt gia đình.
         + Khoảng 1,9 tỷ người sống trong các khu vực có khả năng khan hiếm nước nghiêm trọng. Đến năm 2050, con số này có thể tăng lên khoảng 3 tỷ người;
        + Trên toàn cầu, hơn 80% nước thải sinh ra từ hoạt động xã hội chảy ngược trở lại môi trường mà không được xử lý hoặc tái sử dụng.
       +   Ít nhất 65% diện tích đất rừng bị suy thoái; từ năm 1900 đến nay, khoảng 64-71% diện tích đất ngập nước tự nhiên mất đi do hoạt động của con người.

          Tỉnh Bến Tre có tiềm năng trong việc ứng dụng các giải pháp dựa vào tự nhiên để góp phần bảo vệ, sử dụng hiệu quả nguồn nước trên địa bàn tỉnh. Có thể xem Bến Tre như là vùng đất ngập nước rộng lớn với hệ thống sông, rạch, kênh, mương dầy đặc; bãi bồi, rừng ngập mặn ven biển, Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Thạnh Phú, Khu bảo tồn sân chim Vàm Hồ; hồ chứa nước ngọt…Bên cạnh đó là hành lang thực vật bản địa ven sông (như bần, dừa nước, sậy,…) và ven biển (mắm, đước,…).

DSC_0369_2018.JPGIMG_1634_201.jpg

Hình: Hành lang thực vật bản địa - bần, dừa nước ven sông tỉnh Bến Tre

(Ảnh: Duy Anh)

       Trước nhu cầu sử dụng nước để phát huy thế mạnh kinh tế của tỉnh về nuôi trồng thủy sản, trồng trọt trong thời gian tới; áp lực nước thải từ phát triển công nghiệp và thách thức liên quan đến khô hạn, xâm nhập mặn thì bên cạnh các biện pháp công trình thủy lợi trọng điểm, việc quản lý và bảo vệ, phát triển "cơ sở hạ tầng xanh" hiện có của tỉnh là một trong những giải pháp cần được quan tâm hơn. Đây sẽ là giải pháp hỗ trợ tích cực trong phát huy hiệu quả các công trình thủy lợi, cải thiện chất lượng nước, bảo tồn đa dạng sinh học và ít tốn kém chi phí trong điều kiện hạn chế về nguồn lực, giải pháp phù hợp với tinh thần Nghị quyết 120/NQ-CP của Chính phủ về phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long thích ứng biến đổi khí hậu.

(Nguồn thông tin ngày Nước thế giới 2018 - website: worldwaterday.org)

Huỳnh Lê Duy Anh - P. Quản lý tài nguyên và Khí tượng thủy văn


13/03/2018 11:00 SAĐã ban hành
Hội nghị triển khai thực hiện Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu khu vực miền Nam; Cơ hội, thách thức và hành động ứng phó của Bến TreHội nghị triển khai thực hiện Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu khu vực miền Nam; Cơ hội, thách thức và hành động ứng phó của Bến Tre
Ngày 18 tháng 8 năm 2017, tại Thành phố Hồ Chí Minh, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tổ chức Hội nghị tập huấn triển khai thực hiện Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu

           Ngày 18 tháng 8 năm 2017, tại Thành phố Hồ Chí Minh, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tổ chức Hội nghị tập huấn triển khai thực hiện Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu. Hội nghị do Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì cùng Đại diện Cục Biến đổi khí hậu, Viện Khí tượng thủy văn và Biến đổi khí hậu và Đại biểu tham dự đến từ các Sở Tài nguyên và Môi trường, Công thương, Kế hoạch và Đầu tư, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn của 19 tỉnh, thành phố khu vực miền Nam.

            Đại biểu tỉnh Bến Tre tham dự Hội nghị là các thành viên Tổ giúp việc cho Ban Chỉ đạo ứng phó biến đổi khí hậu tỉnh thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường, Công thương và Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

21.8-Paris_-_HCM_workshop_2017.png 

Hình: Ông Võ Văn Ngoan - Sở Tài nguyên và Môi trường chia sẻ kinh nghiệm ứng phó biến đổi khí hậu tỉnh Bến Tre (Ảnh: Duy Anh)

        Hội nghị đã phổ biến các thông tin liên quan đến kế hoạch thực hiện Thỏa thuận Paris của Việt Nam theo Quyết định 2053/QĐ-TTg ngày 28/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ; hướng dẫn xây dựng kế hoạch cấp tỉnh thực hiện Thỏa thuận Paris. Đồng thời, Hội nghị cung cấp các thông tin về kịch bản biến đổi khí hậu và tác động đến ĐBSCL; công tác quản lý Nhà nước về biến đổi khí hậu; gắn kết tăng trưởng xanh, giảm nhẹ rủi ro thiên tai với ứng phó biến đổi khí hậu để phát triển bền vững; và trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm ứng phó biến đổi khí hậu giữa các tỉnh, thành phố trong khu vực.

        Theo Cục Biến đổi khí hậu - Bộ Tài nguyên và Môi trường: trong khuôn khổ Thỏa thuận Paris, Việt Nam sẽ thực hiện "Đóng góp do quốc gia tự quyết" (NDC) đến năm 2030 với hai hợp phần chính: về giảm nhẹ cam kết giảm 8% tổng lượng phát thải khí nhà kính so với kịch bản phát thải thông thường và có thể tăng lên 25% khi nhận được sự hỗ trợ của quốc tế; về thích ứng sẽ tiếp tục thực hiện các chương trình, dự án thuộc Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu nhằm tăng khả năng chống chịu, bảo vệ cuộc sống và sinh kế nhân dân; Kế hoạch thực hiện Thỏa thuận Paris của Việt Nam thực hiện 05 mục tiêu cụ thể trong NDC: (1) Thực hiện cam kết giảm phát thải khí nhà kính; (2) Thực hiện cam kết thích ứng biến đổi khí hậu; (3) Chuẩn bị nguồn lực con người, công nghệ và tài chính; (4) Thiết lập hệ thống công khai, minh bạch nhằm giám sát, đánh giá các nội dung thực hiện của mục tiêu (1), (2) và (3); mục tiêu (5) là hoàn thiện thể chế, chính sách tạo môi trường thuận lợi và tập trung nỗ lực quốc gia cho ứng phó biến đổi khí hậu; Khung thời gian của Kế hoạch thực hiện Thỏa thuận Paris đến năm 2030, trong đó: giai đoạn 2016 - 2020 tiếp tục thực hiện các hoạt động ứng phó biến đổi khí hậu đã được phê duyệt, chuẩn bị về mặt thể chế chính sách, nguồn lực nhằm đến năm 2020 sẵn sàng thực hiện các nghĩa vụ do Thỏa thuận Paris quy định; giai đoạn 2021 - 2030 thực hiện các nội dung trong NDC và các nhiệm vụ mới theo quy định của thỏa thuận Paris.

            Bến Tre là một trong những tỉnh được nhận định chịu tác động mạnh của biến đổi khí hậu, tỉnh đã xây dựng Kế hoạch hành động ứng phó biến đổi khí hậu giai đoạn 2016 - 2020 và cụ thể các nhiệm vụ thực hiện thỏa thuận Paris cho giai đoạn 2017 - 2020 trên cơ sở Quyết định số 2053/QĐ-TTg ngày 28/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ. Theo đánh giá của Ban Chỉ đạo ứng phó biến đổi khí hậu (Báo cáo số 01/BC-BCĐBĐKH ngày 25/7/2017), sau thời gian thực hiện các nhiệm vụ ứng phó biến đổi khí hậu đến tháng 6/2017 tỉnh đã đạt những kết quả tích cực, nhưng vẫn tồn tại một số khó khăn, hạn chế và những thách thức, cơ hội trong thời gian tới, cụ thể như sau:

           Hạn chế, khó khăn: công tác ứng phó còn bị động, lúng túng; sự quan tâm chưa đúng mức của một số cán bộ, công chức, một bộ phận người dân chưa tích cực tham gia bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu; về nguồn nhân lực, tỉnh đã thành lập Tổ giúp việc cho Ban Chỉ đạo đều là cán bộ kiêm nhiệm.

          Cơ hội hỗ trợ, hợp tác quốc tế; ứng dụng công nghệ tiên tiến trong ứng phó biến đổi khí hậu: tỉnh đã và đang tranh thủ được tài trợ Quốc tế, hỗ trợ của Trung ương triển khai các công trình trọng điểm ứng phó biến đổi khí như Dự án Quản lý nước tỉnh Bến Tre (ứng dụng công nghệ Nhật trong quản lý nước và ứng phó hạn mặn); Xây dựng hệ thống quan trắc chất lượng nước và cảnh báo mặn tự động (Deltares Hà Lan tư vấn thực hiện); Cấp nước sinh hoạt Cù lao Minh trong điều kiện biến đổi khí hậu; Dự án Đê biển Thạnh Phú; Củng cố, nâng cấp đê biển huyện Bình Đại; Cân đối ngân sách tỉnh thực hiện dự án Hồ chứa nước ngọt Kênh lấp huyện Ba Tri; Và cơ hội phát triển điện năng lượng mặt trời, điện gió góp phần giảm phát thải khí nhà kính.

         Thách thức: các tác động của biến đổi khí hậu ngày càng bất thường và có xu hướng gia tăng về cường độ; nguy cơ xâm nhập mặn, khô hạn kéo dài, sạt lở ven biển, triều cường,…vẫn tiếp diễn, mặt khác các công trình trọng điểm ứng phó chưa hoàn thành, khép kín; thêm vào đó, khả năng thông tin, cảnh báo, dự báo mặn còn hạn chế và sự không ổn định của nước thượng nguồn sông Mekong gia tăng áp lực lên công tác ứng phó biến đổi khí hậu.

Huỳnh Lê Duy Anh - Phòng QLTN&KTTV


22/08/2017 8:00 SAĐã ban hành
Khung chính sách bồi thường, hỗ trợ tái định cư (RPF)Khung chính sách bồi thường, hỗ trợ tái định cư (RPF)
Để thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và khôi phục đời sống những người bị ảnh hưởng bởi Dự án Quản lý nước Bến Tre vay vốn Tổ chức JICA - Nhật Bản (sau đây gọi tắt là Dự án B-SWAMP) do bị thu hồi đất, thiệt hại nhà cửa và những tài sản khác, Chính phủ Việt Nam (GoV) với Quyết định số 2418/QĐ-TTg, ngày 12/12/2016 đã phê duyệt Khung Chính sách Bồi thường, hỗ trợ, Tái định cư (sau đây gọi là Khung chính sách tái định cư) của Dự án

     1. Tóm tắt nội dung dự án 

      Trước tình hình biến đổi khí hậu phức tạp, sự ấm dần lên của trái đất dẫn đến hiện tượng tan băng ở 2 cực, sự dâng cao mực nước biển dẫn đến ngập các vùng đất thấp ở các quốc gia nằm ven biển, khí hậu thay đổi khắc liệt mưa, hạn bất thường và lưu lượng sông Mêkông giảm đáng kể do hiện tại và trong tương lai các quốc gia nằm thượng lưu như Trung Quốc, Thái Lan, Lào…có kế hoạch đẩy mạnh phát triển thuỷ điện để thay thế cho các nguồn năng lượng đang ngày một cạn kiệt. Tất cả các yêu tố trên dẫn đến ngập, lụt, hạn hán, xâm nhập mặn khốc liệt, thiệt hại nghiêm trọng đến sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Bến Tre nói riêng và Đồng bằng sông Cửu Long nói chung.

       Bộ Nông nghiệp và PTNT cùng UBND tỉnh Bến Tre xây dựng dự án "Quản lý nước Bến Tre" được điều chỉnh từ dự án "Hệ thống thủy lợi Bến Tre" (JICA3) với quy mô từ 03 tỉnh (Trà Vinh, Vĩnh Long, Bến Tre), tập trung cho 01 tỉnh (Bến Tre), nhằm mục tiêu chủ động kiểm soát mặn, nước biển dâng, lấy nước, tiêu nước, lấy phù sa, thau chua, rửa phèn phục vụ sản xuất nông nghiệp kết hợp nuôi trồng thủy sản, tạo địa bàn phân bố dân cư & kết hợp giao thông thủy bộ, tạo thành mạng lưới giao thông thủy bộ liên tục trong vùng, hoàn thiện khép kín hệ thống thủy lợi của tỉnh nhằm mục tiêu phát triển vùng kinh tế, xã hội trọng điểm của tỉnh Bến Tre, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia.

      2. Mục tiêu chung của dự án

      Bảo vệ ngành nông nghiệp và đời sống của nhân dân khu vực dự án không bị đe dọa bởi xâm nhập mặn gây ra bởi biến đổi khí hậu, kiểm soát mặn và cung cấp nước ngọt để phục vụ sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, du lịch...  phục vụ phát triển kinh tế - xã hội cho tỉnh Bến Tre.

Tải nội dung chi tiết:

1. QD 2353-QĐ-TTg phe duyet chu truong dau tu.pdf

2. QD 2418-QĐ-TTg phe duyet RPF.pdf

3. 12122016_RPF B-SWAMP_VN-Approval.doc

4. Bando DA.pdf

16/05/2017 8:00 SAĐã ban hành
Ngành Tài nguyên và Môi trường Bến Tre: MỘT NĂM BÁM SÁT MỤC TIÊU PHỤC VỤ NHÂN DÂNNgành Tài nguyên và Môi trường Bến Tre: MỘT NĂM BÁM SÁT MỤC TIÊU PHỤC VỤ NHÂN DÂN
<dd>Có thể nói 2007 là năm mà ngành Tài nguyên và Môi trường Bến Tre gặt hái được nhiều thành công trong cả hai phương diện quản lý nhà nước và thực hiện các mục tiêu hoạt động của ngành.
Có thể nói 2007 là năm mà ngành Tài nguyên và Môi trường Bến Tre gặt hái được nhiều thành công trong cả hai phương diện quản lý nhà nước và thực hiện các mục tiêu hoạt động của ngành.
Thực hiện chức trách quản lý nhà nước, trong năm 2007 hầu hết các nhiệm vụ công tác của ngành thực hiện theo đúng kế hoạch, đảm bảo số lượng, chất lượng và thời gian thực hiện.
Công tác quản lý đất đai ngày càng chặt chẽ, các nhiệm vụ thuộc thẩm quyền giải quyết của cấp tỉnh do pháp luật đất đai quy định đều được Sở tập trung thực hiện tốt; đã hoàn thành cơ bản công tác đo đạc lập bản đồ địa chính và đăng ký lập hồ sơ địa chính 19 xã thuộc huyện Bình Đại, hoàn thành công tác lập hồ sơ địa chính 6 xã thuộc huyện Giồng Trôm và 6 xã thuộc huyệnThạnh Phú; hoàn thành cơ bản công tác cấp giấy CNQSDĐ (trên 90% số hộ gia đình, các nhân sử dụng đất được cấp giấy); hoàn thành công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp tỉnh và 8/8 huyện, thị xã; đã điều tra và xây dựng xong phương án quản lý nguồn quỹ đất công của tỉnh; hồ sơ địa chính được lập mới và chỉnh lý biến động ngày càng được hoàn thiện; các dịch vụ công phục vụ người sử dụng đất mặc dù còn nhiều việc phải tiếp tục chấn chỉnh, nhưng nhìn chung đã ngày càng hiệu quả và phục vụ người dân tốt hơn… Đặc biệt trong năm 2007, Sở Tài nguyên và Môi trường đã tham mưu tốt cho UBND tỉnh về việc chuẩn bị kế hoạch tham gia thực hiện Dự án Hoàn thiện và hiện đại hoá hệ thống quản lý đất đai Việt Nam (VLAP) giai đoạn 2008-2013, một cơ hội lớn cho công tác quản lý đất đai ở Bến Tre.
Bảo vệ môi trường, một nhiệm vụ hết sức quan trọng và cấp bách trong giai đoạn hiện nay, giai đoạn hội nhập phát triển kinh tế, Bến Tre cũng như các tỉnh khác trong cả nước sẽ gánh chịu hệ quả từ sự mâu thuẩn tất yếu giữa phát triển kinh tế và ô nhiễm môi trường. Do đó, công tác bảo vệ môi trường đã được tập trung thực hiện xuyên suốt trong năm qua. Công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật bảo vệ môi trường ngày càng hiệu quả, nhận thức của người dân về bảo vệ môi trường được nâng cao; công tác quan trắc môi trường, thẩm định môi trường, kiểm soát ô nhiễm môi trường ngày càng được chuyên sâu; các mô hình xử lý ô nhiễm được tập trung nghiên cứu nhằm ứng dụng giải quyết ô nhiễm môi trường trong chăn nuôi heo, sản xuất than thiêu kết, chỉ xơ dừa… và đã đạt được một số kết quả bước đầu; Dự án Hợp phần kiểm soát ô nhiễm môi trường khu đông dân cư nghèo tỉnh Bến Tre đã được triển khai thực hiện đúng kế hoạch trong năm thứ nhất; Dự án "Quy hoạch môi trường tỉnh Bến Tre giai đoạn 2006-2010 và định hướng đến năm 2020" với nhiều chương trình giải quyết ô nhiễm trường của tỉnh trong tương lai đã được xây dựng ... tất cả đã góp phần cải thiện môi trường sống của người dân.
Về công tác quản lý tài nguyên năm qua cũng có những chuyển biến tích cực. Công tác điều tra, khảo sát đánh giá, kiểm tra khai thác tài nguyên nước và cát lòng sông được tăng cường, trong đó có hỗ trợ các huyện thành lập HTX khai thác cát sông, nhằm khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả hai loại tài nguyên quý giá này. Trong năm, Sở Tài nguyên và Môi trường cũng đã triển khai thực hiện giai đoạn đầu Đề án điều tra, bổ sung quy hoạch thăm dò, khai thác khoáng sản cát lòng sông đến 2010 và định hướng đến năm 2020 tỉnh Bến Tre.
Công tác thanh tra chuyên ngành tài nguyên và môi trường ngày càng chuyên sâu. Với vai trò là cơ quan tham mưu giải quyết khiếu kiện về đất đai, năm qua ngành Tài nguyên và Môi trường đã bám sát kế hoạch giải quyết khiếu kiện về đất đai của tỉnh, tập trung lực lượng tham gia các Đoàn công tác liên ngành của tỉnh. Kết quả đã giải quyết xong cơ bản dạng khiếu kiện đất TĐSX và giải quyết thấu tình đạt lý nhiều vụ việc khác, góp phần ổn định tình hình trật tự ở địa phương.
Bên cạnh các công tác chuyên môn, công tác xây dựng cơ sở dữ liệu tài nguyên môi trường và ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý cũng được Sở Tài nguyên và Môi trường quan tâm thực hiện và đã đạt được một số kết quả khả quan như đang thực hiện giai đoạn đầu của kế hoạch xây dựng cơ sở dữ liệu tài nguyên môi trường tỉnh Bến Tre (dạng số) để phục vụ cho công tác của ngành và của tỉnh; Hệ thống thông tin đất đai Bến Tre (BTLIS) và chương trình phần mềm Bản đồ quản lý hiện trạng khai thác tài nguyên nước tỉnh Bến Tre đang trong quá trình chạy thử nghiệm, Website Sở Tài nguyên và Môi trường Bến Tre với chương trình xem thông tin quy hoạch thửa đất được đông đảo các tổ chức và người dân truy cập xem thông tin... tất cả những công tác trên đã góp phần nâng cao hiệu quả quả lý nhà nước của ngành tại địa phương và góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nhà.
Năm 2008 là năm thứ 3 thực hiện Kế hoạch 5 năm 2006-2010 của tỉnh. Nỗ lực của ngành Tài nguyên và Môi trường trong năm qua có ý nghĩa quan trọng, góp phần thực hiện mục tiêu ngày càng phục vụ nhân dân tốt hơn và góp phần vào sự phát triển bền vững của tỉnh nhà. Hy vọng kế thừa thành công trong thời gian qua, ngành Tài nguyên và Môi trường Bến Tre sẽ tiếp tục gặt hái những thành tựu mới.
VĨNH THỊNH
07/01/2008 12:00 SAĐã ban hành
Kế hoạch thanh tra về tài nguyên và môi trường năm 2019Kế hoạch thanh tra về tài nguyên và môi trường năm 2019
Quyết định số 3549/QĐ-BTNMT ngày 23 tháng 11 năm 2018 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc phê duyệt Kế hoạch thanh tra năm 2019.
29/01/2019 4:00 CHĐã ban hành
Kết quả thực hiện tiêu chí Môi trường và An toàn thực phẩm trong xây dựng nông thôn mới  trên địa bàn tỉnh đến tháng 6 năm 2020Kết quả thực hiện tiêu chí Môi trường và An toàn thực phẩm trong xây dựng nông thôn mới  trên địa bàn tỉnh đến tháng 6 năm 2020
Để thực hiện mục tiêu đến năm 2020 có 100% xã đạt tiêu chí sô 17, Sở Tài nguyên và Môi trường đã tham mưu xây dựng và trình Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Đề án về thực hiện tiêu chí Môi trường và An toàn thực phẩm trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh

Nhằm đẩy nhanh tiến độ kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện tiêu chí 17 về Môi trường và An toàn thực phẩm trong xây dựng nông thôn mới của các xã trên địa bàn tỉnh. Năm 2020, được Sở Tài nguyên và Môi trường chọn làm năm về đích trong thực hiện các nhiệm vụ được Tỉnh ủy giao trong đó có nhiệm vụ về xây dựng nông thôn mới.

Để thực hiện mục tiêu đến năm 2020 có 100% xã đạt tiêu chí sô 17, Sở Tài nguyên và Môi trường đã tham mưu xây dựng và trình Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Đề án về thực hiện tiêu chí Môi trường và An toàn thực phẩm trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh; phối hợp với các ngành tổ chức các hội nghị, lớp tập huấn hướng dẫn việc thực hiện tiêu chí 17 cho Ban Chỉ đạo xây dựng nông thôn mới, cán bộ phụ trách tiêu chí 17 và Ban phát triển các ấp của các xã. Bên cạnh đó, phối hợp với các đoàn thể tổ chức hội thi tuyên truyền viên, báo cáo viên về bảo vệ môi trường trong xây dựng nông thôn mới qua đó nhằm nâng cao nhận thức của người dân. Qua gần 5 năm triển khai thực hiện, đến nay kết quả thực hiện tiêu chí 17 tại 142 xã đạt được nhiều kết quả khả quan như:

            Chỉ tiêu 17.1 có 99,4% hộ sử dụng nước hợp vệ sinh, trong đó có 70,1% hộ sử dụng nước sạch; có 101 xã tự đánh giá đạt. Chỉ tiêu 17.2 có 71% cơ sở thuộc đối tượng phải thực hiện thủ tục môi trường đã lập và được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy xác nhận và 83,3% cơ sở có công trình, biện pháp xử lý chất thải; có 83 xã tự đánh giá đạt. Chỉ tiêu 17.3 về xây dựng cảnh quan môi trường, xanh - sạch - đẹp - an toàn được các địa phương định kỳ tổ chức gắn với việc thực hiện Ngày Chủ nhật nông thôn mới hàng tháng; có 84 xã tự đánh giá đạt. Chỉ tiêu 17.4 có 139 xã có quy hoạch đất xây dựng nghĩa trang nhân dân, việc mai táng người chết phù hợp với tín ngưỡng, truyền thống văn hóa và nếp sống văn minh, hiện đại, đảm bảo không gây ô nhiễm môi trường. Chỉ tiêu 17.5 về chất thải rắn trên địa bàn và nước thải khu dân cư tập trung, cơ sở sản xuất – kinh doanh được thu gom, xử lý theo quy định, có 11,1% hộ đăng ký thu gom rác và 80,9% tự thực hiện các biện pháp xử lý rác thải như chôn lấp hợp vệ sinh và đốt; có 89 xã tự đánh giá đạt. Chỉ tiêu 17.6 có 98,8% hộ có nhà tắm kín đáo, 88,2% hộ có nhà tiêu hợp vệ sinh, có 98,6% hộ có bể chứa nước sinh hoạt hợp vệ sinh và 80,6% hộ được đánh giá thực hiện tốt nội dung 3 sạch; có 71 xã tự đánh giá đạt chỉ tiêu. Chỉ tiêu 17.7 có 64,3% hộ chăn nuôi thuộc đối tượng phải đăng ký hồ sơ môi trường đã lập và được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy xác nhận; có 100 xã tự đánh giá đạt. Chỉ tiêu 17.8 có 53 xã tự đánh giá đạt chỉ tiêu về hộ gia đình và cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm tuân thủ các quy định về đảm bảo an toàn thực phẩm. Đến nay, đã có 60 xã được Sở Tài nguyên và Môi trường kiểm tra, công nhận đạt tiêu chí 17.

ntm1.png
Đường nông thôn mới huyện Ba Tri (Ảnh: Nguyễn Quốc Thi)

              Qua những kết quả trên có thể thấy, các địa phương đã có sự chủ động trong thực hiện các chỉ tiêu khó như sử dụng nước sạch; xây dựng nhà tiêu hợp vệ sinh; thực hiện thủ tục môi trường đối với các cơ sở sản xuất, hộ chăn nuôi; cải tạo cảnh quan môi trường. Công tác tuyên truyền, vận động được các địa phương tập trung thực hiện, qua đó đã góp phần nâng cao nhận thức của người dân về bảo vệ môi trường nói chung và tự giác tham gia các phần việc liên quan đến hộ gia đình trong xây dựng nông thôn mới, góp phần đẩy nhanh tiến độ thực hiện tiêu chí 17 tại các địa phương.

             Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn không ít khó khăn như: tuy đa số cơ sở sản xuất, hộ chăn nuôi có công trình, biện pháp xử lý chất thải nhưng vẫn còn tình trạng ô nhiễm môi trường do công trình xử lý bị hư hỏng, quá tải, không vận hành thường xuyên; tỷ lệ hộ chưa có nhà tiêu hợp vệ sinh còn cao, tình trạng sử dụng song song cầu tiêu ao cá vẫn còn khá phổ biến do công tác vận động tuyên truyền chưa đạt hiệu quả, người dân còn tư tưởng trông chờ vào sự hỗ trợ; việc xây dựng cảnh quan môi trường xanh, sạch, đẹp tuy có sự quan tâm nhưng chưa có sự chuyển biến lớn, chưa tạo được nét đặc trưng riêng của xã nông thôn mới; việc thực hiện chỉ tiêu 17.8 về an toàn thực phẩm đối với các cơ sở trên địa bàn vẫn là khó khăn chung của các địa phương, nguyên nhân là do cán bộ thực hiện còn gặp khó khăn trong việc xác định đối tượng phải thực hiện các quy định về an toàn thực phẩm của ngành công thương, nông nghiệp và y tế; thiếu chủ động trong việc liên hệ các ngành để hỗ trợ tổ chức lớp tập huấn kiến thức an toàn thực phẩm và việc vận động người dân, cơ sở tham gia các lớp tập huấn cũng như khám sức khỏe,…

              Để hoàn thành mục tiêu có 100% xã đạt tiêu chí 17 đòi hỏi phải có sự chung tay nổ lực rất lớn của cấp, các ngành mà đặc biệt là sự quan tâm, chỉ đạo sâu xác của Ban Chỉ đạo xây dựng nông thôn mới địa phương cùng sự đồng lòng và tự giác tham gia của người dân trong việc thực hiện các phần việc liên quan đến hộ gia đình. Trong đó, cần xác định những nội dung trọng tâm cần thực hiện như triển khai cho các hộ chăn nuôi và trồng trọt trên địa bàn ký bản cam kết an toàn thực phẩm thuộc lĩnh vực nông nghiệp, vận động các cơ sở tham dự các lớp tập huấn kiến thức do ngành công thương và y tế tổ chức, thực hiện khám sức khỏe theo quy định; tăng cường các đoàn vận động người dân thực hiện các phần việc như xây dựng nhà tiêu hợp vệ sinh, thực hiện 3 sạch, xóa cầu tiêu ao cá; tổ bảo vệ môi trường tổ chức kiểm tra, lập biên bản nhắc nhở các cơ sở, hộ chăn nuôi thực hiện đăng ký thủ tục môi trường và xử lý chất thải theo quy định, xử lý nghiêm đối với các trường hợp vi phạm. Bên cạnh đó, Ban chỉ đạo xây dựng nông thôn mới huyện phải thường xuyên kiểm tra, đôn đốc tiến độ thực hiện của các xã trên địa bàn, làm rõ trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân được phân công thực hiện,….có như vậy chúng ta mới có thể hoàn thành mục tiêu trên trong năm 2020.

Nguyễn Minh Trí



24/06/2020 10:00 SAĐã ban hành
Bản đồ tình hình xâm nhập mặn tỉnh Bến Tre từ ngày 01/3 đến ngày 05/3/2019Bản đồ tình hình xâm nhập mặn tỉnh Bến Tre từ ngày 01/3 đến ngày 05/3/2019
Bản đồ tình hình xâm nhập mặn tỉnh Bến Tre từ ngày 01/3 đến ngày 05/3/2019
06/03/2019 6:00 CHĐã ban hành
Một số hoá chất độc hại có nguy cơ gây bệnh ung thưMột số hoá chất độc hại có nguy cơ gây bệnh ung thư
Theo các nhà khoa học, thì một trong những nguyên nhân chính gây bệnh ung thư cho con người là do các loại hoá chất độc hại, nhiễm vào cơ thể qua thực phẩm, qua đất, nước vào thức ăn, nước uống và không khí để thở.



Hiện nay, bất chấp các bằng chứng hiển nhiên về tác động xấu của các hoá chất độc hại, nhưng chúng ta được cung cấp rất ít thông tin an toàn cần thiết về phần lớn trong khoảng 70.000 hoá chất do con người làm ra trên thị trường, đặc biệt là các hoá chất do con người làm ra tại các nước đang phát triển. Sau đây là một số hoá chất độc hại gây ung thư phổ biến nhất ở nước ta hiện nay:
Chất dioxin: Là một loại cực độc có mặt trong hầu hết các môi trường thành phần, trong đó nguồn phát thải dioxin do đốt cháy túi nilong từ các hoạt động của con người là một nguồn phát sinh không kém phần quan trọng. Dioxin ít tan trong nước, tồn tại nhiều và lâu ở đất, trầm tích (có khi đến 30 – 40 năm), xâm nhiễm qua con đường thực phẩm, vào thực vật, rồi vào tôm cá, vào rau quả và cuối cùng vào con người. Cũng có thể ngộ độc trực tiếp do hô hấp, hay qua da do tiếp xúc, hay qua nước uống. Nếu liều lượng cao có thể gây độc cấp tính, nếu liều lượng thấp gây độc mãn tính, nhất là gây ung thư.
Hóa chất gây ung thư có trong thực phẩm và qua chế biến thực phẩm: Các độc chất từ thuốc trừ sâu và phân hóa học. Chúng tồn dư trong môi trường đất, nước rồi tích lũy vào sản phẩm nông nghiệp như lúa, khoai, rau quả. Chúng cũng có mặt trong thực phẩm dưới vai trò là chất bảo quản, diệt nấm mốc hoặc là tạp chất sinh ra trong quy trình nuôi trồng, sản xuất hoặc chế biến thực phẩm.
Chất formon, hàn the: Là hợp chất hữu cơ rất độc, thế nhưng lại bị lạm dụng làm bánh phở, hủ tiếu, bún, bánh ướt để các loại thực phẩm này dai và lâu thiu. Nó làm biến dị các nhiễm sắc thể, gây nên các bệnh gây ung thư cho con người như: ung thư xoang mũi, họng, phổi, ung thư đường tiêu hóa. Còn hàn the thì khi đưa vào cơ thể, khoảng 20% sẽ tích tụ vĩnh viễn và gây tổn thương các tế bào gan, teo tinh hoàn và là tác nhân gây ung thư không kém formon.
Chất 3-MCPD và 1,3-DCP: có trong nước tương do quy trình công nghệ không hợp lý. Chúng được tạo ra từ quá trình thủy phân chất béo (váng dầu) bằng dung dịch axit clohydric. Chất này có khả năng biến đổi gen, và đặc biệt nguy hiểm hơn khi hàm lượng 3-MCPD cao, tạo điều kiện thuận lợi hình thành một chất gây ung thư mạnh hơn đó là 1,3-DCP (1,3- diclopropan-2-0l) gây nên khối u thận, biểu mô miệng, lưỡi và biểu hiện gây ung thư trên cơ thể động vật, tất nhiên nó sẽ gây ung thư cho người rất cao.
Độc tố gây ung thư của nấm mốc: Mỗi buổi nhậu, người ta bày ra một gói đậu phộng rang hay một gói hạt điều cho thực khách nhấm nháp, uống bia… Nhưng nếu các hạt này bị mốc, thấy rõ ở mầm hạt, màu vàng xám hoặc đen, thì ung thư sẽ có thể xảy ra khi ăn nhiều loại này.
Độc tố gây ung thư do rượu: Khi rượu được đưa vào trong cơ thể người, quá trình chuyển hóa của rượu có sinh ra acetaldehyd (Aa), là một carcinogen trong các mô động vật, là chất gây biến dị vi khuẩn và các tế bào động vật có vú. Sau thời gian nghiện rượu mãn tính, Aa có nồng độ cao trong máu tăng nguy cơ gây ung thư gan và các tổ chức khác trong cơ thể. Aa có khả năng làm DNA (vật liệu di truyền ở cấp độ phân tử tham gia quyết định các tính trạng) đột biến, gây ung thư.
Độc chất gây ung thư từ thuốc lá: Nhiễm độc khói thuốc lá không chỉ cho người hút mà nguy hại hơn là nó ô nhiễm môi trường gây cho người hít phải, nhất là trẻ con bị ung thư phổi. Thành phần khói thuốc lá rất phức tạp, có tới hơn 4.000 hợp chất trong đó 200 loại hóa chất có hại cho sức khỏe và nguy hiểm hơn nữa là số lượng chất gây ung thư cho người lên 40 chất.
Một số hoá chất, khí thải gây ung thư cho con người do ô nhiễm môi trường:
- Các chất khí thải của động cơ và các lò đốt công nghiệp sử dụng nhiên liệu than, củi, xăng... Bụi chì từ khói xe, SO2, N2O, Clo từ khói thải nhà máy, bụi phấn, thậm chí cả nước hoa quá liều nữa. Bụi xi măng, chứa nhiều hạt silic có kích thước từ 1-5 micro mét. Những chất khí này khi vào phổi sẽ nằm lại trong các phế nang, phế quản, gây ung thư phổi, ung thư thanh quản…
- Nhựa Polychlorobipheyl (PCB) được sử dụng rộng rãi dưới dạng các sản phẩm như: dầu nhờn, cồn dán, xi đánh giày, chất hút bụi, thuốc trừ sâu, dưới tác dụng của nhiệt độ môi trường sẽ bị phân hủy thành nhiều chất dioxin cực độc hại dẫn đến ung thư ác tính.
- Bụi amian (cả amian trắng, xanh hay nâu) trong không khí hay sợi amian trong nước từ các mái nhà lợp tôn phibroximăng theo nước mưa chảy xuống, là nguyên nhân gây ung thư phế quản, phổi, biểu mô.
- Chất fenol có trong dầu vỏ hạt điều, là một chất độc trong môi trường nước và cả trong môi trường không khí, nó có mặt trong khói khi đốt vỏ hạt điều có khả năng gây ung thư.
Muốn tránh các bệnh nêu trên, đối với mỗi người phải tự xây dựng cho mình một môi trường sống, sinh hoạt phải sạch và lành mạnh, tránh việc sử dụng các đồ ăn, thức uống có nguy cơ gây độc cao.

Mai Hanh (Tổng hợp nguồn:www.vista.gov.vn)




10/12/2008 12:00 SAĐã ban hành
Thông báo v/v Kiểm tra hiện trạng sử dụng đất, công trình xây dựng của chủ đầu tư dự án Khu dân cư thị trấn Thạnh PhúThông báo v/v Kiểm tra hiện trạng sử dụng đất, công trình xây dựng của chủ đầu tư dự án Khu dân cư thị trấn Thạnh Phú
Thông báo v/v Kiểm tra hiện trạng sử dụng đất, công trình xây dựng của chủ đầu tư dự án Khu dân cư thị trấn Thạnh Phú


Tải văn bản: 2299_2019_TB_STNMT.pdf

01/08/2019 9:00 SAĐã ban hành
Thông báo về việc góp ý dự thảo văn bảnThông báo về việc góp ý dự thảo văn bản
Góp ý Quy chế Phối hợp quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo tỉnh Bến Tre

I. Nội dung

   Sở Tài nguyên và Môi trường đã Dự thảo Quy chế phối hợp quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo trên địa bàn tỉnh Bến Tre.

   Để hoàn chỉnh Dự thảo Quy chế và có cơ sở trình Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành, Sở Tài nguyên và Môi trường kính đề nghị quý cơ quan, đơn vị đóng góp ý kiến Dự thảo Quy chế và gửi về Sở Tài nguyên và Môi trường để tổng hợp.

II. Thời gian
    Thời gian góp ý dự thảo văn bản: Từ ngày 08/8/2017 đến ngày 08/9/2017
III. Địa chỉ nhận góp ý
     Các ý kiến đóng góp về nội dung của văn bản trên gửi về Chi cục Biển và Hải đảo - Sở Tài nguyên và Môi trường, có thể bằng văn bản hoặc địa chỉ email (nguyennhan2883@gmail.com).

Tải nội dung văn bản dự thảo:

DuThao_Quy_che_phoi_hop_2017_8_08-UBND.doc

08/08/2017 3:00 SAĐã ban hành
Quyết định 99/QĐ-STNMT Ban hành Kế hoạch thanh tra, kiểm tra năm 2020Quyết định 99/QĐ-STNMT Ban hành Kế hoạch thanh tra, kiểm tra năm 2020
​Ngày 04 tháng 01 năm 2020 Sở Tài nguyên và Môi trường Ban hành Kế hoạch thanh tra, kiểm tra năm 2020

     ​Ngày 04 tháng 01 năm 2020 Sở Tài nguyên và Môi trường Ban hành Kế hoạch thanh tra, kiểm tra năm 2020.

Chi tiết xem tại: 99_2020_QD_STNMT_KehoachThanhtra.pdf

07/02/2020 3:00 CHĐã ban hành
1 - 30Next
Ảnh
Video
SỞ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG TỈNH BẾN TRE
Chịu trách nh​iệm chính: Ông Bùi Minh Tuấn - Chức vụ: Giám đốc Sở TN và MT | Giấy phép số: 139/GP - BC, ngày 16 tháng 4 năm 2007
Địa chỉ trụ sở: Số 126A, đường Nguyễn Thị Định, Tổ 10, Khu phố 2, Phường Phú Tân, Tp.Bến Tre, tỉnh Bến Tre
Điện thoại: 0275.3822210 - 0275.3825696 - Fax: 0275.3813176; Email: stnmt@bentre.gov.vn