Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksTin tức sự kiện

 
Tin tức sự kiện - Tin vắn
Từ ngày 23 tháng 3 năm 2020,Trung tâm Công nghệ thông tin thuộcSở Tài nguyên và Môi trườngBến Tre chuyển trụ sở làm việc về Nhà làm việc các sở, ngành tỉnh (6 Sở) 
 
 
Tham gia chuyến giao lưu về phía Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bến Tre có mời đại điện Đảng ủy, Ban lãnh đạo Sở Tài nguyên và Môi trường, đại diện Công đoàn cơ sở Sở Tài nguyên và Môi trường, cùng với đại diện lãnh đạo các đơn vị đến từ Sở Tài nguyên và Môi trường các tỉnh An Giang, Hậu Giang và thành phố Cần Thơ và gần 60 công đoàn viên, đoàn viên của bốn Sở. 
 
Ngày 25 tháng 5 năm 2019, tuổi trẻ Sở Tài nguyên và Môi trường Bến Tre đã có chuyến về nguồn tại khu di tích Đền thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh và giao lưu với Đoàn thanh niên Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Trà Vinh. 
Công văn số 41-Ctr/TU ngày 17 tháng 4 năm 2019 của Tỉnh uỷ Bến Tre về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 39-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá XII về nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác, sử dụng và phát huy các nguồn lực của nền kinh tế.  
 
 
Ngày 08 tháng 7 năm 2017, Chi đoàn Sở Tài nguyên và Môi trường Bến Tre và Tiền Giang đã tổ chức chuyến về nguồn tại Khu di tích lịch sử đặc biệt cấp quốc gia – Lăng Nguyễn Đình Chiểu tại xã An Đức, huyện Ba Tri 
 
Ngày 01 tháng 4 năm 2017, Chi đoàn Sở Tài nguyên và Môi trường đã long trọng tổ chức Đại hội đoàn TNCS Hồ Chí Minh nhiệm kỳ 2017 – 2019 
 
Ngày 11 tháng 3 năm 2017, Ban Chấp hành Công đoàn cơ sở phối hợp với Ban Chấp hành Chi đoàn cơ sở tổ chức hội thi nấu ăn năm 2017 
 
Ngày 25 tháng 02 năm 2017, Chi đoàn Sở Tài nguyên và Môi trường tổ chức thăm hỏi và trao quà hỗ trợ gia đình em Nguyễn Thị Kiều Trinh có hoàn cảnh khó khăn tại ấp 4, xã Bình Thới, huyện Bình Đại.  
 
Thực hiện Nghị định số 04/2015/NĐ-CP ngày 09 tháng 01 năm 2015 của Chính phủ quy định về thực hiện dân chủ trong hoạt động cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập. Ngày 13 tháng 01 năm 2017 tại Hội trường Sở Tài chính, Sở Tài nguyên và Môi trường tổ chức Hội nghị cán bộ, công chức năm 2017 
 
Từ ngày 13 tháng 12 đến ngày 31 tháng 12 năm 2016, Trung tâm Công nghệ thông tin tổ chức tập huấn “cài đặt phần mềm bản đồ và hướng dẫn khai thác dữ liệu thông tin đất đai” tại 9 huyện, thành phố thuộc tỉnh Bến Tre 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
Bến Tre thực hiện quy định về thiết lập hành lang bảo vệ bờ biểnBến Tre thực hiện quy định về thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển
Ngày 20/02/2017, UBND tỉnh ban hành Công văn số 585/UBND-KT chỉ đạo các sở, ban ngành và các huyện ven biển về việc thực hiện quy định tại Điều 79 của Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo.

​       Ngày 20/02/2017, UBND tỉnh ban hành Công văn số 585/UBND-KT chỉ đạo các sở, ban ngành và các huyện ven biển về việc thực hiện quy định tại Điều 79 của Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo.

         Theo quy định tại khoản 1, Điều 79 của Luật tài nguyên và môi trường biển và hải đảo "Kể từ thời điểm Luật này được công bố (tức là ngày 08/7/2015), giữ nguyên hiện trạng", không được phép đầu tư, xây dựng mới công trình trong phạm vi 100m tính từ đường mực nước triều cao trung bình nhiều năm về phía đất liền hoặc về phía trong đảo do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có biển xác định theo hướng dẫn của Bộ Tài nguyên và Môi trường (tại Công văn số 3628/BTNMT-TCBHĐVN ngày 01/9/2015 về việc thực hiện quy định tại Điều 79 của Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo) cho đến khi hành lang bảo vệ bờ biển được thiết lập theo quy định của Luật này, trừ các trường hợp sau: (01) Xây dựng mới công trình phục vụ mục đích quốc phòng, an ninh, phòng, chống thiên tai, sạt lở bờ biển, ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng, bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa; (02) Xây dựng mới công trình theo dự án đầu tư phục vụ lợi ích quốc gia, công cộng được Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, người đứng đầu bộ, cơ quan trung ương, Hội đồng nhân dân, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có biển quyết định chủ trương đầu tư; (03) Xây dựng công trình theo dự án đầu tư đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định đầu tư hoặc xây dựng công trình đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép xây dựng trước thời điểm Luật này được công bố.

      Thực hiện Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016, để tăng cường công tác quản lý quy hoạch, đầu tư xây dựng và đảm bảo khai thác hiệu quả, bền vững quỹ đất ven biển, ứng phó, thích nghi với biến đổi khí hậu và nước biển dâng, UBND tỉnh đã có ý kiến chỉ đạo tại Công văn số 585/UBND-KT ngày 20/02/2017 về việc thực hiện quy định tại Điều 79 của Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo. UBND tỉnh Bến Tre yêu cầu các Sở, ban, ngành có liên quan và UBND 3 huyện ven biển thực hiện một số nội dung trọng tâm sau:

       Một là, tiếp tục thực hiện nghiêm Chỉ thị số 20/CT-TTg ngày 27/7/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường công tác quản lý quy hoạch, đầu tư xây dựng và quản lý đất đai các dự án ven biển.

       Hai là, có trách nhiệm rà soát, báo cáo việc quản lý, sử dụng hành lang bờ biển; số lượng cụ thể các công trình, dự án của các tổ chức doanh nghiệp sẽ bị ảnh hưởng và đánh giá sơ bộ mức độ ảnh hưởng của các dự án này khi áp dụng quy định tại Khoản 1 Điều 79 của Luật tài nguyên và môi trường biển và hải đảo, phân loại theo nhóm gồm: các dự án đã được giao đất, cho thuê đất; các dự án đã được phê duyệt quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500, nhưng chưa thực hiện thủ tục giao đất, cho thuê đất; các dự án được chấp thuận chủ trương đầu tư , nhưng chưa phê duyệt quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500; đề xuất UBND tỉnh chủ trương xử lý chung.

        Ba là, kiểm tra, đánh giá sự phù hợp của các dự án đầu tư tại khu vực ven biển với quy hoạch xây dựng đã được phê duyệt; rà soát tổng thể các dự án để điều chỉnh quy hoạch xây dựng gắn với quy hoạch sử dụng đất đảm bảo lợi ích cộng đồng dân cư và doanh nghiệp đầu tư trên địa bàn; khai thác sử dụng không gian ven biển hiệu quả, thích ứng với biến đổi khí hậu và đảm bảo an ninh quốc phòng, đảm bảo quỹ đất bố trí hạ tầng kỹ thuật, khu du lịch, công viên, khu vực bảo tồn, phòng hộ…         

          Đồng thời giao cho Sở Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với các sở, ban, ngành có liên quan và UBND 3 huyện ven biển xây dựng Đề án "Thiết lập và quản lý hành lang bảo vệ bờ biển trên địa bàn tỉnh Bến Tre" đúng theo thời gian Luật định./.

Vĩnh Thịnh

24/02/2017 7:30 SAĐã ban hành
HỎI ĐÁP PHÁP LUẬT VỀ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNGHỎI ĐÁP PHÁP LUẬT VỀ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
<html><br /><body><br /><div align=justify><br /><center><b><font color=0000ff size=3>Góp phần tháo gỡ vướng mắc xung quanh thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất</font></b></center><p><br /><font color=#0000ff size=2><dd>Việc sử dụng đất và xúc tiến thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là vấn đề hệ trọng, có liên quan mật thiết đến quyền lợi và nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức, ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển kinh tế-xã hội, bảo vệ và phát triển môi trường bền vững. Để đáp ứng nhu cầu quản lý và tìm hiểu các quy định của pháp luật về đất đai, trên cơ sở nội dung phản ánh trong các buổi Giao lưu trực tuyến giữa Bộ Tài nguyên và Môi trường với người sử dụng đất; tổng hợp từ các yêu cầu, đề nghị, hướng dẫn, giải đáp pháp luật của các địa phương, và thực tiễn kiểm tra, thực hiện pháp luật tài nguyên và môi trường trong thời gian qua, Sở Tài nguyên và Môi trường Bến Tre có chọn lọc lại nhiều trường hợp điển hình, thường xảy ra để người sử dụng đất tham khảo, vận dụng vào thực tiễn.<br /><p></font><br /><b><font color=#AD591D size=2><li><u>1. Câu hỏi số 104:</u></li></font></b><p><br /><font color=#330099 size=2><dd><b><i>Tôi được Cơ quan (Doanh nghiệp Nhà nước) cấp cho gần 140 m2 đất để làm nhà ở từ năm 1990. Năm 2000, tôi xin làm giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất, được UBND phường xác nhận không tranh chấp, không vướng quy hoạch. Sau đó được tổ 60 CP-Cục thuế tính số tiền phải nộp là gần 27 triệu đồng (20% giá đất). Do chưa có tiền nộp nên cuối năm 2003, tôi liên hệ lại, thì được thông báo phải nộp gần 90 triệu đồng (40% giá đất) như vậy có đúng không? Được biết hiện nay các trường hợp như của tôi, đều được hợp thức hóa và không phải nộp thuế đất?</i></b><p></font><br /><b><font color=#AD591D size=2><li><u>Trả lời:</u></li></font></b><p><br /><font color=#330099 size=2><dd> Câu hỏi của Bạn chưa nói rõ nguồn tiền để làm nhà ở. Trường hợp Bạn tự bỏ tiền để xây dựng nhà ở thì Bạn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 4 Điều 50 Luật Đất đai năm 2003 và Bạn không phải nộp tiền sử dụng đất. Trường hợp nhà ở được xây dựng từ nguồn kinh phí của Nhà nước thì Bạn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Nghị định số 61/CP ngày 05/7/1994 của Chính phủ về mua bán và kinh doanh nhà ở; Bạn phải nộp 40% tiền sử dụng đất.<p></font><br /><b><font color=#AD591D size=2><li><u>2. Câu hỏi số 105:</u></li></font></b><p><br /><font color=#330099 size=2><dd><b><i>Tôi dự định mua đất ở để xây nhà, người bán cho  biết đây là đất tổ tiên, giấy tờ mua bán được viết tay (không có công chứng). Nếu tôi xin xây dựng trước và sau này làm giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà có được không? Và cách đóng thuế ra sao? Nếu sau này Nhà nước qui hoạch vào phần đất này thì tôi có được đền bù không?</i></b><br /><p></font><br /><b><font color=#AD591D size=2><li><u>Trả lời:</u></li></font></b><p><br /><font color=#330099 size=2><dd>Theo quy định của pháp luật về xây dựng, để được cấp giấy phép xây dựng, người sử dụng đất phải xuất trình giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Như vậy, thửa đất phải được cấp giấy chứng nhận sau đó mới được xem xét để được cấp giấy phép xây dựng.<br /><dd>Người nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất muốn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải đóng thuế chuyển quyền sử dụng đất, lệ phí trước bạ và lệ phí địa chính. Trường hợp đất thuộc khu vực chưa có quy hoạch thì sau này khi Nhà nước thu hồi, người sử dụng đất được bồi thường, hỗ trợ tái định cư. Trường hợp đất tại vùng quy hoạch thì chỉ được bồi thường về đất, không được bồi thường về nhà nếu nhà xây dựng sau khi quy hoạch được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và công bố.<p></font><br /><b><font color=#AD591D size=2><li><u>3. Câu hỏi số 106:</u></li></font></b><p><br /><font color=#330099 size=2><dd><b><i>Tôi có 1 mảnh đất 200m2 có nguồn gốc đất là nông nghiệp đã kê khai và đã nộp đầy đủ thuế nhà đất từ trước ngày 15/10/1993 nhưng còn để đất trống. Nay tôi làm đơn xin cấp cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở thì đất đó có được xem là ở ổn định và có được cấp cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở không? nếu được cấp thì tôi phải nộp những loại thuế nào cho Nhà nước?</i></b><p></font><br /><b><font color=#AD591D size=2><li><u>Trả lời:</u></li></font></b><p><br /><font color=#330099 size=2><dd>Việc chuyển mục đích sử dụng đất phải phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xét duyệt. Trường hợp thửa đất của Bạn phù hợp với các quy hoạch và kế hoạch đã được xét duyệt thì Bạn phải thực hiện thủ tục xin chuyển mục đích sử dụng đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khi được UBND cấp huyện nơi có đất cho phép bạn được chuyển mục đích sử dụng đất sang đất ở và Bạn thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước gồm: tiền sử dụng đất (tiền chuyển mục đích sử dụng đất), lệ phí trước bạ, lệ phí địa chính thì Bạn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở. Bạn có thể đến phòng Tài nguyên và Môi trường cấp huyện nơi có đất để được hướng dẫn chi tiết các thủ tục nêu trên.<p></font><br /><b><font color=#AD591D size=2><li><u>4. Câu hỏi số 107:</u></li></font></b><p><br /><font color=#330099 size=2><dd><b><i>Gia đình tôi hiện đã được UBND Thị xã cấp GCNQSDĐ theo hạn mức đất ở là 350m2 trong tổng diện tích 700m2. Số diện tích đất vườn còn lại được xác định là tạm giao. Tôi được biết có quy định: “Nếu hộ gia đình đã được cấp GCNQSDĐ mà nay có nhu cầu chuyển mục đích sử dụng đất của diện tích đất vườn, ao liền kề đất ở trong khu vực dân cư thì không phải nộp tiền sử dụng đất”. Sau khi trực tiếp hỏi cán bộ phòng Tài nguyên và Môi trường thì được trả lời: UBND Thị xã chưa có chủ trương thực hiện quy định này tại địa phương. Vậy cách giải thích này có căn cứ không? Và phải chăng chủ trương này chỉ được thực hiện tại một số địa phương nhất định?</i></b> <p></font><br /><b><font color=#AD591D size=2><li><u>Trả lời:</u> </li></font></b><p><br /><font color=#330099 size=2><dd>Diện tích 350m2 còn lại có phải là đất vườn hay không, phải căn cứ vào quy định của UBND tỉnh về hạn mức công nhận đất ở thì khi chuyển từ vườn sang xây dựng nhà ở thì không phải nộp tiền sử dụng đất; trường hợp 350m2 (vườn) không được công nhận là ở thì khi chuyển mục đích sang xây dựng nhà ở phải nộp tiền sử dụng đất bằng 50% chênh lệch giữa thu tiền sử dụng đất tính theo giá đất ở với thu tiền sử dụng đất tính theo giá đất nông nghiệp.<p></font><br /><b><font color=#AD591D size=2><li><u>5. Câu hỏi số 108:</u> </li></font></b><p><br /><font color=#330099 size=2><dd><b><i>Do khó khăn về nhà ở, vợ chồng tôi được UBND tỉnh bán cho một lô đất. Quyết định giao đất chỉ ghi tên 2 vợ chồng tôi; trong khi đó, bố tôi là thương binh hạng ¾ đang sống chung cùng chúng tôi. Vậy theo Pháp lệnh về người có công với cách mạng và Luật Đất đai năm 2003, vợ chồng tôi có được miễn, giảm việc nộp tiền sử dụng đất không?</i></b> <p></font><br /><b><font color=#AD591D size=2><li><u>Trả lời:</u></li></font></b><p><br /><font color=#330099 size=2><dd>Trong trường hợp chỉ có hai vợ chồng Bạn được giao đất ở thì không được hưởng chế độ miễn, giảm tiền sử dụng đất của bố đẻ của Bạn. Nếu đất ở được giao cho hộ gia đình của Bạn (trong hộ bao gồm cả bố đẻ của Bạn)  thì chế độ miễn, giảm tiền sử dụng đất đối với bố đẻ của Bạn cũng được tính trừ vào số tiền sử dụng đất mà gia đình Bạn phải nộp. <p></font><br /><b><font color=#AD591D size=2><li><u>6. Câu hỏi số 109:</u> </li></font></b><p><br /><font color=#330099 size=2><dd><b><i>Đất trước đây được Nhà nước cấp đất để sản xuất nông nghiệp cho tổ chức. Sau đó, tổ chức lại phân chia đất ở cho cán bộ công nhân viên đã làm nhà ở ổn định trước 15/10/1993. Nay đăng ký quyền sử dụng đất có phải nộp tiền sử dụng đất?</i></b><p></font><br /><b><font color=#AD591D size=2><li><u>Trả lời:</u> </li></font></b><p><br /><font color=#330099 size=2><dd>Trường hợp này, theo quy định của pháp luật hiện hành thì tổ chức phải bàn giao khu đất đã chia cho cán bộ công nhân viên ở cho chính quyền địa phương quản lý. Nếu phù hợp quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng, không có tranh chấp, được UBND cấp xã nơi có đất xác nhận sử dụng đất ổn định trước ngày 15/10/1993 thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất trong thời hạn mức giao đất theo quy định của UBND tỉnh.<p></font><br /><b><font color=#AD591D size=2><li><u>6. Câu hỏi số 59:</u> </li></font></b><p><br /><font color=#330099 size=2><dd><b><i> Phương pháp nhận dạng sổ đỏ thật và giả </i></b><p></font><br /><b><font color=#AD591D size=2><li><u>Trả lời:</u> </li></font></b><p><br /><font color=#330099 size=2><dd>Để thống nhất quản lý về GCNQSDĐ và ngăn ngừa các trường hợp làm giả GCNQSDĐ, Bộ TN & MT đã ban hành Quyết định số 08/2006/QĐ-TNMT ngày 21 tháng 7 năm 2006 ban hành Quy định về GCNQSDĐ (thay thế Quyết định số 24/2004/QĐ-BTNMT ngày 01 tháng 11 năm 2004 ban hành Quy định về GCNQSDĐ). Theo đó GCNQSDĐ được in bằng loại giấy đặc biệt, có số sê-ri phát hành thống nhất trên phạm vi toàn quốc và dấu nổi của Bộ TN & MT.<br /><dd>Để tránh việc làm giả GCNQSDĐ, mọi giao dịch về QSDĐ phải được công chứng tại Phòng công chứng hoặc chứng thực tại UBND xã, Thị trấn nơi có đất và phải đăng ký tại các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật, gồm: Văn phòng đăng ký QSDĐ thuộc Sở TN & MT, Văn phòng đăng ký QSDĐ thuộc Phòng Tài Nguyên và Môi Trường (nơi chưa có Văn phòng Đăng ký QSDĐ thì thực hiện tại Phòng Tài Nguyên và Môi Trường) nơi có đất. Các cơ quan nêu trên khi thực hiện công chứng, chứng thực hoặc đăng ký các giao dịch có trách nhiệm kiểm tra GCNQSDĐ và đối chiếu với hồ sơ địa chính gốc đang lưu giữ để xác nhận tính hợp pháp của GCNQSDĐ.<p></font><br /><b><font color=#AD591D size=2><li><u>8. Câu hỏi số 62:</u></li></font></b><p><br /><font color=#330099 size=2><dd><b><i>Xin cho biết thế nào gọi là đất công? Vì hiện nay thường các cơ quan chính quyền, nhà đất lạm dụng từ này làm khó dân chúng. Việc địa phương tiếp tục quy định có hộ khẩu thì mới được cấp giấy tờ nhà đất có đúng không?</i></b><p></font><br /><b><font color=#AD591D size=2><li><u>Trả lời:</u></li></font></b><p><br /><font color=#330099 size=2><dd>Theo qui định của pháp luật về đất đai, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý.Vì vậy, không có sở hữu tư nhân về đất đai nên không còn khái niệm “đất tư”, mà đất đai ở nước ta thuộc sở hữu toàn dân nên cũng có thể gọi toàn bộ vốn đất đai quốc gia dù đã giao để cho thuê hay chưa được giao, cho thuê cho bất kỳ tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nào sử dụng đều là “đất công”. Trong thực tế hiện nay, thuật ngữ “đất công” hay được sử dụng ở các tỉnh phía Nam nhằm đề cập tới khái niệm “công điền, công thổ” được sử dụng trong các văn bản pháp luật về đất đai của chế độ cũ. Mặt khác, tại các  tỉnh miền Bắc, miền Trung, thuật ngữ “đất công” còn được sử dụng để đề cập đến khái niệm “đất công ích”. Trong pháp luật hiện hành về đất đai chỉ có khái niệm đất được sử dụng vào mục đích gì và do ai sử dụng chứ không có thuật ngữ “đất công”.<br /><dd>Như vậy, việc sử dụng thuật ngữ “đất công” để áp dụng pháp luật là không đúng. Theo qui định của pháp luật về đất đai thì khi cấp GCNQSDĐ không có điều kiện về hộ khẩu thường trú. Việc quy định phải có hộ khẩu thường trú mới cấp GCNQSDĐ là không phù hợp với quy định của pháp luật.<br /><i>(Nguồn: Hỏi đáp pháp luật về tài nguyên và môi trường - Bộ TNMT-Nhà xuất bản bản đồ )</i><p></font><br /><div align=right><b>Phòng QLĐĐ</b></div><br /></div><br /></body><br /></html>
26/08/2008 12:00 SAĐã ban hành
Kế hoạch thanh tra về tài nguyên và môi trường năm 2019Kế hoạch thanh tra về tài nguyên và môi trường năm 2019
Quyết định số 3549/QĐ-BTNMT ngày 23 tháng 11 năm 2018 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc phê duyệt Kế hoạch thanh tra năm 2019.
29/01/2019 4:00 CHĐã ban hành
Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Tháng 7 năm 2019Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Tháng 7 năm 2019
Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Tháng 7 năm 2019


Tải danh sách: danh_sach_huy_gcn_Thang_7-2019.7z

01/08/2019 9:00 SAĐã ban hành
Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ ngày 21/6/2019 đến ngày 28/6/2019Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ ngày 21/6/2019 đến ngày 28/6/2019
Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ ngày 21/6/2019 đến ngày 28/6/2019
28/06/2019 4:00 CHĐã ban hành
TỌA ĐÀM GIỮA CÁC NÔNG DÂN ĐIỂN HÌNH TIÊN TIẾN VỚI CÁC SỞ, NGÀNH TỈNHTỌA ĐÀM GIỮA CÁC NÔNG DÂN ĐIỂN HÌNH TIÊN TIẾN VỚI CÁC SỞ, NGÀNH TỈNH
Ngày 11 tháng 12 năm 2009 tại Nhà Thiếu nhi tỉnh diễn ra Hội nghị Nông dân điển hình tiên tiến tỉnh Bến Tre lần thứ V/2009 do Ban Thường vụ Hội Nông dân tỉnh Bến Tre phối hợp cùng các ngành chức năng tổ chức.



Tại Hội nghị Quý đại biểu được nghe báo cáo tổng kết phong trào thi đua giai đoạn 2007 – 2009, ý kiến chỉ đạo của Trung ương Hội Nông dân Việt Nam, của Tỉnh ủy Bến Tre và phát động phong trào thi đua Nông dân điển hình tiên tiến giai đoạn 2010 – 2013. Đặc biệt, Hội nghị đã diễn ra chương trình tọa đàm giữa các nông dân điển hình với các sở, ngành tỉnh như: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Trung tâm khuyến nông, khuyến ngư Bến Tre, Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Lao động thương binh và Xã hội, Sở Tài nguyên và Môi trường.
Trong phần tọa đàm về lĩnh vực môi trường, câu hỏi được đặt ra cho Sở Tài nguyên và Môi trường là:
Hiện nay các hoạt động kinh tế của các ngành nghề ở nông thôn rất ít khi chú trọng tới môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh có ý kiến gì về thực trạng này và hướng khắc phục như thế nào?
Với câu hỏi đó, đại diện Sở Tài nguyên và Môi trường, bà Nguyễn Thị Thúy đã trả lời:
Trước tiên, xin cám ơn Hội Nông dân tỉnh đã tạo điều kiện để Sở Tài nguyên và Môi trường được tham gia chương trình tọa đàm với nông dân điển hình tiên tiến lần thứ V/2009 để trao đổi về lĩnh vực môi trường. Qua đây, hy vọng bà con nông dân sẽ nhận thức sâu hơn trách nhiệm của mỗi người phải tham gia bảo vệ môi trường để thực hiện phát triển sản xuất đi đôi với bảo vệ môi trường.
Câu hỏi được đặt ra rất sát với thực tế và đây cũng là vấn đề mà Sở Tài nguyên và Môi trường quan tâm vì:
Thực hiện chức năng quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trong thời gian gần đây Sở Tài nguyên và Môi trường đã phối hợp cùng Phòng Tài nguyên và Môi trường các huyện tăng cường công tác khảo sát, điều tra và kiểm tra việc bảo vệ môi trường của các cơ sở sản xuất, kinh doanh với nhiều loại hình ngành nghề khác nhau. Qua đó, nhận thấy đa số các cơ sở sản xuất kinh doanh chưa đầu tư xử lý các chất thải phát sinh, một số cơ sở có xử lý chất thải nhưng chưa đạt theo tiêu chuẩn môi trường. Nhất là đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh nhỏ lẻ và các ngành nghề nông nghiệp ở nông thôn rất ít chú trọng tới bảo vệ môi trường như: sử dụng thuốc bảo vệ thực vật chưa hợp lý, chuồng trại chăn nuôi chưa đảm bảo, vứt rác thải bừa bãi, xả chất thải trực tiếp xuống sông rạch,.. làm ảnh hưởng đến môi trường đất, nước, không khí.
Thực trạng này xảy ra liên quan đến rất nhiều yếu tố mà quan trọng nhất là do nhận thức và kinh tế của người dân. Do chưa có nhận thức cao về vai trò của môi trường, trách nhiệm bảo vệ môi trường, đặc biệt là tác hại của ô nhiễm môi trường đối với đời sống và sản xuất của cộng đồng nên ít quan tâm bảo vệ môi trường.
Mặt khác, do kinh tế khó khăn nên để đáp ứng nhu cầu cuộc sống người dân thường chú trọng phát triển kinh tế, và cho rằng đầu tư bảo vệ môi trường là đầu tư không lợi nhuận nên đã xả thải vào môi trường làm cho môi trường bị tác động xấu. Nếu cứ để tình trạng này xảy ra liên tục mà không có cách khắc phục thì về lâu dài sẽ gây ảnh hưởng rất lớn đến môi trường sống và hoạt động sản xuất tại khu vực nông thôn.
Để khắc phục tình trạng này, định hướng sắp tới Sở Tài nguyên và Môi trường sẽ:
- Tăng cường các hoạt động truyền thông nhằm nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ môi trường, thực hiện phát triển sản xuất phải đi đôi với bảo vệ môi trường để duy trì chất lượng cuộc sống.
- Thực hiện thanh kiểm tra để nhắc nhở và xử lý các trường hợp vi phạm quy định về bảo vệ môi trường.
- Xây dựng các mô hình điểm xử lý chất thải phù hợp với quy định về bảo vệ môi trường và kinh tế của người dân.
- Đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh cần áp dụng các mô hình sản xuất sạch, xử lý chất thải phát sinh, áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật để nhằm tăng năng suất trong nông nghiệp, hạn chế tối đa việc sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu quá liều, quá hạn sử dụng và không được phép sử dụng. Đẩy mạnh các mô hình trồng rau sạch, mô hình canh tác nông nghiệp bền vững, xây dựng chuồng trại chăn nuôi hợp vệ sinh.
- Đặc biệt là ngành Tài nguyên Môi trường luôn cần có sự phối hợp của các nhà quản lý, các cấp có thẩm quyền, các cơ quan chức năng và các tổ chức đoàn thể trong đó có Hội Nông dân và trong thời gian qua từ khi ký kết kế hoạch liên tịch với Sở Tài nguyên và Môi trường vào năm 2005 thì Hội Nông dân đã thực hiện tốt vai trò của mình và tham gia tích cực vào việc bảo vệ môi trường, mang lại kết quả cao cho công tác bảo vệ môi trường. Sự phối hợp, hỗ trợ của các ngành, các cấp và các tổ chức đoàn thể nhằm giúp cho công tác bảo vệ môi trường được tốt hơn, duy trì và cải thiện chất lượng cuộc sống cho cộng đồng.
N.T



18/12/2009 12:00 SAĐã ban hành
Hội Nông dân tham gia Bảo vệ môi trườngHội Nông dân tham gia Bảo vệ môi trường
Nhận thức được vai trò, tầm quan trọng của môi trường đối với sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật, trách nhiệm tham gia bảo vệ môi trường của các tổ chức đoàn thể, Hội Nông dân đã tích cực tham gia bảo bệ môi trường…



Thực hiện Luật Bảo vệ môi trường năm 2005, Nghị quyết liên tịch giữa Bộ Tài nguyên và Môi trường với Hội Nông dân Việt Nam, từ tháng 8 năm 2005 Sở Tài nguyên và Môi trường đã ký kế hoạch liên tịch số 888/2005/KH-HND-STNMT ngày 29/08/2005 với Hội Nông dân tỉnh để phối hợp hành động bảo vệ môi trường và quản lý, sử dụng đất đai trên địa bàn tỉnh Bến Tre.
Từ khi ký kết kế hoạch liên tịch đến nay, Hội Nông dân đã phát huy vai trò, trách nhiệm của tổ chức Hội trong việc tuyên truyền, vận động, nâng cao nhận thức của hội viên nông dân tích cực tham gia bảo vệ môi trường trong đời sống và sản xuất với các hoạt động cụ thể sau:
• Tổ chức triển khai kế hoạch liên tịch đến các cấp Hội từ huyện (thành phố) đến xã, phường, thị trấn trong tỉnh để nêu cao tinh thần thách nhiệm, phối hợp thực hiện bảo vệ môi trường từ cấp tỉnh đến cấp huyện, xã.
• Trong Hội nghị Nông dân sản xuất giỏi năm 2006, Hội Nông dân tỉnh đã tạo điều kiện để Sở Tài nguyên và Môi trường tham dự chương trình tọa đàm. Qua đó, đã cung cấp cho hơn 200 nông dân sản xuất giỏi tham dự và người dân xem đài quy định về bảo vệ môi trường đối với hoạt động chăn nuôi trên địa bàn tỉnh Bến Tre.
• Tham gia cuộc thi tìm hiểu pháp luật về tài nguyên môi trường cho cán bộ, hội viên, đoàn viên thuộc Ủy ban Mặt trận tổ quốc, Hội Liên hiệp phụ nữ, Liên đoàn Lao động, Hội Nông dân, Đoàn thanh niên do Sở Tài nguyên và Môi trường tổ chức năm 2007. Thông qua cuộc thi đã tuyền truyền kiến thức pháp luật về tài nguyên môi trường cho một số cán bộ công nhân viên chức lao động, hội viên, đoàn viên của các tổ chức đoàn thể, đồng thời phổ biến sâu rộng trong nhân dân qua các phương tiện truyền thông.
• Hàng năm, Hội Nông dân đều tích cực tham gia mitting hưởng ứng Tuần lễ quốc gia nước sạch vệ sinh môi trường và Ngày Môi trường thế giới, Chiến dịch làm cho thế giới sạch hơn nhằm góp phần tuyên truyền ý nghĩa của các sự kiện môi trường quốc tế quan trọng.
• Được sự hỗ trợ của Sở Tài nguyên và Môi trường, Hợp phần Kiểm soát ô nhiễm môi trường khu vực đông dân cư nghèo, Hội Nông dân tỉnh đã tổ chức tập huấn Luật Bảo vệ môi trường năm 2005, các quy định của Ủy ban nhân dân tỉnh về bảo vệ môi trường đối với hoạt động chăn nuôi, quản lý rác thải, giới thiệu mô hình xử lý chất thải trong chăn nuôi cho hội viên nông dân các xã Tân Trung (Mỏ Cày Nam), An Thuận, Bình Thạnh (Thạnh Phú), Mỹ Chánh (Ba Tri), Bình Hòa (Giồng Trôm), Vang Quới Tây (Bình Đại) đồng thời trang bị 300 giỏ chứa rác thải sinh hoạt cho 300 hộ dân các xã Mỹ Chánh (Ba Tri), Bình Hòa (Giồng Trôm), Vang Quới Tây (Bình Đại) để người dân tự thu gom phân loại và có cách xử lý thích hợp hạn chế tình trạng vứt rác thải ảnh hưởng đến môi trường.
• Đặc biệt Hội Nông dân đã đưa tiêu chí về bảo vệ môi trường trong thẩm định các mô hình nông dân sản xuất giỏi, nông dân điển hình tiên tiến. Từ đó đã làm cho nông dân quan tâm đến việc bảo vệ môi trường gắn với sản xuất, phục vụ phát triển bền vững.
Nhìn chung, trong thời gian qua Hội Nông dân đã phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường rất chặt chẽ, có tinh thần trách nhiệm cao, tạo điều kiện thuận lợi, hỗ trợ nhau nhiệt tình để cùng nhau thực hiện và hoàn thành tốt các kế hoạch đề ra nên công tác triển khai thực hiện các kế hoạch liên tịch đạt được kết quả tốt, góp phần nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường và tham gia vào việc bảo vệ môi trường tại địa phương, đơn vị, cộng đồng. Bên cạnh đó, còn có sự tích cực tham gia của nhân dân và cộng đồng xã hội đã góp phần mang lại hiệu quả cao cho công tác bảo vệ môi trường nói chung.
Trong thời gian tới, để công tác phối hợp giữa Hội Nông dân với Sở Tài nguyên và Môi trường đạt kết quả cao, góp phần vào việc bảo vệ môi trường của tỉnh nhà cần có sự phối hợp thường xuyên, chủ động của hai đơn vị trong triển khai thực hiện các chương trình phối hợp. Các chương trình, kế hoạch đối với nông nghiệp, nông dân, nông thôn cần tập trung vào việc:
• Tổ chức các đợt tập huấn, hội thảo, tọa đàm nhằm phổ biến kiến thức về bảo vệ môi trường;
• Xây dựng và nhân rộng một số mô hình về bảo vệ môi trường trong cộng đồng;
• Vận động hội viên nông dân xây dựng chuồng trại chăn nuôi hợp vệ sinh, xử lý nước thải chăn nuôi bằng hầm tự hoại, hầm biogas đảm bảo không phát sinh mùi hôi hoặc chảy tràn ra môi trường xung quanh, nước thải sau khi xử lý phải đảm bảo đạt tiêu chuẩn theo qui định của Luật Bảo vệ môi trường; sử dụng thuốc bảo vệ thực vật hợp lý; xử lý nước thải từ khu nuôi thủy sản (tôm, cá da trơn) trong điều kiện tự nhiên; không tự ý chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ đất trồng lúa, hoa màu sang nuôi thủy sản; xây dựng các bể chứa và lọc nước sạch, bể nước mưa tại các hộ gia đình và vệ sinh môi trường phù hợp với đặc điểm, điều kiện từng vùng nông thôn; xây dựng nhà vệ sinh để tránh tình trạng “cầu tiêu cá” trên sông, rạch như hiện nay.
• Đặc biệt, cần tích cực tham gia vào chương trình thích ứng với biến đổi khí hậu do Chính phủ Đan Mạch hỗ trợ để góp phần cải thiện môi trường, nâng cao chất lượng cuộc sống của cộng đồng dân cư.
Nguyễn Thúy (STNMT)



09/12/2009 12:00 SAĐã ban hành
Kiểm kê đất đai và xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất 2010: Các đoàn kiểm tra của Bộ TN&MT sẽ kịp thời về địa phương đôn đốc, hướng dẫn, kiểm traKiểm kê đất đai và xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất 2010: Các đoàn kiểm tra của Bộ TN&MT sẽ kịp thời về địa phương đôn đốc, hướng dẫn, kiểm tra
(TN&MT) Ngày 10/3, phát biểu tại cuộc họp Ban Chỉ đạo kiểm kê đất đai và xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất 2010 ngày 10/3, Thứ trưởng Nguyễn Mạnh Hiển, Trưởng Ban Chỉ đạo, đã chỉ đạo ngay trong tháng 4 tới, các đoàn kiểm tra của Bộ TN&MT sẽ về các địa phương tập trung hướng dẫn, đôn đốc tiến độ, quy trình quy phạm thực hiện kiểm kê đất đai và xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất 2010. Trong tháng 5, các đoàn sẽ tiến hành kiểm tra tình hình thực hiện và kết quả kiểm kê đất đai, xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất cấp xã.



Theo kế hoạch trước ngày 30/4/2010 là thời hạn cấp xã hoàn thành kiểm kê đất đai và báo cáo kết quả. Thứ trưởng Nguyễn Mạnh Hiển lưu ý, trong công tác hướng dẫn kiểm tra đôn đốc, cần sử dụng nhiều hình thức, công cụ kiểm tra, kể cả kỹ thuật viễn thám để đánh giá chất lượng; không làm dàn trải mà tập trung ở một số địa phương điểm, như những tỉnh ven biển có nhiều bãi bồi. Bản đồ nền là công cụ quan trọng trong công tác kiểm kê nên Tổng cục Quản lý đất đai cần chỉ đạo quyết liệt hơn để cung cấp bản đồ này cho tất cả các xã. Hiện còn 700 xã chưa nhận bàn giao bản đồ nền, cần phải khẩn trương.
“Trong công tác kiểm kê đất đai, số liệu của cấp xã là đặc biệt quan trọng bởi đây là “đơn vị kiểm tra”. Điều đó đòi hỏi sự chỉ đạo tập trung, quyết liệt từ khâu kiểm tra kiểm kê ở cấp xã để có được số liệu chính xác”, Thứ trưởng nhấn mạnh. Đặc biệt, vấn đề diện tích tự nhiên là hết sức nhạy cảm liên quan đến vấn đề chủ quyền, an ninh quốc gia. Vì vậy ở góc độ chuyên môn, những người làm công tác quản lý phải nắm chính xác và chỉ đạo quyết liệt để có được số liệu này.
Thứ trưởng Nguyễn Mạnh Hiển khẳng định, kiểm kê đất đai và xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất 2010 là công việc vô cùng quan trọng. Sau 5 năm kiểm kê, kết quả lần này sẽ cho chúng ta bức tranh đầy đủ về số liệu, những biến động một cách khoa học, chính xác. Đó là nền tảng để xây dựng quy hoạch, phục vụ cho công tác xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng năm và 5 năm tới.
Quyền Tổng cục trưởng Tổng cục Quản lý đất đai Phùng Văn Nghệ cũng cho rằng, ngay trong tuần tới, Cục Đăng ký và Thống kê đất đai phải phối hợp với Nhà xuất bản Bản đồ để hoàn chỉnh việc thành lập bản đồ nền cung cấp kịp thời cho các địa phương. Đồng thời, sẽ lồng ghép các đoàn kiểm tra để nắm bắt tình hình địa phương và giúp các địa phương làm tốt nhiệm vụ quan trọng này. Lãnh đạo Bộ và lãnh đạo Tổng cục đều thống nhất cho rằng những vướng mắc nêu lên tại cuộc họp cần được giải quyết sớm.


Phó Tổng cục trưởng Lê Văn Lịch cho biết từ nay đến 15/8, Bộ sẽ tổ chức đoàn kiểm tra đôn đốc, hướng dẫn các địa phương thực hiện kiểm kê đất đai và xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất.

Phó Trưởng ban Thường trực Ban chỉ đạo, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Quản lý đất đai Lê Văn Lịch cho biết, từ nay đến 15/8, cùng với việc tổ chức đoàn kiểm tra đôn đốc, hướng dẫn các địa phương thực hiện kiểm kê đất đai và xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất, Bộ TN&MT sẽ làm việc với Bộ Tài chính về dự án này và phương án đề xuất mức hỗ trợ kinh phí Trung ương cho các tỉnh, thành để thực hiện nhiệm vụ này; tổng hợp tiến độ thực hiện ở các địa phương, báo cáo lãnh đạo Bộ và thẩm định kết quả kiểm kê đất đai, xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất các tỉnh.
Các địa phương cần chỉ đạo đôn đốc cấp xã hoàn thành kết quả kiểm kê đúng tiến độ, nghiệm thu kết quả cấp xã, huyện, tỉnh và nhân sao hồ sơ kết quả kiểm kê, giao nộp sản phẩm.
“Với khối lượng công việc khổng lồ và thực hiện trong thời gian ngắn, để có chất lượng cao, Ban Chỉ đạo phải tập trung làm quyết liệt, đầu tư trí tuệ, sức lực tổng hợp. Các hạng mục công việc đã giao cho Tổng cục Quản lý đất đai cần triển khai ngay đảm bảo đúng tiến độ công việc”, Thứ trưởng Nguyễn Mạnh Hiển nhấn mạnh. Tuy nhiên, nhiệm vụ kiểm tra kết quả kiểm kê đất đai của cấp tỉnh đối với cấp huyện, cấp huyện đối với cấp xã cần được đề cao, đoàn công tác của Bộ không thể làm thay.

TMK (theo www.monre.gov.vn)


12/03/2010 12:00 SAĐã ban hành
Kiểm kê đất đai toàn quốc cấp xã (những lưu ý của nữa sau chặng đường)Kiểm kê đất đai toàn quốc cấp xã (những lưu ý của nữa sau chặng đường)
Tính từ thời điểm kiểm kê đất đai năm 2010 được thực hiện thống nhất trên cả nước, từ ngày 1/1/2010, đến nay đã gần được nửa thời gian cấp xã phải hoàn thành và báo cáo kết quả. Thời hạn hoàn thành việc kiểm kê đất đai, xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất và báo cáo kết quả kiểm kê đất đai theo quy định, cấp xã hoàn thành báo cáo kết quả trước ngày 30/4/2010.



Bộ TN&MT lưu ý ở lần kiểm kê năm 2010 này, đối với các xã có diện tích đất trồng lúa, ngoài việc xác định chính xác diện tích đất chuyên lúa, đất lúa nước còn lại, đất lúa nương theo đối tượng sử dụng từ xã, huyện, tỉnh, vùng và cả nước, còn phải tiến hành điều tra chi tiết về tình hình biến động đất trồng lúa để tổng hợp.
Đối với các xã đã cấp Giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ gia đình, cá nhân, tổ chức, phải thực hiện thống kê diện tích các loại đất đã được cấp giấy chứng nhận và số hộ gia đình, cá nhân, tổ chức đã được cấp giấy, số giấy đã cấp, diện tích đã đo đạc...
Một nội dung rất đáng quan tâm là phương pháp tính toán tổng hợp số liệu cấp xã. Tính tổng diện tích tự nhiên trong địa giới hành chính từng cấp là công việc hết sức cần thiết để bảo đảm sự thống nhất số liệu tổng diện tích tự nhiên của từng đơn vị hành chính các cấp trong các kỳ thống kê, kiểm kê đất đai, bảo đảm cho việc đánh giá chính xác tình hình sử dụng các loại đất và tình hình biến động đất đai giữa các kỳ thống kê, kiểm kê đất đai.
Do những bất cập còn tồn tại về diện tích tự nhiên nên việc rà soát địa giới hành chính và giải quyết tranh chấp địa giới hành chính có dự án riêng thực hiện trong năm nay và những năm tiếp theo. Tuy nhiên, đối với cấp xã trong đợt kiểm kê này, phải tiến hành kiểm tra, rà soát và chuyển đường địa giới hiện đang quản lý sử dụng lên bản đồ để xác định hiện trạng diện tích tự nhiên. Hiện trạng diện tích tự nhiên sau kiểm kê đất đai năm 2010 được so sánh đối chiếu với hồ sơ địa giới hành chính của các đơn vị hành chính nhằm hoàn chỉnh hồ sơ địa giới hành chính, phục vụ giải quyết dứt điểm tranh chấp về địa giới hành chính.
Diện tích tự nhiên được tổng hợp theo kết quả điều tra phải bằng diện tích tự nhiên theo hiện trạng đang quản lý, sử dụng xác định trên bản đồ hiện trạng sử dụng đất của đơn vị hành chính.

TMK (theo www.monre.gov.vn)


24/02/2010 12:00 SAĐã ban hành
Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất Bến Tre phối hợp với  Cục công nghệ thông tin phía Nam nâng cấp trang xem thông tin quy hoạchVăn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất Bến Tre phối hợp với  Cục công nghệ thông tin phía Nam nâng cấp trang xem thông tin quy hoạch
Ngày 06 tháng 05 năm 2009, Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất Bến Tre phối hợp với Chi nhánh Cục công nghệ thông tin tại TP. Hồ Chí Minh nâng cấp trang xem thông tin quy hoạch tỉnh Bến Tre nhằm đáp ứng nhu cầu tra cứu thông tin quy hoạch đất đai trên địa bàn tỉnh Bến Tre.



Trang xem thông tin quy hoạch được phát triển dựa trên mã nguồn mở theo chuẩn OGC (Open Geospatial Consortium), bao gồm :
• Hệ quản trị cơ sở dữ liệu: PostgreSQL/PortGIS 8.3.x
• Máy chủ Web: Apache Tomcat 6.x.
• Máy chủ bản đồ: Geoserver 1.7x
• Các chuẩn mở GIS (OGC): WMS, WFS, GML, WMC, SLD
• Ngôn ngữ/công nghê: Java, Servlet/JSP, HTML, Javascript, XML, AJAX.
• Trình duyệt web: Firefox 2.x trở lên hoặc Internet Exploder 7.x trở lên
Hiện tại phiên bản đang chay thử nghiệm, người truy cập có thể tra cứu tại địa chỉ: http://www.sotnmt-bentre.gov.vn tại chủ đề Thông tin quy hoạch.

Nguyễn Quang Thanh



07/12/2009 12:00 SAĐã ban hành
Biến đổi khí hậu đe dọa an ninh lương thực của Việt NamBiến đổi khí hậu đe dọa an ninh lương thực của Việt Nam
Tại buổi họp báo ngày 2-6 do Bộ Tài nguyên và Môi trường và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tổ chức về vấn đề ảnh hưởng và biện pháp thích ứng với biến đổi khí hậu (BĐKH).



Tại buổi họp báo ngày 2-6 do Bộ Tài nguyên và Môi trường và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tổ chức về vấn đề ảnh hưởng và biện pháp thích ứng với biến đổi khí hậu (BĐKH). Ông Koos Neefjes, Cố vấn Cao cấp Phòng Phát triển bền vững (Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc) nhấn mạnh, Việt Nam với hơn 3.000km bờ biển là một trong 5 nước bị ảnh hưởng lớn nhất của BĐKH. Đến năm 2100 mực nước biển dự kiến sẽ dâng 69cm, nhưng nếu băng ở Nam cực tan thì mực nước biển sẽ dâng vài mét. Trong khi đó chỉ cần nước biển dâng 1cm thì lấn mặn tới 10km. Và nếu mực nước biển dâng cao 1m thì Việt Nam sẽ bị tổn thất GDP là 17 tỷ USD mỗi năm, 1/5 dân số mất nhà cửa, 12,2% đất canh tác sẽ mất. Do vậy 2 vựa lúa lớn của nước ta là đồng bằng Sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long sẽ bị ảnh hưởng trước tiên và đe dọa đến an ninh lương thực quốc gia.
Còn theo ông Jean-Maec Olive Trưởng đại diện Văn phòng Tổ chức Y tế Thế giới tại Việt Nam cho biết, BĐKH làm nhiệt độ tăng lên, dẫn đến chu kỳ sinh sản của muỗi cũng nhanh theo và hậu quả là bệnh tật sẽ nhiều hơn. Đặc biệt là bệnh sốt rét sẽ có nguy cơ quay trở lại Việt Nam. Ngoài ra nhiều căn bệnh lạ cũng sẽ xuất hiện tại Việt Nam. Vì vậy theo ông Jean-Maec Olive, Chính phủ Việt Nam cần chú trọng xây dựng hệ thống y tế chăm sóc sức khỏe người dân như Chương trình tiêm chủng, kiểm soát muỗi... để chống lại tác động của BĐKH đối với sức khỏe con người.

(Theo Website Bộ Tài nguyên và Môi trường)



10/06/2008 12:00 SAĐã ban hành
Bến Tre hưởng ứng Ngày Môi trường Thế giới 5/6 :Bến Tre hưởng ứng Ngày Môi trường Thế giới 5/6 :
Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường, chủ đề của Ngày Môi trường Thế giới (5/6) năm nay là "Hãy thay đổi thói quen: Hướng đến một nền kinh tế ít cacbon".



Theo các nhà khoa học, nguyên nhân trực tiếp của sự biến đổi khí hậu là do phát thải quá mức khí nhà kính, đặc biệt là CO2. Nồng độ CO2 trong khí quyển tăng lên từ việc đốt một khối lượng lớn các nhiên liệu hóa thạch như than đá, dầu mỏ, khí đốt trong quá trình phát triển công nghiệp. Tình trạng phá rừng, khai thác gỗ thiếu bền vững cũng là nguyên nhân tạo ra hơn 20% phát thải khí nhà kính trên toàn cầu.
Ngày Môi trường Thế giới năm nay tập trung vào nội dung biến đổi khí hậu - vấn đề đang đe dọa nghiêm trọng đến lợi ích sống còn của nhiều dân tộc trên khắp hành tinh, trong đó có Việt Nam. Con người đang phải đối mặt với những tác động khôn lường của biến đổi khí hậu như dịch bệnh, đói nghèo, mất nơi ở, thiếu đất canh tác, nguồn nước, sự suy giảm đa dạng sinh học...
Nhằm thiết thực hưởng ứng Ngày Môi trường Thế giới và Tuần lễ Quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường năm 2008, UBND tỉnh đã ban hành kế hoạch hưởng ứng trên địa bàn tỉnh Bến Tre với các hoạt động nhằm nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường của người dân. Theo kế hoạch, UBND tỉnh chỉ đạo các sở, ban, ngành và UBND các huyện, thị xã phải tổ chức tốt các hoạt động như sau :
- Làm vệ sinh nơi làm việc, làm cỏ và quét dọn sân bãi, cơ quan trường học, chợ, bến xe, bến tàu, đường phố; phát hoang cây dại, khai thông cống rãnh tù động ở xóm ấp, khu dân cư; dọn vệ sinh, nạo vét, cải tạo các ao hồ, giếng nước công cộng, tăng cường hoạt động cung cấp nước sạch cho người dân.
- Kiểm tra và xử lý nghiêm các hộ chăn nuôi, các cơ sở sản xuất xả phân, nước thải chưa xử lý vào nguồn nước gây ô nhiễm môi trường. Huy động mọi tầng lớp nhân dân tham gia bảo vệ môi trường không khí, giảm phát thải khí nhà kính; sử dụng nguồn năng lượng tái tạo, năng lượng sạch.
- Tổ chức trồng, chăm sóc và bảo vệ cây xanh xung quanh nhà làm việc, trong trường học, bệnh viện, ven đường và vận động nhân dân trồng cây phân tán để tăng độ che phủ và làm sạch môi trường.
- Tổ chức khởi công, khánh thành hoặc tu bổ nâng cấp các công trình cấp nước sạch và vệ sinh môi trường, đặc biệt là những vùng đang khan hiếm nước sinh hoạt hoặc nguồn nước, môi trường bị ô nhiễm.
- Xử lý tốt rác thải sinh hoạt ở các hộ dân, cơ quan, nơi công cộng. đảm bảo mỗi cơ quan phải có thùng rác hợp vệ sinh; UBND các huyện, thị xã có kế hoạch đầu tư và vận động nhân dân đóng góp xây dựng các điểm vệ sinh nơi công cộng.
- Tổ chức tuyên truyền về bảo vệ môi trường trên các hệ thống thông tin, đài phát thanh ở địa phương, treo panô, áp phích nơi đông người qua lại… nhằm cung cấp kiến thức, sự hiểu biết về các vấn đề môi trường liên quan đến chủ đề của Ngày môi trường Thế giới năm nay. Trong đó tập trung vào các vấn đề biến đổi khí hậu, nguyên nhân và hậu quả tác động của nó đối với loài người.
"Hãy thay đổi thói quen: Hướng đến một nền kinh tế ít cacbon" chỉ là một trong rất nhiều chủ đề thể hiện mối quan hệ chặt chẽ giữa con người và thiên nhiên. Hy vọng rằng sau mỗi ngày 5/6 hàng năm, ngày mà các quốc gia chọn làm Ngày Môi trường Thế giới, chúng ta sẽ sống, làm việc, sản xuất, kinh doanh… một cách có trách nhiệm với môi trường xung quanh./.

VĂN PHONG

Tổ chức lễ mít tinh hưởng ứng Ngày Môi trường Thế giới 5/6/2008

Nhằm tăng cường tuyên truyền nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường cho các tầng lớp nhân dân, góp phần xây dựng Thị xã Bến Tre sạch đẹp, văn minh, thân thiện với môi trường với tinh thần “Toàn dân tham gia bảo vệ môi trường”, thông qua các hoạt động cụ thể thiết thực, phù hợp với điều kiện của địa phương với sự phối hợp chặt chẽ giữa các đoàn thể và nhân dân, vận động người dân tham gia các hoạt động giữ gìn vệ sinh môi trường tại gia đình, công sở, trường học, nơi công công… Sở Tài nguyên và Môi trường phối hợp với UBND Thị xã Bến Tre và các sở, ban, ngành có liên quan sẽ tổ chức lễ mit-tinh hưởng ứng Ngày môi trường Thế giới năm 2008 vào ngày thứ năm 05/6/2008 tại Công viên tượng đài Đồng Khởi.


Sau lễ mit-tinh sẽ diễn ra nhiều hoạt động hưởng ứng như : diễu hành; làm vệ sinh, thu gom rác thải; khai thông, nạo vét cống rãnh bị tù đọng; trồng cây xanh trên một số tuyến đường chính của Thị xã; trang bị thùng gom rác thải dọc theo Đại lộ Đồng Khởi


VP




04/06/2008 12:00 SAĐã ban hành
Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường Bến Tre – Trương Duy Hải: PHÁT TRIỂN KINH TẾ PHẢI ĐI ĐÔI VỚI BẢO VỆ MÔI TRƯỜNGGiám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường Bến Tre – Trương Duy Hải: PHÁT TRIỂN KINH TẾ PHẢI ĐI ĐÔI VỚI BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
Ngay sau cuộc họp đầu năm triển khai thực hiện công tác năm 2008 của Sở Tài nguyên và Môi trường, chúng tôi đã có cuộc trao đổi với ông Trương Duy Hải, Giám đốc Sở về vấn đề phát triển bền vững ở Bến Tre.



* Thưa ông, mục tiêu phát triển bền vững đang là vấn đề thời sự nóng bỏng không chỉ của nước ta, mà còn của cả thế giới. Ở tỉnh Bến Tre, vấn đề đó đã được quan tâm như thế nào ?

Đúng như vậy. Vấn đề phát triển kinh tế - xã hội gắn với giải quyết ô nhiễm môi trường nhằm mục tiêu phát triển bền vững đang là vấn đề thời sự nóng bỏng, Tỉnh ủy, UBND tỉnh và ngành TNMT hết sức quan tâm. Làm thế nào để hạn chế đến mức thấp nhất sự mâu thuẫn giữa phát triển kinh tế với việc sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường là mục tiêu mà ngành Tài nguyên và Môi trường đã và đang đặt ra. Vì thực tiễn phát triển kinh tế ở các nước và qua 20 năm đổi mới ở nước ta đã chứng minh rằng ở đâu kinh tế càng phát triển thì ở đó tài nguyên thiên nhiên càng có xu hướng bị khai thác cạn kiệt, môi trường bị ô nhiễm, huỷ hoại, xuống cấp, có nơi rất nặng nề. Quá trình phát triển kinh tế - xã hội và đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa bên cạnh việc mang lại những thành tựu kinh tế xã hội nhất định, cũng đã và đang đặt ra những vấn đề môi trường cấp bách, những thách thức to lớn trong quá trình phát triển của tỉnh Bến Tre. Môi trường ở một số nơi bị ô nhiễm, tình trạng ứ đọng nước về mùa mưa ở thị xã, thị trấn chưa được khắc phục tốt, thiếu nhà vệ sinh công cộng. Các bãi rác chưa được đầu tư xử lý triệt để. Môi trường nước nuôi thủy, hải sản vẫn còn nguy cơ bị ô nhiễm do phát triển tự phát. Một số cơ sở sản xuất, làng nghề thủ công chưa có hệ thống xử lý chất thải, gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng xấu đến chất lượng cuộc sống người dân trong khu vực (cơ sở chế biến thủy hải sản, cơ sở sản xuất chỉ xơ dừa, cơ sở chăn nuôi heo…). Do đó, để đạt được mục tiêu phát triển bền vững, chúng ta phải có những giải pháp đồng bộ, trong đó chính sách phát triển kinh tế - xã hội phù hợp và giải pháp hữu hiệu giải quyết ô nhiễm môi trường là hết sức quan trọng.

* Thưa ông, hiện nay Ngành TNMT đã có những giải pháp để giải quyết tình trạng ô nhiễm môi trường cấp bách ?

Hướng tới mục tiêu phát triển bền vững, Ngành TNMT đang xây dựng dự án “Quy hoạch bảo vệ môi trường tỉnh Bến Tre giai đoạn năm 2006 đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020” và đây là quy hoạch hết sức cần thiết nhằm đánh giá hiện trạng, dự báo xu thế biến đổi tài nguyên, môi trường và đề xuất các phương án ưu tiên nhằm bảo vệ môi trường và khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên tỉnh Bến Tre đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020. Dự án sẽ là cơ sở bảo vệ môi trường vững chắc cho việc phát triển bền vững tỉnh Bến tre khi ra các quyết định đầu tư về phát triển KTXH. Cơ sở thực hiệndự án này dựa vào chín chương trình cụ thể như sau:

1. Chương trình nâng cao nhận thức của người dân về BVMT;

2. Chương trình kiểm soát ô nhiễm nguồn nước mặt do nước thải sinh hoạt và sản xuất; nâng cấp cải tạo và xây dựng hệ thống thoát nước và xử lý nước thải sinh hoạt đô thị, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, làng nghề;

3. Chương trình quản lý chất thải rắn, hoàn chỉnh hệ thống thu gom và xử lý chất thải rắn;

4. Chương trình kiểm soát ô nhiễm nguồn nước do các hoạt động chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản;

5. Chương trình kiểm soát xâm nhập mặn, hạn chế và giảm nhẹ tác hại của quá trình xâm nhập mặn diễn ra trên địa bàn tỉnh, chủ yếu ở các huyện ven biển;

6. Chương trình cấp nước sạch và cải tạo tình hình vệ sinh môi trường nông thôn, đặc biệt là vùng bị xâm nhập mặn;

7. Chương trình kiểm soát sạt lở các bờ sông;

8. Chương trình kiểm soát ô nhiễm không khí tại các làng nghề chỉ xơ dừa;
9. Chương trình kiểm soát ô nhiễm chất lượng đất do sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và phân bón trong nông nghiệp;

* Đó là những giải pháp về BVMT. Còn về quản lý và sử dụng tài nguyên, nhất là tài nguyên đất, thì Ngành TNMT đã có những chuẩn bị như thế nào, thưa ông ?

Đối với vấn đề quản lý tài nguyên, nhất là tài nguyên đất, dù có những khó khăn nhất định nhưng chúng ta cũng đang đứng trước môt cơ hội lớn ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nhà. Đó là việc Bến Tre được chọn là 1 trong 9 tỉnh trong cả nước tham gia thực hiện Dự án hoàn thiện và hiện đại hoá hệ thống quản lý đất đai Việt Nam (VLAP) do Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì và triển khai thực hiện với mục tiêu “tăng cường sự tiếp cận của mọi đối tượng đối với dịch vụ quản lý đất đai thông qua việc phát triển một hệ thống quản lý đất đai hoàn thiện ở Việt Nam”. Dự án VLAP dự kiến sẽ được triển khai từ tháng 7-2008 đến tháng 6-2013, tổng kinh phí thực hiện dự kiến lên đến 100 triệu USD (hơn 1.600 tỉ đồng), trong đó Ngân hàng Thế giới (WB) tài trợ 75 triệu USD bằng nguồn vốn IDA, chính phủ Việt Nam đối ứng 1 triệu USD, còn lại 24 triệu USD lấy từ nguồn ngân sách của các địa phương tham gia dự án. Riêng Bến Tre được Bộ Tài nguyên và Môi trường phân bổ 6.846.010 USD từ nguồn IDA của WB, vốn đối ứng của địa phương là 2.414.870 USD, tổng cộng kinh phí là 9.278.880 USD.

Việc được chọn tham gia thực hiện dự án VLAP là cơ hội lớn, là điều kiện vô cùng thuận lợi để tỉnh Bến Tre hoàn thiện và hiện đại hoá hệ thống quản lý đất đai của địa phương. Trước mắt, Sở Tài nguyên và Môi trường đã xây dựng kế hoạch thực hiện tổng thể cho 5 năm và kế hoạch chi tiết 18 tháng theo yêu cầu của dự án. Ủy ban nhân dân tỉnh cũng đã có văn bản cam kết với Bộ Tài nguyên và Môi trường thực hiện dự án đúng mục tiêu, nội dung của VLAP; bố trí vốn đối ứng, đồng thời ứng trước kinh phí cần thiết theo yêu cầu của dự án; duy trì và phát triển hệ thống quản lý đất đai hiện đại của dự án VLAP tại tỉnh Bến Tre; và tập trung hoàn thiện tổ chức bộ máy quản lý đất đai theo quy định pháp luật và chuẩn bị các nguồn lực cần thiết theo yêu cầu của dự án nhằm hoàn thành mục tiêu, nội dung dự án đề ra.

* Xin hỏi ông thêm một câu, nhận định của ông về chặng đường phát triển phía trước của tỉnh, gắn với phát triển bền vững, như thế nào ?

Chặng đường phát triển phía trước của tỉnh nhà không chỉ có thuận lợi mà còn tìm ẩn nhiều vấn đề khó khăn cần phải giải quyết, trong đó có nguy cơ tác động xấu đến tài nguyên thiên nhiên và môi trường của tỉnh. Thông điệp của Ngành là ủng hộ sự phát triển hài hoà, thân thiện với môi trường và quyết tâm của Ngành là phải bảo vệ hình ảnh đẹp của xứ Dừa, hướng đến tầm vóc về một đô thị đẹp của tương lai.

Hiện tại, các chương trình, dự án về hiện đại hoá hệ thống quản lý đất đai và bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh đã được khởi động; quy hoạch bảo vệ môi trường định hướng đến năm 2020 và các quy hoạch khai thác, sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên đã được triển khai xây dựng; các khiếu kiện liên quan đến chính sách đất đai đang được xem xét giải quyết thấu tình, đạt lý… tất cả đều hướng tới mục tiêu phát triển bền vững của tỉnh nhà, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, góp phần cùng cả nước tận dụng tốt thời cơ và vận hội mới của đất nước.

Tất cả những gì được trình bày ở trên, đó cũng chính là sự nhận thức về vị trí, vai trò, trách nhiệm của Ngành trong tiến trình hội nhập của tỉnh. Tôi thay mặt ngành Tài nguyên và Môi trường xin được bày tỏ để quý độc giả chia sẻ và hỗ trợ nhằm giúp chúng tôi hoàn thành tốt nhiệm vụ. Trước thiềm năm mới, thay mặt ngành Tài nguyên và Môi trường Bến Tre kính chúc quý độc giả một năm mới sức khoẻ, hạnh phúc và gặt hái được nhiều thành công trong công việc cũng như trong cuộc sống.

* Xin cảm ơn ông !

VĨNH THỊNH (thực hiện)



01/02/2008 12:00 SAĐã ban hành
HƯỞNG ỨNG NGÀY ĐẤT NGẬP NƯỚC 02/02/2008 “Đất ngập nước vững bền, con người mạnh khoẻ”HƯỞNG ỨNG NGÀY ĐẤT NGẬP NƯỚC 02/02/2008 “Đất ngập nước vững bền, con người mạnh khoẻ”
Công ước về Các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế đã được ký vào ngày 02/02/1971 tại thành phố Ramsar, thuộc nước Cộng hoà Iran (gọi tắt là Công ước Ramsar).



Công ước về Các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế đã được ký vào ngày 02/02/1971 tại thành phố Ramsar, thuộc nước Cộng hoà Iran (gọi tắt là Công ước Ramsar). Để kỷ niệm ngày trọng đại này, các quốc gia thành viên đã thống nhất chọn ngày 02/02 là Ngày đất ngập nước thế giới. Hàng năm, các quốc gia thành viên của Công ước đã tổ chức kỷ niệm ngày này bằng cách tiến hành các hoạt động khác nhau nhằm nâng cao nhận thức về các giá trị, lợi ích của đất ngập nước nói chung, khuyến khích bảo tốn và sử dụng bền vững các vùng đất ngập nước

Việt Nam là quốc gia đầu tiên trong khu vực Đông Nam Á phê chuẩn Công ước Ramsar từ năm 1989, và là một trong 156 quốc gia tham gia công ước này.

Đất ngập nước có vai trò quan trọng đối với con người bởi vì những chức năng sinh thái của nó tạo ra sản phẩm và dịch vụ cần thiết cho sức khỏe, sự an toàn, sự sống của con người sống trong vùng hoặc gần vùng đất ngập nước. Nhiều chức năng này còn quan trọng ở cấp khu vực, quốc gia và quốc tế. Nếu thay đổi đất ngập nước mà không tính đến chức năng quan trọng của chúng, hậu quả có thể nghiêm trọng ngay tức khắc đối với đời sống của con người.

Để có cơ sở pháp lý bảo tồn và phát triển bền vững các vùng đất ngập nước trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 773/QĐ-TTg ngày 21/12/1994 về chương trình khai thác, sử dụng đất hoang hóa, bãi bồi ven sông, ven biển và mặt nước ở các vùng đồng bằng. Đến ngày 23/9/2003, Chính phủ ban hành Nghị định số 109/2003/NĐ-CP về bảo tồn và phát triển bền vững các vùng đất ngập nước. Kể từ năm 1997 đến nay, kỷ niệm Ngày đất ngập nước thế giới đã trở thành một hoạt động thường niên của các bộ, ngành, cơ quan, đoàn thể trung ương, địa phương và đã thu được nhiều kết quả tốt đẹp.

Tỉnh Bến Tre là một vùng đất được hình thành bởi ba dãi cù lao lớn (cù lao Bảo, cù lao Minh và cù lao An Hoá) nằm ở cuối nguồn sông Cửu Long, nơi giao lưu giữa sông và biển, nên ở vùng cửa sông đã hình thành hệ sinh thái đất ngập nước khá độc đáo và có tầm quan trọng trong việc bảo vệ môi trường, sinh thái, góp phần phát triển kinh tế - xã hội tỉnh nhà ổn định và bền vững.

Đất ngập nước của tỉnh Bến Tre thuộc 02 nhóm chính là đất thấp ngập nước ven biển và đất ngập nước triều, với 11 kiểu loại khác nhau, hình thành nên 04 hệ sinh thái : nông nghiệp ven biển, vùng cửa sông hình phểu, bãi cát biển và rừng ngập mặn. Từ năm 1998 đến nay, được sự quan tâm hỗ trợ của Chính phủ, Bến Tre đã đầu tư kinh phí xây dựng và bảo vệ các vùng đất ngập nước, chủ yếu phân bố ở 03 huyện: Bình Đại, Ba Tri và Thạnh Phú. Ngày 29/12/1997, UBND tỉnh Bến Tre ban hành Quyết định số 2409/QĐ-UB thành lập Sân chim Vàm Hồ ở xã Tân Mỹ, huyện Ba Tri, hiện nay do Ủy ban nhân dân huyện Ba Tri quản lý; ngày 13/11/1998, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1026-TTCP thành lập Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Thạnh Phú (ở các xã An Điền, Thạnh Phong, Thạnh Hải). Đến ngày 23/3/2005, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 57/2005/QĐ-TTg "Về việc điều chỉnh ranh giới Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre", hiện nay do Ban Quản lý Rừng phòng hộ và Đặc dụng thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quản lý. Đây là 02 vùng đất ngập nước có tầm quan trọng khu vực, quốc gia và quốc tế, đặc biệt là nơi cư trú của các loài chim nước. Như vậy, Bến Tre đã thực hiện nghiêm túc công ước Ramsar, cùng cả nước thực hiện nghĩa vụ quốc tế mà Việt Nam đã ký kết tham gia.

Chủ đề Ngày đất ngập nước Thế giới 02/02/2008 là Đất ngập nước vững bền, con nười mạnh khoẻ (Healthy Wetlands, Health People). Đây cũng là chủ đề cho cuộc họp lần thứ 10 về Hội nghị các bên tham gia Công ước Ramsar (COP 10) sẽ diễn ra từ ngày 24/10 đến 04/11 năm 2008 tại hàn Quốc.

Mỗi năm, Công ước Ramsar đưa ra một chủ đề cho Ngày đất ngập nước thế giới nhằm tập trung nâng cao nhận thức, ý thức của cộng đồng các nước tham gia công ước vào những khía cạnh của mối quan hệ giữa các vùng đất ngập nước và nhân loại trên thế giới nói chung và những người sống ở những vùng đất ngập nước nói riêng. Chủ đề năm nay thể hiện mối quan hệ chặt chẽ giữa các vùng đất ngập nước với sức khoẻ của con người, bởi lý do đất ngập nước là nguồn cung cấp thực phẩm, nước sạch, dược liệu… phục vụ cho sức khoẻ và sự thịnh vượng của con người. Hoặc ngược lại, nếu không được quản lý tốt, đất ngập nước cũng có thể ảnh hưởng tiêu cực một cách trực tiếp hoặc gián tiếp đến sức khoẻ và thậm chí là tính mạng con người (các bệnh dịch do nguồn nước, nạn cháy các vùng đất than bùn, lũ lụt và ô nhiễm nguồn nước).

“Đất ngập nước vững bền, con nười mạnh khoẻ” mới chỉ là một trong rất nhiều chủ đề thể hiện mối quan hệ chặt chẽ giữa con người và đất ngập nước. Hy vọng rằng sau mỗi ngày 02/02 hàng năm, ngày mà các quốc gia thành viên của Công ước Ramsar chọn làm Ngày đất ngập nước thế giới, chúng ta sẽ sống có trách nhiệm với môi trường sống xung quanh mình hơn, trong đó có các vùng đất ngập nước./.

VĨNH THỊNH



01/02/2008 12:00 SAĐã ban hành
TỜ KÊ KHAI HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ, SỬ DỤNG ĐẤT CỦA TỔ CHỨCTỜ KÊ KHAI HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ, SỬ DỤNG ĐẤT CỦA TỔ CHỨC
Tờ kê khai hiện trạng quản lý, sử dụng đất của tổ chức<br />(Ban hành kèm theo Công văn số 765/BTNMT-ĐKTKĐĐ<br /> ngày 05 tháng 3 năm 2008 của Bộ Tài nguyên và Môi trường<br />để dùng cho việc kê khai từng khu đất của từng tổ chức)
ĐÂY LÀ MẪU TỜ KÊ KHAI HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ, SỬ DỤNG ĐẤT CỦA TỔ CHỨC
Các bạn tải tại đây.
08/04/2008 12:00 SAĐã ban hành
HƯỚNG DẪN Kê khai hiện trạng quản lý, sử dụng đất của tổ chứcHƯỚNG DẪN Kê khai hiện trạng quản lý, sử dụng đất của tổ chức
I- Yêu cầu lập Tờ kê khai<br /> - Kê khai rõ ràng, đầy đủ các nội dung của Tờ khai.<br /> - Tuyệt đối không được tẩy, xoá, kê khai không rõ ràng.<br /> - Số liệu đảm bảo tính chính xác và phù hợp.



- Đính kèm các tài liệu, hồ sơ có liên quan (bản phô tô, có đóng dấu của tổ chức).
- Việc kê khai, xác nhận đảm bảo đúng thẩm quyền quy định.
- Các trang của Tờ kê khai phải đóng dấu giáp lai (dấu của Tổ chức thực hiện kê khai).
- Tất cả các loại hình Tổ chức đều sử dụng chung mẫu Tờ khai này.
II- Hướng dẫn cụ thể việc lập Tờ kê khai
- Góc trên cùng bên trái: Ghi địa chỉ hành chính khu đất đang quản lý, sử dụng.
1- Tên tổ chức kê khai: Ghi tên đầy đủ của cơ quan, đơn vị, tổ chức, công ty đang trực tiếp quản lý, sử dụng khu đất (không viết tắt).
- Thành lập: Ghi đầy đủ số hiệu, ngày tháng năm và cấp Quyết định thành lập (mới nhất).
- Địa chỉ tổ chức kê khai: Ghi đầy đủ số nhà, phố, đường, tổ; xã, quận, huyện, tỉnh.
- Loại hình của tổ chức: Ghi rõ loại hình hoạt động của Tổ chức phù hợp với Quyết định thành lập của cấp có thẩm quyền (cơ quan hành chính, tổ chức xã hội, đơn vị sự nghiệp...)
2- Tình hình quản lý, sử dụng đất của tổ chức
- Kê khai tổng số khu đất mà Tổ chức đang quản lý sử dụng.
- Địa chỉ khu đất kê khai: Ghi đầy đủ theo số nhà, đường phố (tổ), phường (xã, thị trấn), quận (huyện, thành phố, thị xã thuộc tỉnh), thành phố trực thuộc Trung ương (tỉnh). Một tổ chức kê khai có thể có nhiều khu đất ở các địa chỉ khác nhau, mỗi khu đất phải lập một tờ kê khai.

2.1. Chỉ tiêu điều tra theo mục đích sử dụng
- Tổng diện tích khuôn viên đất (khu đất) được giao quản lý: Ghi tổng diện tích khu đất theo đơn vị tính m2 hiện đang quản lý, sử dụng.
- Loại đất được giao theo quyết định: Ghi mục đích loại đất được giao theo quyết định.
- Các chỉ tiêu về khu đất: Ghi theo hiện trạng đang quản lý, sử dụng đất chi tiết theo từng mục đích sử dụng và năm đưa vào sử dụng, chỉ kê khai những chỉ tiêu có. Tổng diện tích kê khai của các chỉ tiêu của mục 1, 2, 3 và 4 phải bằng với tổng diện tích khu đất được giao quản lý, sử dụng. Trường hợp sử dụng đan xen không tách biệt được giữa các mục đích sử dụng đất khác nhau thì ghi theo mục đích sử dụng chính.
2.2. Chỉ tiêu điều tra tình hình sử dụng theo hiện trạng
Trường hợp có lấn chiếm thì tổng diện tích đất đang sử dụng quản lý bằng tổng diện tích ở mục A và mục B
- Đối với tổ chức đã được giao, thuê đất để thực hiện dự án đầu tư có sử dụng đất thì phải điều tra chỉ tiêu đối với diện tích xây dựng, đầu tư chưa thực hiện hoặc thực hiện chậm quá quy định theo tiến độ ghi trong dự án.
3- Hình thức quản lý, sử dụng đất: Ghi theo một trong các hình thức của mẫu, trường hợp trên cùng khuôn viên đất có nhiều hình thức sử dụng khác nhau thì chia tách theo từng hình thức đảm bảo tổng diện tích bằng với tổng diện tích khu đất được giao quản lý, sử dụng (đã kê khai tại mục 2). Trường hợp trên cùng khu đất nhưng do nhiều đơn vị sử dụng thì phải ghi vào chỉ tiêu cuối cùng (Diện tích đất quản lý, sử dụng theo hình thức khác) là Sử dụng chung.
4- Hồ sơ, giấy tờ về đất: Ghi đầy đủ các loại giấy tờ pháp lý về đất như: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, diện tích đã cấp; Hợp đồng thuê đất... Trường hợp không có giấy tờ thì phải ghi rõ là Không có.
5- Nghĩa vụ tài chính đối với khu đất đã thực hiện: Tiền sử dụng đất đã nộp, tiền thuê đất đã nộp (nộp 1 lần cho nhiều năm hoặc nộp hàng năm), tiền nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã trả có nguồn gốc từ ngân sách Nhà nước, các khoản phí và lệ phí về đất...
6- Kiến nghị đề xuất về việc quản lý, sử dụng đất của đơn vị
Do tổ chức kê khai tự đề xuất phương án xử lý đối với những diện tích sử dụng không đúng mục đích, cho thuê, cho mượn, chưa sử dụng... và các đề xuất khác để đảm bảo cho việc sử dụng đất hiệu quả hơn phù hợp với quy định của pháp luật đất đai hiện hành.
7- Cam kết của tổ chức kê khai
(người đứng đầu tổ chức ký, ghi rõ họ tên và đóng dấu)
Tờ khai của tổ chức được lập thành 02 bản một bản lưu tại Tổ chức thực hiện kê khai và một bản gửi về UBND cấp xã nơi có đất.
8- Cơ quan Tài nguyên và Môi trường sau khi trích lục, chỉnh lý trích lục hoặc trích đo phải có trách nhiệm thông báo cho tổ chức biết.
Các tài liệu trích lục, trích đo, các tài liệu có liên quan khác được thông báo, gửi đến tổ chức thực hiện kê khai.
Cơ quan Tài nguyên và Môi trường phải nêu rõ nguồn gốc số liệu mà cơ quan cung cấp.
Phương thức xác định ranh giới khu đất nêu rõ:
+ Khu đất được khoanh vẽ trên loại bản đồ nào (bản đồ địa chính, bản đồ địa hình, bản đồ qui hoạch), theo trình tự được cắm mốc ngoài thực địa, được đo đạc, lập hồ sơ địa chính, giao đất hay chỉ chuyển mốc từ bản đồ ra thực địa, không đo đạc lại mà lập hồ sơ địa chính, giao đất trên cơ sở các mốc ranh giới này.
+ Các phương thức khác.
9- Xác nhận của UBND xã, phường, thị trấn nơi có khu đất
Số liệu về diện tích tính theo loại đất của các tổ chức phải được đối chiếu giữa hồ sơ giao đất, cho thuê đất, hồ sơ địa chính, các số liệu kiểm kê trước đây và hiện trạng sử dụng đất trên thực tế.
Nội dung xác nhận:
- Đã điều tra, đối chiếu nội dung kê khai với thực tế
+ Phù hợp.
+ Không phù hợp.
- Chưa kiểm tra, đối chiếu nội dung kê khai với thực tế nhưng thông qua hồ sơ, tài liệu đang quản lý và quá trình quản lý của địa phương để xác nhận nội dung kê khai:
+ Phù hợp.
+ Không phù hợp.
BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG




08/04/2008 12:00 SAĐã ban hành
Thực hiện Chỉ thị số 31/2007/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ: CÁC TỔ CHỨC PHẢI KIỂM KÊ ĐẤT ĐANG QUẢN LÝ, SỬ DỤNGThực hiện Chỉ thị số 31/2007/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ: CÁC TỔ CHỨC PHẢI KIỂM KÊ ĐẤT ĐANG QUẢN LÝ, SỬ DỤNG
Ngày 14 tháng 12 năm 2007, Thủ trướng Chính Phủ đã ra Chỉ thị số 31/2007/CT-TTg về việc kiểm kê quỹ đất đang quản lý, sử dụng của các tổ chức được Nhà nước giao đất, cho thuê đất trên phạm vi cả nước. Nội dung Chỉ thị nêu rõ, hiện nay việc quản lý và sử dụng đất của các tổ chức chưa chặt chẽ, hiệu quả thấp, còn để xảy ra nhiều tiêu cực như sử dụng không đúng diện tích, không đúng mục đích, không sử dụng, để bị lấn chiếm, cho mượn, cho thuê trái phép, chuyển nhượng trái pháp luật, huỷ hoại đất.



Để khắc phục tình trạng trên, từng bước đưa công tác quản lý về đất đai phát triển bền vững đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các tổ chức được Nhà nước giao đất, cho thuê đất tổ chức thực hiện việc kiểm kê đất, lập bản trích đo địa chính khu đất đang quản lý, sử dụng theo các nội dung sau:
Đối tượng tiến hành kiểm kê :

Kiểm kê các loại đất do các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức sự nghiệp công, tổ chức kinh tế (sau đây gọi chung là các tổ chức) đang quản lý, sử dụng mà được Nhà nước giao hoặc cho thuê.
Đối với đất an ninh, quốc phòng chỉ rà soát ranh giới, cắm mốc ranh giới, xác định tổng diện tích đất, rà soát lại số liệu kiểm kê chi tiết đã thực hiện trong kỳ kiểm kê đất đai năm 2005.
Nội dung kiểm kê:

Kiểm kê diện tích đất đang quản lý, sử dụng của các tổ chức được Nhà nước giao đất, cho thuê đất theo chỉ tiêu các loại đất do Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định.
- Số liệu diện tích theo loại đất phải được đối chiếu giữa hồ sơ giao đất, cho thuê đất, hồ sơ địa chính, hiện trạng sử dụng đất và ghi rõ diện tích đất được cấp giấy chứng nhận, diện tích đất phù hợp hoặc không phù hợp với quy hoạch đã được xét duyệt, diện tích đất lấn chiếm, chuyển nhượng, cho thuê trái phép, diện tích đất đã đưa vào sử dụng nhưng còn để hoang hoá, sử dụng ít hiệu quả, chưa sử dụng hoặc sử dụng sai mục đích.
- Lập bản trích lục hoặc trích đo địa chính khu đất đang quản lý, sử dụng của các tổ chức có trong đơn vị hành chính cấp xã. Trường hợp tổ chức có một vị trí nhưng thuộc địa bàn nhiều đơn vị hành chính phải có sơ đồ chung cho vị trí khu đất kèm theo.
- Lập báo cáo tình hình sử dụng đất gồm các nội dung như đánh giá hiện trạng sử dụng đất, đánh giá và phân tích nguyên nhân biến động từ khi nhận bàn giao đất đến khi thực hiện kiểm kê, tình hình tranh chấp, lấn chiếm, tình hình sử dụng đất và việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho tổ chức đang quản lý và sử dụng đất.
Thời điểm tiến hành kiểm kê:

Thời điểm kiểm kê được thực hiện thống nhất trên phạm vi cả nước là ngày 01 tháng 4 năm 2008. Bao gồm các bước:
- Công tác chuẩn bị : Hoàn thành trước ngày 31/3/2008;
- Cấp xã: Hoàn thành trước ngày 31/8/2008;
- Cấp huyện : Hoàn thành trước ngày 30/9/2008;
- Cấp Tỉnh : Hoàn thành trước ngày 31/10/2008;
- Cả nước hoàn thành trước ngày 30/11/2008.
Trách nhiệm của các tổ chức đang quản lý, sử dụng đất :

Các tổ chức được Nhà nước giao đất, cho thuê đất có trách nhiệm rà soát hiện trạng đất đang quản lý, sử dụng của đơn vị mình; hệ thống lại toàn bộ các tài liệu liên quan đến việc được giao, được thuê đất; phối hợp với đơn vị được giao nhiệm vụ kiểm kê để thực hiện kiểm kê đất của tổ chức mình.
Dự kiến đầu tháng 4-2008, Sở Tài nguyên và Môi trường sẽ triển khai kế hoạch kiểm kê diện tích đất đang quản lý, sử dụng của các tổ chức được Nhà nước giao đất, cho thuê đất trên địa bàn tỉnh đến UBND các cấp và các tổ chức sử dụng đất thuộc đối tượng phải kiểm kê.
SỞ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG



08/04/2008 12:00 SAĐã ban hành
THÔNG BÁOTHÔNG BÁO
Ban biên tập Website Sở Tài nguyên và Môi trường tiếp tục cập nhật chạy thử nghiệm các đồ án Quy hoạch - Khu quy hoạch đô thị Thành phố Bến Tre (giai đoạn đến năm 2020)
Lưu ý:
+ Xem thông tin Quy hoạch trên Website chỉ mang tính tham khảo. Tổ chức, cá nhân có yêu cầu trích lục thông tin quy hoạch bằng văn bản (kèm họa đồ) xin liên hệ: Văn phòng Đăng ký QSD đất tỉnh Bến Tre.
+ Màu trên các đồ án quy hoạch thể hiện từng phân khu chức năng quy hoạch chỉ mang tính tham khảo.
25/03/2008 12:00 SAĐã ban hành
Về việc tạm ngưng để nâng cấp trang web Thông tin quy hoạchVề việc tạm ngưng để nâng cấp trang web Thông tin quy hoạch
Trong thời gian nâng cấp, Trung tâm Công nghệ thông tin tạm ngưng hoạt động của trang webThông tin quy hoạch

​      Thực hiện nội dung công văn số 318/STTTT-CNTTngày10tháng 3năm 2020của Sở Thông tin và Truyền thông Bến Tre về việc cảnh báo nguy cơ tấn công vào các máy chủ web sử dụng Apache Tomcat.

       Nhằm đảm bảo an toàn thông tin cho trang web Thông tin quy hoạch, Sở Tài nguyên và Môi trường triển khai nâng cấp Apache Tomcat lên phiên bản đã khắc phục lỗi. Trong thời gian nâng cấp, Sở Tài nguyên và Môi trường tạm ngưng hoạt động của trang webThông tin quy hoạch kể từ ngày 18/3/2020.

        Sở Tài nguyên và Môi trường xin thông báo đến tổ chức, cá nhân được biết./

18/03/2020 10:00 SAĐã ban hành
Tập huấn các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý tài nguyên nước và khoáng sảnTập huấn các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý tài nguyên nước và khoáng sản
Ngày 8 tháng 8 năm 2017, tại Hội trường số 3 Tỉnh Ủy, Sở Tài nguyên và Môi trường tổ chức lớp tập huấn các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý tài nguyên nước và khoáng sản

08.8.TapHuan_VB_QPPL_QLTN-KS-1.jpg

Ông Trịnh Minh Khôi - Chánh Văn phòng Sở phát biểu khai mạc lớp tập huấn. (Ảnh: Duy Anh)

       Trong thời gian qua, tình hình khai thác cát trái phép trên địa bàn tỉnh nói riêng, cả nước nói chung có những diễn biến phức tạp. Nguyên nhân do nhu cầu sử dụng cát làm vật liệu san lấp rất lớn, trong khi lượng cát bổ cập từ thượng nguồn về ngày càng giảm. Trước tình hình trên, Ủy ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo các ngành, các cấp thực hiện nghiêm túc, những quy định pháp luật hiện hành, các văn bản chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; đồng thời triển khai thực hiện quyết liệt, đồng bộ nhiều biện pháp, giải pháp để xử lý có hiệu quả với nạn khai thác cát trái phép này.     

        Nhằm góp phần nâng cao năng lực cán bộ trong thực thi công vụ và hiệu quả công tác quản lý Nhà nước, ngày 8 tháng 8 năm 2017, tại Hội trường số 3 Tỉnh Ủy, Sở Tài nguyên và Môi trường tổ chức lớp tập huấn các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý tài nguyên nước và khoáng sản.

         Đến tham dự và chủ trì có Ông Lê Văn Đáo - Phó Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường cùng sự tham gia của gần 200 Đại biểu là đại diện các sở, ngành liên quan; Công an tỉnh; Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh; Ủy ban nhân dân, Phòng Tài nguyên và Môi trường các huyện, thành phố Bến Tre; Đoàn kiểm tra liên ngành khoáng sản tỉnh, huyện; Ủy ban nhân dân 164 xã, phường, thị trấn; và các Công ty, Hợp tác xã khai thác cát trên địa bàn tỉnh.

08.8.TapHuan_VB_QPPL_QLTN-KS-3.png
                              Quan cảnh lớp tập huấn. (Ảnh: Duy Anh)

        Lớp tập huấn đã phổ biến, cập nhật các chính sách, pháp luật về tài nguyên của Trung ương và Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành trong thời gian gần đây để áp dụng vào công tác thanh tra, kiểm tra và quản lý trên địa bàn tỉnh. Trong đó, nội dung tập huấn tập trung vào các văn bản Quy phạm pháp luật như Nghị định 158/2016/ND-CP ngày 29 tháng 11 năm 2016 quy định chi tiết thi hành một số điều Luật khoáng sản; Nghị định số 33/2017/NĐ-CP ngày 03 tháng 4 năm 2017 xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản; Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18 tháng 11 năm 2016 xử phạt hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường; Quyết định số 27/2017/QĐ-UBND ngày 19 tháng 5 năm 2017 ban hành quy chế quản lý hoạt động khoáng sản tỉnh Bến Tre. Bên cạnh đó, các Đại biểu tham dự tập huấn đã trao đổi, thảo luận, chia sẻ những khó khăn, kinh nghiệm trong thực hiện nhiệm vụ.

Huỳnh Lê Duy Anh
08/08/2017 4:00 CHĐã ban hành
GIS là gì ?GIS là gì ?
Kỹ thuật "Thông tin Địa lý" (Geograpgic Information System) đã bắt đầu được<br />sử dụng rộng rãi ở các nước phát triển hơn một thập niên qua, đây là một dạng ứng dụng  công  nghệ  tin  học  (Information  Technology)  nhằm  mô  tả  thế  giới  thực  (Real world) mà loài người đang sống-tìm hiểu-khai thác. Với những tính năng ưu việt, kỹ thuật GIS ngày nay đang được ứng dụng trong nhiều lãnh vực nghiên cứu và quản lý, đặc biệt trong quản lý và quy hoạch sử dụng-khai thác các nguồn tài nguyên một cách bền vững và hợp lý.


Sự phát triển không ngừng của công nghệ thông tin đã đưa tin học thâm nhập sâu vào nhiều lĩnh vực khoa học và đời sống, mở ra một giai đoạn mới trong quá trình phát triển khoa học. Hệ thống thông tin địa lý là một trong những ứng dụng rất có giá trị của công nghệ tin học trong ngành địa lý, điều tra cơ bản, quy hoạch đô thị và cảnh báo môi trường.
Kỹ thuật GIS đã được bắt đầu sử dụng rộng rãi ở các nước phát triển hơn một thập niên qua, với những tính năng ưu việt, kỹ thuật GIS ngày nay đang được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu và quản lý.
Hệ thống thông tin địa lý là một kỹ thuật ứng dụng hệ thống vi tính số hoá, xuất hiện trong những năm 1960 cho đến nay công nghệ này được biết đến như là một kỹ thuật toàn cầu.
Trong sự phát triển của đất nước ta hiện nay, việc tổ chức quản lý thông tin địa lý một cách tổng thể có thể đóng góp không nhỏ vào việc sử dụng có hiệu quả hơn nguồn tài nguyên của đất nước.

LỢI ÍCH VÀ NHỮNG HẠN CHẾ CỦA VIỆC SỬ
DỤNG KỸ THUẬT GIS:

Kỹ thuật GIS là một công nghệ ứng dụng các tiến bộ của khoa học máy tính, (computer based technology) do đó việc sử dụng GIS trong các mục tiêu nghiên cứu so với các phương tiện cổ điển có thể mang lại những hiệu quả cao do:
Là cách tiết kiệm chi phí và thời gian nhất trong việc lưu trữ số liệu

Có thể thu thập số liệu với số lượng lớn
Số liệu lưu trữ có thể được cập nhật hoá một cách dễ dàng
Chất lượng số liệu được quản lý, xử lý và hiệu chỉnh tốt
Dễ dàng truy cập, phân tích số liệu từ nhiều nguổn và nhiều loại khác nhau
Tổng hợp một lần được nhiều loại số liệu khác nhau để phân tích và tạo ra nhanh chóng một lớp số liệu tổng hợp mới
Tuy nhiên, có những trở ngại xuất hiện trong quá trình sử dụng kỹ thuật GIS, những trở ngại này đặc biệt quan trọng là cần được cân nhắc thận trọng trong quá trình phát triển GIS tại các nước kém và đang phát triển như Việt Nam, đó là:
Chi phí và những vấn đề kỹ thuật đòi hỏi trong việc chuẩn bị lại các số liệu thô hiện có, nhằm có thể chuyển từ bản đổ dạng giấy truyền thống sang dạng kỹ thuật số trên máy tính (thông qua việc số hoá, quét ảnh...)
Đòi hỏi nhiều kiến thức của các kỹ thuật cơ bản về máy tính, và yêu cầu lớn về nguồn tài chính ban đầu.
Chi phí của việc mua sắm và lắp đặt thiết bị và phần mềm GIS khá cao.
Trong một số lĩnh vực ứng dụng, hiệu quả tài chánh thu lại thấp.
Đặc biệt trong nông nghiệp, GIS có 3 điểm thuận lợi chính khi được so sánh với cách quản lý bản đổ bằng tay trước đây:
Chúng là một công cụ khá mạnh trong việc lưu trữ và diễn đạt các số liệu đặc biệt là các bản đổ.
Chúng có thể cho ra những kết quả dưới những dạng khác nhau như các bản đổ, biểu bản, và các biểu đổ thống kê,..
Chúng là một công cụ đắc lực cho các nhà khoa học đặc biệt về lãnh vực nghiên cứu hệ thống canh tác, đánh giá đất đai, khả năng thích nghi của các kiểu sử dụng đất, quản lý và xử lý các bản đồ giai thửa trong quản lý đất đai,..Nó giúp cho các nhà làm khoa học đó khả năng phân tích các nguyên nhân và những ảnh hưởng và kiểm chứng những biến đổi trong hệ thống sinh thái cũng như khả năng thích ứng của việc thay đổi một chính sách đối với người dân.

CÁC ĐẶC ĐIỂM CỦA HỆ
THỐNG THÔNG TIN ĐỊA LÝ-GIS:

Hệ thống thông tin địa lý trước hết là một hệ thống thông tin cũng như các hệ thống thông tin khác, ví dụ như thương mại, pháp luật, ngân hàng, ... Các hệ thống thông tin nói chung đều bao gồm các phần:
Hệ thống thiết bị phần cứng bao gồm máy tính hoặc hệ mạng máy tính, các thiết bị đầu vào, các thiết bị đầu ra.
Hệ thống phần mềm bao gồm phần mềm hệ thống, phần mềm quản trị, phần mềm ứng dụng.
Hệ thống thông tin đầu vào và hệ thống cập nhật thông tin.
Hệ thống CSDL bao gồm các loại dữ kiện cần thiết.
Hệ thống hiển thị thông tin và giao diện với người sử dụng
Sự khác nhau giữa hệ thống thông tin địa lý với các hệ thống thông tin khác chỉ ở hai điểm sau:
CSDL bao gồm các dữ liệu địa lý và các dữ liệu thuộc tính (các dữ liệu chữ - số, dữ liệu multimedial,... ) và mối quan hệ giữa hai loại dữ liệu này.
Hệ thống thông tin đầu vào và hệ thống hiển thị thông tin đòi hỏi những đặc thù riêng về độ chính xác.

Hình 5.1: Sự thể hiện quang cảnh sự vật dưới các lớp bản đồ khác nhau
Một hệ thống thông tin địa lý có thể bao gồm các đặc điểm chính sau:

KHẢ NĂNG CHỒNG LẤP CÁC BẢN ĐỒ (Map
Overlaying):

Việc chồng lắp các bản đồ trong kỹ thuật GIS là một khả năng ưu việt của GIS trong việc phân tích các số liệu thuộc về không gian, để có thể xây dựng thành một bản đồ mới mang các đặc tính hoàn toàn khác với bản đồ trước đây.

Hình 5.2: Nguyên lý khi chồng lắp các bản đồ

Hình 5.3: Việc chồng lắp các bản đồ theo phương pháp cộng

Hình 5.4: Một thí dụ trong việc chồng lắp các bản đồ.

KHẢ NĂNG PHÂN LOẠI CÁC THUỘC TÍNH (Reclassification):

Một trong những điểm nổi bật trong tất cả các chương trình GIS trong việc phân tích các thuộc tính số liệu thuộc về không gian là khả năng của nó để phân loại các thuộc tính nổi bật của bản đồ. Nó là một quá trình nhằm chỉ ra một nhóm thuộc tính thuộc về một cấp nhóm nào đó. Một lớp bản đồ mới được tạo ra mang giá trị mới, mà nó được tạo thành dựa vào bản đồ trước đây.
Việc phân loại bản đồ rất quan trọng vì nó cho ra các mẩu khác nhau. Một trong những điểm quan trọng trong GIS là giúp để nhận biết được các mẩu đó. Đó có thể là những vùng thích nghi cho việc phát triển đô thị hoặc nông nghiệp mà hầu hết được chuyển sang phát triển dân cư. Việc phân loại bản đồ có thể được thực hiện trên 1 hay nhiều bản đồ..

Hình 5.5: Một thí dụ trong việc phân loại lại một bản đồ

TỔ CHỨC CƠ SỞ DỮ LIỆU TRONG GIS
:

Chức năng của hệ thống thông tin địa lý là để cải thiện khả năng người sử dụng để đánh giá đưa đến sự quyết định trong nghiên cứu, qui hoạch và quản lý. Để sắp xếp cho một số hệ thống thông tin, người sử dụng cần phải được cung cấp dữ liệu một cách đầy đủ và hữu hiệu, điều này đạt được bởi phương pháp của hệ thống quản lý dữ liệu (DBMS). Một DBMS có thể được định nghĩa như sau:
Một sự liên kết các dữ liệu đã lưu trữ cùng với nhau mà không gây một trở ngại hoặc việc làm dư thừa không cần thiết nhằm giúp ích cho chương trình được gia tăng khả năng sử dụng lên gấp bội; dữ liệu được lưu trữ để chúng là chương trình độc lập mà dữ liệu được sử dụng một cách phổ biến, và việc điều khiển trong việc thêm dữ liệu mới, hoặc sửa đổi và khôi phục dữ kiện hiện có bên trong hệ thống dữ liệu. Dữ liệu được kết cấu như thế để cung cấp một nền tảng cho việc phát triển sau này "(Martin, 1977)

CÁC LOẠI THÔNG TIN TRONG HỆ THỐNG THÔNG TIN ĐỊA LÝ:

Như trên đã giới thiệu dữ liệu trong hệ thống thông tin địa lý bao gồm dữ liệu địa lý và dữ liệu thuộc tính:
Dữ liệu địa lý: bao gồm các thể loại
Ảnh hàng không vũ trụ
Bản đồ trực ảnh (orthophotomap)
Bản đồ nền địa hình lập từ ảnh hàng không - vũ trụ
Bản đồ địa hình lập từ số liệu đo đạc mặt đất
Bản đồ địa chính
Bản đồ địa lý tổng hợp từ các loại bản đồ địa hình.
Các loại ảnh và bản đồ nói trên đều ở dạng số và lưu lại dưới dạng vector hoặc raster hỗn hợp raster-vector. Các dữ liệu địa lý dưới dạng vector được phân lớp thông tin yêu cầu của việc tổ chức các thông tin. Thông thường người ta hay phân lớp theo tính chất thông tin: lớp địa hình, lớp thuỷ văn, lớp đường giao thông, lớp dân cư, lớp thức phụ, lớp giới hành chính v.v.. Trong nhiều trường hợp để quản lý sâu hơn, người ta sẽ phân lớp chuyên biệt hơn như trong lớp thuỷ văn được phân thành các lớp con các lớp sông lớn, sông nhỏ, lớp biển, lớp ao hồ,v.v…
Các thông tin ở dạng raster là các thông tin nguồn và các thông tin hỗ trợ, không gian quản lý như một đối tượng địa lý. Các thông tin ở dạng vector tham gia trực tiếp quản lý và được định nghĩa như những đối tượng địa lý. Các đối tượng này thể hiện ở 3 dạng: điểm, đường và vùng hoặc miền. Mỗi đối tượng đều có thuộc tính hình học riêng như kích thước, miền vị trí. Vấn đề được đặt ra là tổ chức lưu trữ và hiển thị các thông tin vector như thế nào để thoả mãn các yêu cầu sau:
Thể hiện đầy đủ các thông tin cần thiết
Độ dư và độ thừa nhỏ nhất
Truy cập thông tin nhanh
Cập nhật thông tin dễ dàng và không sai sót (xoá bỏ thông tin không cần thiết, bổ sung thông tin mới , chỉnh lý các thông tin đã lạc hậu)
Thuận lợi cho việc hiển thị thông tin
Dữ liệu thuộc tính (Attribute): là các thông tin giải thích cho các hiện tượng địa lý gắn liền với hiện tượng địa lý. Các thông tin này được lưu trữ dữ liệu thông thường. Vấn đề đặt ra là là phải tìm mối quan hệ giữa thông tin địa lý và thông tin thuộc tính. Từ thông tin ta có thể tìm ra được các thông tin kia trong cơ sở dữ liệu.

HỆ QUẢN TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆU CỦA GIS
:

Giới thiệu
Hệ quản trị cơ sở dữ liệu là hệ thống quản lý, lưu trữ, bảo trì toàn bộ cơ sở dữ liệu. Hệ quản trị cơ sở dữ liệu cũng cung cấp các công cụ cho phép người dùng hỏi đáp, tra cứu và tác động vào cơ sở dữ liệu. Cơ sở dữ liệu cho một hệ thống GIS bao gồm 2 cơ sở dữ liệu thành phần chính là :
Cơ sở dữ liệu địa lý (không gian)
Cơ sở dữ liệu thuộc tính (phi không gian)
Trong hệ thống GIS, hệ quản trị cơ sở dữ liệu GIS được xây dựng bao gồm 2 hệ quản trị cơ sở dữ liệu riêng cho từng phần hoặc xây dựng một hệ quản trị cơ sở dữ liệu chung cho cả hai cơ sở dữ liệu con kể trên. Thông thường hệ quản trị cơ sở dữ liệu GIS được xây dựng bao gồm 3 hệ quản trị cơ sở dữ liệu con:
Hệ quản trị cơ sở dữ liệu cho cơ sở dữ liệu địa lý.
Hệ quản trị cơ sở dữ liệu quan hệ ở mức tra cứu, hỏi đáp. Hệ này được tích hợp cùng với hệ quản trị cơ sở dữ liệu địa lý cho phép người ta dùng truy nhập dữ liệu địa lý và dữ liệu thuộc tính đồng thời. Tuy nhiên, hệ quản trị cơ sở dữ liệu này cho thao tác trên cơ sở dữ liệu thuộc tính bị hạn chế.
Hệ quản trị cơ sở dữ liệu thuộc tính. Thông thường các hệ thống GIS đều lấy một hệ quản trị cơ sở dữ liệu quan hệ hiện có để quản trị và thực hiện các bài toán trên dữ liệu thuộc tính mà không liên quan đến dữ liệu không gian. Ví dụ: FOX, MS SQL, ORACLE.
Về hệ quản trị cơ sở dữ liệu quản lý cơ sở dữ liệu thuộc tính, chúng ta đã xem xét chi tiết trong phần “Hệ thống cơ sở dữ liệu“. Vì vậy, ở đây chúng ta chỉ đi sâu vào hệ quản trị cơ sở dữ liệu cho dữ liệu không gian.
Hệ quản trị cơ sở dữ liệu cho dữ liệu không gian bao gồm các hệ thống con sau:
Hệ thống nhập bản đồ
Hệ thống hiển thị bản đồ
Hệ thống tra cứu, hỏi đáp cơ sở dữ liệu
Hệ thống phân tích địa lý
Hệ thống phân tích thống kê
Hệ thống đầu ra
Hệ quản trị cơ sở dữ liệu GIS
Hệ thống nhập bản đồ
Hệ thống cung cấp các công cụ để số hoá các đối tượng trên bản đồ. Hiện nay tồn tại hai phương pháp để chuyển bản đồ giấy thành bản đồ số:
Số hoá bản đồ: dùng bàn vẽ (digitizer) đi lại các đối tượng bản đồ trên giấy. Chức năng có thể có trong bản thân hệ thống hoặc dùng 1 phần mềm khác số hoá, sau đó nhập vào kết quả số hoá bởi phần mềm đó.
Vector hoá bản đồ: Bản đồ được quét vào thành dạng file ảnh (scanning) sau đó chuyển sang dạng vector (vectorizing). Quá trình vectorizing có thể thực hiện thủ công qua số hoá trên màn hình (head up digitizing) hoặc dùng phần mềm chuyển tự động/bán tự động từ ảnh sang vector.
Một trong những nguồn dữ liệu quan trọng là dữ liệu được nhập từ các hệ thống khác. Vì vậy hệ thống nhập bản đồ phải có chức năng nhập (import) các dạng (format) dữ liệu khác nhau.
Hệ thống hiển thị bản đồ
Hệ thống cung cấp các khả năng hiển thị bản đồ trên màn hình cho người sử dụng xem. Hiện nay chức năng hiển thị bản đồ đều có khả năng cung cấp cách nhìn 3 chiều (3D). Bản đồ sẽ được thể hiện sinh động, trực quan hơn.
Tra cứu, hỏi đáp cơ sở dữ liệu
Hệ thống cung cấp các công cụ cho người sử dụng tra cứu, hỏi đáp, lấy các thông tin cần thiết trong cơ sở dữ liệu ra. Hệ thống này ảnh hưởng trực tiếp đến tính hiệu quả của hệ thống. Bởi vì phần lớn, người dùng chỉ có yêu cầu tra cứu thông tin. Hệ thống tra cứu phải mềm dẻo, dễ sử dụng, thời gian truy cập dữ liệu nhanh. Hệ thống cho phép tra cứu trên cả hai dữ liệu: dữ liệu không gian và dữ liệu thuộc tính
Hệ thống xử lý, phân tích địa lý
Đây là hệ thống thể hiện rõ nhất sức mạnh của GIS. Hệ thống cung cấp các công cụ cho phép người dùng xử lý, phân tích dạng dữ liệu không gian. Từ đó, chúng ta có thể sản sinh ra các thông tin mới (thông tin dẫn suất)
Hệ thống phân tích thống kê
Hệ thống cung cấp các công cụ thống kê trên dữ liệu không gian cũng như dữ liệu thuộc tính. Tuy nhiên các phép phân tích thống kê trên dữ liệu không gian khác biệt so với một số phép phân tích thống kê thông thường trên dữ liệu phi không gian.
Hệ thống in ấn bản đồ
Hệ thống có nhiệm vụ in các bản đồ kết quả ra các thiết bị ra thông dụng như máy in (printer), máy vẽ (Plotter). Yêu cầu đối với hệ thống này là tương thích với nhiều loại thiết bị ngoại vì hiện có trên thị trường.
Huỳnh Đoàn Minh (Sưu tầm và tổng hợp)



28/01/2008 12:00 SAĐã ban hành
Bản tin dự báo, cảnh báo khí tượng thủy văn thời hạn mùa tỉnh Bến TreBản tin dự báo, cảnh báo khí tượng thủy văn thời hạn mùa tỉnh Bến Tre
Bản tin dự báo, cảnh báo khí tượng thủy văn thời hạn mùa tỉnh Bến Tre

Tải toàn văn: 11547_2019_51_DBT.pdf

27/12/2019 9:00 SAĐã ban hành
BẢN TIN TÌNH HÌNH XÂM NHẬP MẶN TỈNH BẾN TRE (Từ ngày 21/5 đến ngày 31/5/2016)BẢN TIN TÌNH HÌNH XÂM NHẬP MẶN TỈNH BẾN TRE (Từ ngày 21/5 đến ngày 31/5/2016)

I/ TÓM TẮT TÌNH HÌNH XÂM NHẬP MẶN TỪ NGÀY 11 ĐẾN NGÀY 20/05/2016 :

Diễn biến xâm nhập mặn cao nhất hàng ngày có xu thế giảm nhẹ dần từ ngày 10 đến ngày 15, sau đó tăng nhẹ.

Độ mặn xâm nhập sâu nhất xuất hiện trong các ngày 11 và 17, 18 ở mức giảm, ít sâu hơn so với tuần trước và vẫn còn sâu hơn năm 2015 cùng thời kỳ.

Độ mặn cao nhất đo được tại các nơi như sau:

* Trên sông Cửa Đại:

+ Tại Bình Đại (cảng cá Bình Đại - huyện Bình Đại): 18.9 ‰ ngày 16.

+ Tại Lộc Thuận (xã Lộc Thuận - huyện Bình Đại): 10.5 ‰  ngày 14.

+ Tại Giao Hoà (xã Giao Hoà - huyện Châu Thành): 5.2 ‰  ngày 17.

+ Tại Quới Sơn (ấp 2, xã Quới Sơn - huyện Châu Thành): 1.8 ‰ ngày 11.

+ Tại Long Hoà (xã Long Hoà - huyện Bình Đại): 2.6 ‰ ngày 11 (Sông Ba Lai).

Ø Trên sông Hàm Luông:

+ Tại An Thuận (cảng cá Tiệm Tôm - huyện Ba Tri): 20.0 ‰ ngày 16.

+ Tại Sơn Đốc (xã Hưng Lễ - huyện Giồng Trôm): 12.0 ‰ ngày 15.

+ Tại Phú Khánh (xã Phú Khánh - huyện Thạnh Phú): 7.0 ‰ ngày 11 (trong kênh).

+ Tại Mỹ Hoá (phường 07 - Tp. Bến Tre): 2.9 ‰  ngày 11, 17 và 18.

+ Tại An Hiệp (xã An Hiệp - huyện Châu Thành): 1.9 ‰ ngày 17.

+ Tại Vàm Mơn (xã Phú Sơn - huyện Chợ Lách): 0.1 ‰ (không mặn).

+ Tại Hoà Nghĩa (phà Tân Phú - huyện Chợ Lách): 0.1 ‰ (không mặn).

Ø Trên sông Cổ Chiên:

+ Tại Bến Trại (xã An Thuận - huyện Thạnh Phú): 20.6 ‰ ngày 15.

+ Tại Hương Mỹ (xã Hương Mỹ - huyện Mõ Cày Nam): 4.7 ‰ ngày 14.

+ Tại Thành Thới B (xã Thành Thới B - huyện Mõ Cày Nam): 1.1 ‰  ngày 11.

+ Tại Nhuận Phú Tân (xã Nhuận Phú Tân - huyện Mõ Cày Bắc): 0.3 ‰  ngày 10-14.

Độ mặn 4 ‰ trên các sông chính đã xâm nhập đến:

- Sông Cửa Đại: xã Giao Hòa - Giao Long (huyện Châu Thành), (cách cửa sông khoảng 40 - 42km).

- Sông Hàm Luông: xã Mỹ Thạnh An (Tp. Bến Tre), (cách cửa sông khoảng 45 - 47km).

- Sông Cổ Chiên: xã Cẩm Sơn (huyện Mõ Cày Nam), (cách cửa sông khoảng 34 - 36km).

Độ mặn 1 ‰ trên các sông chính đã xâm nhập đến:

- Sông Cửa Đại: xã Tân Thạch - An Khánh (huyện Châu Thành), (cách cửa sông khoảng 50 - 52km).

- Sông Hàm Luông: xã An Hiệp - Tiên Thuỷ (huyện Châu Thành) , (cách cửa sông khoảng 56 - 58km).

- Sông Cổ Chiên: xã Thành Thới B (huyện Mõ Cày Nam) - Khánh Thạnh Tân (huyện Mõ Cày Bắc), (cách cửa sông khoảng 456- 48km).

II / DỰ BÁO TÌNH HÌNH XÂM NHẬP MẶN TỪ NGÀY 20 ĐẾN NGÀY 31/05/2016:

Diễn biến xâm nhập mặn cao nhất hàng ngày có xu thế tăng nhẹ ít biến đổi từ ngày 17 đến ngày 25, 26,  sau đó giảm dần.

Độ mặn xâm nhập sâu nhất xuất hiện trong các ngày 24 đến 26 ở mức tương đương so với tuần qua và vẫn còn sâu hơn năm 2015 cùng thời kỳ.

Ø Trên sông Cửa Đại:

+ Tại Bình Đại (cảng cá Bình Đại - huyện Bình Đại): Smax từ  19.0 ‰ đến 22.0 ‰.

+ Tại Lộc Thuận (xã Lộc Thuận - huyện Bình Đại): Smax từ  11.0 ‰ đến 14.0 ‰.

+ Tại Giao Hoà (xã Giao Hoà - huyện Châu Thành): Smax từ  2.5 ‰ đến 4.5 ‰.

+ Tại Quới Sơn (ấp 2, xã Quới Sơn - huyện Châu Thành): Smax từ  1.0 ‰ đến 2.5 ‰.

+ Tại Long Hoà (xã Long Hoà - huyện Bình Đại): Smax từ  1.0 ‰ đến 3.0 ‰ (Sông Ba Lai).

Ø Trên sông Hàm Luông:

+ Tại An Thuận (Tiệm Tôm - huyện Ba Tri): Smax từ 20.0 ‰ đến 23.0 ‰.

+ Tại Sơn Đốc (xã Hưng Lễ - huyện Giồng Trôm): Smax từ 11.0 ‰ đến 14.0 ‰.

+ Tại Phú Khánh (xã Phú Khánh - huyện Thạnh Phú): Smax từ 5.0 ‰ đến 8.0 ‰ (trong kênh).

+ Tại Mỹ Hoá (phường 07 - Tp. Bến Tre): Smax từ  2.0 ‰ đến 4.0 ‰.

+ Tại An Hiệp (xã An Hiệp - huyện Châu Thành): Smax từ  0.5 ‰ đến 2.0 ‰.

+ Tại Vàm Mơn (xã Phú Sơn - huyện Chợ Lách): Smax từ  0.1 ‰ (không mặn).

+ Tại Hoà Nghĩa (phà Tân Phú - huyện Chợ Lách): Smax từ  0.1 ‰ (không mặn).

Ø Trên sông Cổ Chiên:

+ Tại Bến Trại (xã An Thuận - huyện Thạnh Phú): Smax từ  19.0 ‰ đến 22.0 ‰.

+ Tại Hương Mỹ (xã Hương Mỹ - huyện Mõ Cày Nam): Smax từ  4.0 ‰ đến 7.0 ‰.

+ Tại Thành Thới B (xã Thành Thới B - huyện Mõ Cày Nam): Smax từ  0.5 ‰ đến 2.0 ‰.

+ Tại Nhuận Phú Tân (xã Nhuận Phú Tân - huyện Mõ Cày Bắc): Smax từ  0.1 ‰ đến 1.0 ‰.

Độ mặn 4 ‰ trên các sông chính có khả năng xâm nhập đến:

- Sông Cửa Đại: xã Giao Hòa - Giao Long (huyện Châu Thành), (cách cửa sông khoảng 40 - 42km).

- Sông Hàm Luông: xã Mỹ Thạnh An (Tp. Bến Tre), (cách cửa sông khoảng 45 - 47km).

- Sông Cổ Chiên: xã Cẩm Sơn (huyện Mõ Cày Nam), (cách cửa sông khoảng 34 - 36km).

Độ mặn 1 ‰ trên các sông chính có khả năng xâm nhập đến:

- Sông Cửa Đại: xã Tân Thạch - An Khánh (huyện Châu Thành), (cách cửa sông khoảng 50 - 52km).

- Sông Hàm Luông: xã An Hiệp - Tiên Thuỷ (huyện Châu Thành), (cách cửa sông khoảng 56 - 58km).

- Sông Cổ Chiên: xã Thành Thới B (huyện Mõ Cày Nam) - Khánh Thạnh Tân (huyện Mõ Cày Bắc), (cách cửa sông khoảng 46 - 48km).

* Cấp độ rủi ro thiên tai do xâm nhập mặn trong tuần này trên các sông đạt cấp độ 1.

bandoman_21_5_16.png

bandoman_21_5_16.png

25/05/2016 1:00 CHĐã ban hành
Bản tin tình hình xâm nhập mặn tỉnh Bến Tre (Từ ngày 23/5 đến ngày 30/5/2017)Bản tin tình hình xâm nhập mặn tỉnh Bến Tre (Từ ngày 23/5 đến ngày 30/5/2017)
Bản tin dự báo độ mặn từ ngày 23 tháng 5 đến ngày 30 tháng 5 năm 2017 (Tuần 21/2017)

I/ TÓM TẮT TÌNH HÌNH XÂM NHẬP MẶN TỪ NGÀY 16 ĐẾN 07 GIỜ NGÀY 23/05/2017 (TUẦN 20/2017):

Diễn biến xâm nhập mặn cao nhất hàng ngày có xu thế giảm nhẹ dần từ ngày 16 đến ngày 18, sau đó tăng dần từ ngày 19 đến 23.

Độ mặn xâm nhập sâu nhất xuất hiện trong các ngày 20 đến 23 ở tương đương so với tuần trước và thấp hơn so với cùng thời kỳ năm 2016.

Độ mặn cao nhất đo được tại các nơi như sau:

Ø Trên sông Cửa Đại:

+ Tại Bình Đại (cảng cá Bình Đại - huyện Bình Đại): 18.7 ‰  ngày 19.

+ Tại Lộc Thuận (xã Lộc Thuận - huyện Bình Đại): 5.2 ‰  ngày 20.

+ Tại Giao Hoà (xã Giao Hoà - huyện Châu Thành): 3.1 ‰  ngày 22.

+ Tại Quới Sơn (Ấp 2, xã Quới Sơn - huyện Châu Thành): 0.2 ‰ ngày 18-21.

+ Tại Long Hòa (xã Long Hòa - huyện Bình Đại): 0.1 ‰ (sông Ba Lai).

Ø Trên sông Hàm Luông:

+ Tại An Thuận (cảng cá Tiệm Tôm – huyện Ba Tri): 18.5 ‰  ngày 20.

+ Tại Sơn Đốc (xã Hưng Lễ – huyện Giồng Trôm): 4.8 ‰  ngày 20.

+ Tại Phú Khánh (xã Phú Khánh – huyện Thạnh Phú): 7.5 ‰ ngày 22.

+ Tại Vàm Cái Quao (xã Bình Khánh Đông – huyện Mõ Cày Nam): 5.1 ‰ ngày 22.

+ Tại Vàm Nước Trong (xã Tân Thành Bình – huyện Mõ Cày Bắc): 0.2 ‰ ngày 21.

+ Tại Mỹ Hoá (phường 07 – Tp. Bến Tre): 0.1 ‰  ngày 16-23.

+ Tại Thanh Tân (xã Thanh Tân – huyện Mõ Cày Bắc): 0.1 ‰..

+ Tại An Hiệp (xã An Hiệp - huyện Châu Thành): 0.1 ‰.

+ Tại Vàm Mơn (xã Phú Sơn – huyện Chợ Lách): 0.1 ‰.

Ø Trên sông Cổ Chiên:

+ Tại Bến Trại (xã An Thuận – huyện Thạnh Phú): 17.4 ‰  ngày 18.

+ Tại Hương Mỹ (xã Hương Mỹ – huyện Mõ Cày Nam): 2.3 ‰  ngày 20.

+ Tại Cẩm Sơn (xã Cẩm Sơn – huyện Mõ Cày Nam): 2.9 ‰ ngày 23.

+ Tại Thành Thới B (xã Thành Thới B – huyện Mõ Cày Nam): 0.2 ‰ ngày 21-23.

+ Tại Nhuận Phú Tân (xã Nhuận Phú Tân - huyện Mõ Cày Bắc): 0.1 ‰.

Độ mặn 4 ‰ trên các sông chính đã xâm nhập đến:

- Sông Cửa Đại: xã Long Định (huyện Bình Đại), (cách cửa sông khoảng 36-38km).

- Sông Hàm Luông: xã Phước Long (huyện Giồng Trôm) – Phước Hiệp (huyện Mõ Cày Nam), (cách cửa sông khoảng 36-38km).

- Sông Cổ Chiên: xã Hương Mỹ-Cẩm Sơn (huyện Mõ Cày Nam), (cách cửa sông khoảng 30-32km).

Độ mặn 1 ‰ trên các sông chính đã xâm nhập đến:

- Sông Cửa Đại: xã Quới Sơn (huyện Châu Thành), (cách cửa sông khoảng 44-46km).

- Sông Hàm Luông: xã Mỹ Thạnh An (Tp. Bến Tre) – Tân Thành Bình (huyện Mõ Cày Bắc), (cách cửa sông khoảng 44-46km).

- Sông Cổ Chiên: xã Thành Thới A-Thành Thới B (huyện Mõ Cày Nam), (cách cửa sông khoảng 40-42km).

II / DỰ BÁO TÌNH HÌNH XÂM NHẬP MẶN TỪ NGÀY 23 ĐẾN NGÀY 30/05/2017 (TUẦN 21/2017):

Diễn biến xâm nhập mặn cao nhất hàng ngày có xu thế tiếp tục tăng dần từ ngày 23 đến 26, rồi giảm dần từ ngày 28 đến 30.

Độ mặn xâm nhập sâu nhất xuất hiện trong các ngày từ 24 đến 27 ở mức sâu hơn so với tuần qua và thấp hơn so với cùng thời kỳ năm 2016.

Ø Trên sông Cửa Đại:

+ Tại Bình Đại (cảng cá Bình Đại - huyện Bình Đại): Smax từ  20.0 ‰ đến 23.0 ‰.

+ Tại Lộc Thuận (xã Lộc Thuận - huyện Bình Đại): Smax từ  7.0 ‰ đến 10.0 ‰.

+ Tại Giao Hoà (xã Giao Hoà - huyện Châu Thành): Smax từ  3.0 ‰ đến 5.0 ‰.

+ Tại Quới Sơn (Ấp 2, xã Quới Sơn - huyện Châu Thành): Smax 0.2 ‰ đến 1.0 ‰.

+ Tại Long Hoà (xã Long Hoà – huyện Bình Đại): Smax 0.2 ‰ đến 1.0 ‰. (sông Ba Lai).

Ø Trên sông Hàm Luông:

+ Tại An Thuận (Tiệm Tôm – huyện Ba Tri): Smax từ 20.0  ‰ đến 23.0 ‰.

+ Tại Sơn Đốc (xã Hưng Lễ - huyện Giồng Trôm): Smax từ  7.0 ‰ đến 10.0 ‰.

+ Tại Phú Khánh (xã Phú Khánh – huyện Thạnh Phú): Smax từ 7.0 ‰ đến 10.0 ‰ (trong kênh).

+ Tại Vàm Cái Quao (xã Bình Khánh Đông – huyện Mõ Cày Nam): Smax từ 5.0 ‰ đến 8.0 ‰.

+ Tại Vàm Nước Trong (xã Tân Thành Bình – huyện Mõ Cày Bắc): Smax 0.5 ‰ đến 2.0 ‰.

+ Tại Mỹ Hoá (phường 07 – Tp. Bến Tre): Smax 0.2 ‰ đến 1.5 ‰.

+ Tại Thanh Tân (xã Thanh Tân – huyện Mõ Cày Bắc): Smax 0.2 ‰ đến 0.5 ‰.

+ Tại An Hiệp (xã An Hiệp – huyện Châu Thành): Smax 0.2 ‰.

+ Tại Vàm Mơn (xã Phú Sơn – huyện Chợ Lách): 0.1 ‰..

+ Tại Hòa Nghĩa (xã Hòa Nghĩa - huyện Chợ Lách): 0.1 ‰.

Ø Trên sông Cổ Chiên:

+ Tại Bến Trại (xã An Thuận – huyện Thạnh Phú): Smax từ  20.0 ‰ đến 23.0 ‰.

+ Tại Hương Mỹ (xã Hương Mỹ - huyện Mõ Cày Nam): Smax từ 6.0 ‰ đến 9.0‰.

+ Tại Cẩm Sơn (xã Cẩm Sơn – huyện Mõ Cày Nam): Smax từ  3.0 ‰ đến 5.0 ‰.

+ Tại Thành Thới B (xã Thành Thới B – huyện Mõ Cày Nam): Smax từ 0.2 ‰ đến 2.0 ‰.

+ Tại Nhuận Phú Tân (xã Nhuận Phú Tân): Smax 0.2 ‰.

Độ mặn 4 ‰ trên các sông chính có khả năng xâm nhập đến:

- Sông Cửa Đại: xã Giao Hòa (huyện Châu Thành), (cách cửa sông khoảng 40-42km).

- Sông Hàm Luông: xã Sơn Phú (huyện Giồng Trôm) – Định Thủy (huyện Mõ Cày Nam), (cách cửa sông khoảng 40-42km).

- Sông Cổ Chiên: xã Cẩm Sơn (huyện Mõ Cày Nam), (cách cửa sông khoảng 36-38km).

Độ mặn 1 ‰ trên các sông chính có khả năng xâm nhập đến:

- Sông Cửa Đại: xã Quới Sơn (huyện Châu Thành), (cách cửa sông khoảng 46-48km).

- Sông Hàm Luông: xã Bình Phú (Tp. Bến Tre), (cách cửa sông khoảng 48-50km).

- Sông Cổ Chiên: xã Thành Thới B (huyện Mõ Cày Nam) – Khánh Thạnh Tân (huyện Mõ Cày Bắc), (cách cửa sông khoảng 46-48km).

* Cấp độ rủi ro thiên tai do xâm nhập mặn trong tuần này:

Sông Cửa Đại: cấp độ 1.

Sông Hàm Luông:cấp độ 1.

Sông Cổ Chiên: cấp độ 1.

tuan21.png

Ban_tin_man_02_5 (Tuan_21_2017).png

26/05/2017 5:00 CHĐã ban hành
Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Từ ngày 17/02/2020 đến ngày 21/02/2020)Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Từ ngày 17/02/2020 đến ngày 21/02/2020)
Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Từ ngày 17/02/2020 đến ngày 21/02/2020)
24/02/2020 11:00 SAĐã ban hành
Bản đồ tình hình xâm nhập mặn tỉnh Bến Tre từ ngày 01/3 đến ngày 05/3/2019Bản đồ tình hình xâm nhập mặn tỉnh Bến Tre từ ngày 01/3 đến ngày 05/3/2019
Bản đồ tình hình xâm nhập mặn tỉnh Bến Tre từ ngày 01/3 đến ngày 05/3/2019
06/03/2019 6:00 CHĐã ban hành
HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG TRUY CẬP “BẢN ĐỒ QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT”HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG TRUY CẬP “BẢN ĐỒ QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT”
Chuyên mục Bản đồ quy hoạch sử dụng đất của trang tin điện tử Sở Tài nguyên và Môi trường Bến Tre phục vụ cho các tổ chức và người dân cần xem thông tin quy hoạch về thửa đất của đang sử dụng.



Sau đây là phần hướng dẫn sử dụng việc truy cập website Sở Tài nguyên và Môi Trường Bến Tre tại địa chỉ sotnmt-bentre.gov.vn để xem thông tin quy hoạch sử dụng đất tỉnh Bến Tre:
Cách I

- Truy cập vào website http://sotnmt-bentre.gov.vn.
- Tại trang chủ, ở phần menu chính nằm ở bên trái của giao diện bạn click chọn mục “Bản đồ quy hoạch”
* Tại trang thông tin quy hoạch tỉnh Bến Tre ở phần TRA CỨU THÔNG TIN QUY HOẠCH bạn cần phải nhập đầy đủ các thông tin như theo yêu cầu gồm: Quận huyện, Phường xã, Số tờ bản đồ, Số thửa, Chủ sử dụng. Sau đó click vào mục Tìm kiếm.
Cách II

- Truy cập vào website http://sotnmt-bentre.gov.vn.
- Tại trang chủ, ở phần TIN CHUYÊN MỤC bên phải của giao diện bạn click chọn mục “Thông tin quy hoạch” (Lưu ý: tại mục này chúng tôi có đưa ra thông báo cụ thể về việc cập nhật thông tin quy hoạch sử dụng đất trên website, đề nghị người truy cập xem thật kỹ để nắm thông tin)
- Tiếp theo bạn click chọn “THÔNG TIN QUY HOẠCH THỬ ĐẤT”
- Công việc cuối cùng là bạn làm theo hướng dẫn ở phần * của cách I.

Lưu ý: Tốt nhất các bạn nên sử dụng trình duyệt Internet Explorer 7.0 hoặc Firefox 3.0 trở lên. Rất mong sự đóng góp ý kiến để chuyên mục ngày càng hoàn thiện hơn.
BBT Website Sở TNMT



29/03/2010 12:00 SAĐã ban hành
Bến Tre khởi động dự án VLAPBến Tre khởi động dự án VLAP
<dd>Ngày 28/10/2008 Uỷ ban nhân dân tỉnh Bến Tre tổ chức hội nghị Khởi động dự án Hoàn thiện và hiện đại hóa hệ thống quản lý đất đai Việt Nam (gọi tắt là VLAP) tại tỉnh Bến Tre, với sự tham dự của hơn 60 đại biểu bao gồm: Ban chỉ đạo, các Sở, ban, ngành tỉnh và huyện; Ông Nguyễn Quốc Bảo Phó chủ tịch  Uỷ ban nhân dân tỉnh chủ trì hội nghị;



Dự án VLAP có 9 tỉnh được chọn lựa tham gia, bao gồm: Hưng Yên, Hà Tây (nay là Hà Nội), Thái Bình, Quảng Ngãi, Bình Định, Khánh Hòa, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, được Ngân hàng Thế giới tài trợ, cơ quan chủ quản cấp trung ương là Bộ Tài nguyên và Môi trường, cấp tỉnh là Uỷ ban nhân dân tỉnh, Sở Tài nguyên và Môi trường là chủ dự án; Thời gian thực hiện dự án là 5 năm kể từ ngày 15/9/2008 (ngày Hiệp định Tài trợ được ký kết giữa Chính phủ Việt Nam và Hiệp hội phát triển quốc tế có hiệu lực) dự kiến đến ngày 15/9/2013 kết thúc dự án.
Riêng tỉnh Bến Tre, những nội dung thực hiện dự án bao gồm:
- Kinh phí thực hiện dự án là 9.190.000 USD, trong đó vốn của Hiệp hội phát triển quốc tế (IDA) 6.760.000 USD, vốn đối ứng từ ngân sách của tỉnh 2.430.000 USD;
- Đo đạc thành lập bản đồ địa chính, đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính, chuẩn bị hồ sơ cấp mới/đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 75 xã tại các huyện Thạnh Phú, Chợ Lách, Mỏ Cày, Ba Tri và thị xã Bến Tre;
- Đo đạc chỉnh lý bản đồ địa chính, đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính, chuẩn bị hồ sơ cấp mới/đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 64 xã, phường, thị trấn tại các huyện Châu Thành, Thạnh Phú, Chợ Lách, Mỏ Cày, Giồng Trôm, Bình Đại và thị xã Bến Tre;
- Chuyển hệ tọa độ bản đồ địa chính từ hệ tọa độ HN-72 sang VN-2000 cho 31 xã, phường, thị trấn tại các huyện Châu Thành, Thạnh Phú, Chợ Lách, Mỏ Cày, Giồng Trôm, Bình Đại và thị xã Bến Tre;
- Ngoài ra, dự án có những nội dung khác như: mua sắm trang thiết bị văn phòng, phương tiện đi lại cho ban quản lý dự án. Nâng cấp và đầu tư trang thiết bị đo đạc, thiết bị văn phòng, công nghệ thông tin hiện đại cho Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp tỉnh và huyện, trang bị máy vi tính cho 160/160 xã, phường, thị trấn; đào tạo chuyên môn nâng cao trình độ cho cán bộ thực hiện dự án, cán bộ ngành cấp tỉnh, huyện và xã đảm bảo đủ khả năng tiếp nhận và sử dụng hiệu quả thành quả của dự án, cũng như tiếp tục duy trì và phát triển hệ thống sau khi kết thúc dự án.
Nhằm thực hiện thành công dự án VLAP tại tỉnh Bến Tre và đạt được mục tiêu của dự án, tăng cường sự tiếp cận của mọi đối tượng đối với dịch vụ thông tin đất đai. Tại hội nghị Ông Nguyễn Quốc Bảo đã chỉ đạo thực hiện một số nội dung, giải pháp giải quyết những khó khăn trong thực hiện dự án cho thời điểm hiện tại và suốt quá trình thực hiện dự án, cụ thể như sau:
- Tập trung nguồn lực cho việc thực hiện dự án, dù nguồn vốn đối ứng từ ngân sách của tỉnh là rất lớn, tuy nhiên dự án này tạo cơ hội cho tỉnh hoàn thiện và hiện đại hóa hệ thống quản lý đất đai với thời gian 5 năm, trong quá trình thực hiện, các vấn đề khó khăn có thể phát sinh, do đó các thành viên dự án nên chủ động, linh hoạt giải quyết;
- Cần nghiên cứu và thực hiện đúng quy trình giải ngân nguồn vốn ODA theo quy định của Ngân hàng Thế giới và đúng theo Hiệp định tài trợ;
- Ban quản lý dự án cần chú trọng thực hiện một số nội dung sau:tổ chức tốt công tác lập kế hoạch và giám sát dự án; Đào tạo cán bộ đủ trình độ theo yêu cầu của dự án;
- Về cán bộ cấp huyện và cấp xã đảm bảo đủ trình độ chuyên môn cho cán bộ nhất là cán bộ địa chính xã, đủ khả năng tiếp nhận và sử dụng trang thiết bị, kỹ thuật hiện đại, đảm bảo cung cấp thông tin cho người có nhu cầu sử dụng một cách công khai, minh bạch trong quá trình thực hiện dự án và tiếp tục duy trì, phát triển hệ thống sau này;
- Cần có sự phối hợp chặt chẽ của Ban chỉ đạo, Ban quản lý dự án, các sở, ngành tỉnh và địa phương trong quá trình thực hiện./.

Huỳnh Công Phúc



07/11/2008 12:00 SAĐã ban hành
Danh sác các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Từ ngày 20/3/2020 đến ngày 26/3/2020)Danh sác các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Từ ngày 20/3/2020 đến ngày 26/3/2020)
Danh sác các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Từ ngày 20/3/2020 đến ngày 26/3/2020)
27/03/2020 4:00 CHĐã ban hành
Bản đồ tình hình xâm nhập mặn tỉnh Bến Tre từ ngày 26/3 đến ngày 02/4/2019Bản đồ tình hình xâm nhập mặn tỉnh Bến Tre từ ngày 26/3 đến ngày 02/4/2019
Bản tin dự báo độ mặn từ ngày 16 đến ngày 23 tháng 4 năm 2019 (Tuần 16/2019)

I/ TóM TẮT TÌNH HÌNH xâm NHẬP MẶN tỪ 07 GIỜ ngày 09 ĐẾN 07 GIỜ NGÀY 16/04/2019 (TUẦN 15/2019):

Độ mặn cao nhất đo được tại các nơi như sau:

Ø Trên sông Cửa Đại:

+ Tại Bình Đại (cảng cá Bình Đại - huyện Bình Đại): 19.8 ‰ ngày 09.

+ Tại Lộc Thuận (xã Lộc Thuận - huyện Bình Đại): 9.3 ‰  ngày 09.

+ Tại Giao Hoà (xã Giao Hoà - huyện Châu Thành): 1.9 ‰  ngày 09.

+ Tại Quới Sơn (Ấp 2, xã Quới Sơn - huyện Châu Thành): 0.6 ‰ ngày 09.

+ Tại Long Hòa (xã Long Hòa - huyện Bình Đại): 0.9 ‰ ngày 09 (sông Ba Lai).

Ø Trên sông Hàm Luông:

+ Tại An Thuận (cảng cá Tiệm Tôm – huyện Ba Tri): 16.4 ‰ ngày 09.

+ Tại Sơn Đốc (xã Hưng Lễ – huyện Giồng Trôm): 6.3 ‰ ngày 09.

+ Tại Phú Khánh (xã Phú Khánh – huyện Thạnh Phú): 4.3 ‰ ngày 09 (trong kênh).

+ Tại Vàm Cái Quao (xã Bình Khánh Đông – huyện Mõ Cày Nam): 4.0 ‰ ngày 09.

+ Tại Vàm Thủ Cửu (xã Phước Long – huyện Giồng Trôm): 2.2 ‰ ngày 09.

+ Tại Vàm Nước Trong (xã Tân Thành Bình – huyện Mõ Cày Bắc): 1.3 ‰ ngày 09-10.

+ Tại Mỹ Hóa (phường 07 – Tp. Bến Tre): 0.9 ‰  ngày 09.

+ Tại Thanh Tân (Ấp Thanh Xuân 1, xã Thanh Tân – huyện Mõ Cày Bắc): 0.2 ‰ ngày 09-10.

+ Tại An Hiệp (xã An Hiệp - huyện Châu Thành): 0.1 ‰.

+ Tại Vàm Mơn (xã Phú Sơn – huyện Chợ Lách): 0.1 ‰.

Ø Trên sông Cổ Chiên:

+ Tại Bến Trại (xã An Thuận – huyện Thạnh Phú): 17.0 ‰ ngày 15.

+ Tại Hương Mỹ (xã Hương Mỹ – huyện Mõ Cày Nam): 3.2 ‰  ngày 15.

+ Tại Cẩm Sơn (xã Cẩm Sơn – huyện Mõ Cày Nam): 0.7 ‰ ngày 15.

+ Tại Vàm Thom (xã Thành Thới B – huyện Mõ Cày Nam): 0.3 ‰ ngày 11.

+ Tại Nhuận Phú Tân (xã Nhuận Phú Tân - huyện Mõ Cày Bắc): 0.1 ‰.

Độ mặn 4 ‰ trên các sông chính đã xâm nhập đến:

- Sông Cửa Đại: xã Phú Thuận (huyện Bình Đại), (cách cửa sông khoảng 32 - 34km).

- Sông Hàm Luông: xã Thạnh Phú Đông (huyện Giồng Trôm) – xã Bình Khánh Đông (huyện Mõ Cày Nam), (cách cửa sông khoảng 32-34km).

- Sông Cổ Chiên: xã Hương Mỹ (huyện Mõ Cày Nam), (cách cửa sông khoảng 28 - 30km).

Độ mặn 1 ‰ trên các sông chính đã xâm nhập đến:

- Sông Cửa Đại: xã Quới Sơn (huyện Châu Thành), (cách cửa sông khoảng 44 - 46km).

- Sông Hàm Luông: xã Mỹ Thạnh An – Phường 07 (Tp. Bến Tre) – (Ấp Thanh Sơn 1) xã Thanh Tân (huyện Mõ Cày Bắc), (cách cửa sông khoảng 46 - 48km).

- Sông Cổ Chiên: xã Cẩm Sơn (huyện Mõ Cày Nam), (cách cửa sông khoảng 36 - 38km).

II / DỰ BÁO TÌNH HÌNH XÂM NHẬP MẶN TỪ NGÀY 16 ĐẾN NGÀY 23/04/2019) (TUẦN 16/2019):

Diễn biến xâm nhập mặn cao nhất hàng ngày có xu thế tăng dần từ ngày 16 đến ngày 20, sau đó ít biến đổi.

Độ mặn xâm nhập sâu nhất xuất hiện trong các ngày 19-23 ở mức sâu hơn so với tuần qua. Độ mặn xâm nhập sâu trên các sông ở mức xấp xỉ và thấp hơn năm 2015, năm 2018 cùng thời kỳ.

Ø Trên sông Cửa Đại:

+ Tại Bình Đại (cảng cá Bình Đại - huyện Bình Đại): Smax từ  20.0 ‰ đến 23.0 ‰.

+ Tại Lộc Thuận (xã Lộc Thuận - huyện Bình Đại): Smax từ  10.0 ‰ đến 13.0 ‰.

+ Tại Giao Hoà (xã Giao Hoà - huyện Châu Thành): Smax từ  4.0 ‰ đến 6.0 ‰.

+ Tại Quới Sơn (Ấp 2, xã Quới Sơn - huyện Châu Thành): Smax từ  0.5 ‰ đến 1.5 ‰.

+ Tại Long Hòa (xã Long Hòa - huyện Bình Đại): Smax từ  1.5 ‰ đến 3.0 ‰.

Ø Trên sông Hàm Luông:

+ Tại An Thuận (Tiệm Tôm – huyện Ba Tri): Smax từ 19.0 ‰ đến 22.0 ‰.

+ Tại Sơn Đốc (xã Hưng Lễ - huyện Giồng Trôm): Smax từ 8.0 ‰ đến 11.0 ‰.

+ Tại Phú Khánh (xã Phú Khánh – huyện Thạnh Phú): Smax từ 6.0 ‰ đến 9.0 ‰ (trong kênh).

+ Tại Vàm Cái Quao (xã Bình Khánh Đông – huyện Mõ Cày Nam): Smax từ 6.0 ‰ đến 9.0 ‰.

+ Tại Vàm Thủ Cửu (xã Phước Long – huyện Giồng Trôm): Smax từ 4.0 ‰ đến 6.0 ‰.

+ Tại Vàm Nước Trong (xã Tân Thành Bình – huyện Mõ Cày Bắc): Smax từ 2.0 ‰ đến 4.0 ‰.

+ Tại Mỹ Hoá (phường 07 – Tp. Bến Tre): Smax từ 1.5 ‰ đến 3.0 ‰.

+ Tại Thanh Tân (Ấp Thanh Xuân 1, xã Thanh Tân – huyện Mõ Cày Bắc): Smax từ 0.5 ‰ đến 1.5 ‰.

+ Tại An Hiệp (xã An Hiệp - huyện Châu Thành): Smax từ 0.5 ‰ đến 1.5 ‰.

+ Tại Vàm Mơn (xã Phú Sơn – huyện Chợ Lách): 0.2 ‰.

Ø Trên sông Cổ Chiên:

+ Tại Bến Trại (xã An Thuận – huyện Thạnh Phú): Smax từ  20.0 ‰ đến 23.0 ‰.

+ Tại Hương Mỹ (xã Hương Mỹ - huyện Mõ Cày Nam): Smax từ  6.0 ‰ đến 9.0 ‰.

+ Tại Cẩm Sơn (xã Cẩm Sơn – huyện Mõ Cày Nam): Smax từ  3.5 ‰ đến 5.5 ‰.

+ Tại Vàm Thom (xã Thành Thới B – huyện Mõ Cày Nam): Smax từ 1.5 ‰ đến 3.0 ‰.

+ Tại Nhuận Phú Tân (xã Nhuận Phú Tân - huyện Mõ Cày Bắc): Smax từ 0.2 ‰ đến 1.0 ‰.

Độ mặn 4 ‰ trên các sông chính có khả năng xâm nhập đến:

- Sông Cửa Đại: xã Giao Hòa – Giao Long (huyện Bình Đại), (cách cửa sông khoảng 40 - 42km).

- Sông Hàm Luông: Sơn Phú (huyện Giồng Trôm) – xã Định Thủy (huyện Mõ Cày Nam), (cách cửa sông khoảng 40-42km).

- Sông Cổ Chiên: xã Cẩm Sơn – Thành Thới A (huyện Mõ Cày Nam), (cách cửa sông khoảng 37 - 39km).

Độ mặn 1 ‰ trên các sông chính có khả năng xâm nhập đến:

- Sông Cửa Đại: xã Quới Sơn – An Khánh (huyện Châu Thành), (cách cửa sông khoảng 48 - 50km).

- Sông Hàm Luông: xã Sơn hòa, An Hiệp (huyện Châu Thành) – (Ấp Thanh Xuân 2) xã Thanh Tân (huyện Mõ Cày Bắc), (cách cửa sông khoảng 54 - 56km).

- Sông Cổ Chiên: xã Nhuận Phú Tân (huyện Mõ Cày Bắc), (cách cửa sông khoảng 52 - 54km).

* Cấp độ rủi ro thiên tai do xâm nhập mặn trong tuần này: cấp độ 1.

Ban tin man 16-4(Tuan 15_2019).png

Ban tin man 16-4(Tuan 15_2019).png

19/04/2019 3:00 CHĐã ban hành
1 - 30Next
Ảnh
Video
SỞ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG TỈNH BẾN TRE
Chịu trách nh​iệm chính: Ông Nguyễn Văn Chinh - Chức vụ: Giám đốc Sở TN và MT | Giấy phép số: 139/GP - BC, ngày 16 tháng 4 năm 2007
Địa chỉ trụ sở: Số 01 - Trần Quốc Tuấn - Phường 2 - Thành phố Bến Tre - Tỉnh Bến Tre
Điện thoại: 0275.3822210 - 0275.3211494 - Fax: 0275.3813176; Email: stnmt@bentre.gov.vn