Bỏ qua Lệnh Ruy-băng
Bỏ qua nội dung chính

Skip Navigation LinksTin tức sự kiện

 
Tin tức sự kiện - Đo đạc và bản đồ
 
Sở Tài nguyên và Môi trường đã hoàn chỉnh Dự thảo Quyết định sửa đổi, bổ sung một số quy định của Quyết định số 38/2018/QĐ-UBND ngày 04 tháng 9 năm 2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việcQuy định diện tích tối thiểuđược tách thửa đối với các loại đất trên địa bàn tỉnh Bến Tre 
 
Công văn 2501 /STNMT - ĐĐBĐ&VT về việc triển khai thực hiện Quyết định số 38/2018/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh 
 
Góp ý Dự thảo Quyết định quy định diện tích tối thiểu được tách thửa đối với các loại đất trên địa bàn tỉnh Bến Tre thay thế Quyết định 59/2017/QĐ-UBND 
 
Góp ý Dự thảo quyết định về việc Quy định diện tích tối thiểu được tách thửa đối với các loại đất trên địa bàn tỉnh Bến Tre 
 
Ngày 22 tháng 12 năm 2017, Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành Thông tư số 63/2017/TT-BTNMT Quy định kỹ thuật đo vẽ bản đồ địa hình đáy biển tỷ lệ 1:5.000 
 
Ngày 07 tháng 11 năm 2017, UBND tỉnh Bến Tre ban hành Quyết định số 59/2017/QĐ-UBND về việc Quy định diện tích tối thiểu được tách thửa đối với các loại đất trên địa bàn tỉnh Bến Tre 
Thông tư số 14/2017/TT-BTNMT quy định về Định mức kinh tế - kỹ thuật đo đạc lập bản đồ địa chính, đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất, lập hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất 
 
“Đơn giá đo đạc lập bản đồ địa chính, lập hồ sơ địa chính, đăng ký cấp giấy chứng nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và quy định các khoản phí và lệ phí trong lĩnh vực đất đai trên địa bàn tỉnh Bến Tre”  
 
 
Ủy ban nhân dân tỉnh Bến tre ban hành Bộ đơn giá về Đo đạc lập bản đồ địa chính, đăng ký đất đai và tài sản gắn liền với đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và lập hồ sơ địa chính tại các xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Bến Tre. Ngày 27 tháng 12 năm 2013 Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Thông tư số 50/2014/TT-BTNMT Ban hành Định mức kinh tế - kỹ thuật đo đạc địa chính, đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất, lập hồ sơ địa chính, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.  
Ngày 16/10/2013, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bến Tre đã tổ chức hội thảo góp ý dự thảo hướng dẫn công tác đo đạc dịch vụ địa chính trên địa bàn tỉnh Bến Tre. Hội thảo do ông Trần Quang Minh - Phó giám đốc sở chủ trì cùng với sự tham gia của Chi cục quản lý đất đai, Ban quản lý dự án VLAP, Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất Bến Tre, Phòng Tài nguyên – Môi trường, Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất các huyện, thành phố và các đơn vị đo đạc tư nhân trên địa bàn tỉnh. 
 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
Góp ý Dự thảo Quyết định về Đơn giá dịch vụ đo đạc và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn tỉnh Bến TreGóp ý Dự thảo Quyết định về Đơn giá dịch vụ đo đạc và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn tỉnh Bến Tre
Góp ý Dự thảo Quyết định về Đơn giá dịch vụ đo đạc và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn tỉnh Bến Tre

Sở Tài nguyên và Môi trường dự thảo Quyết định về việc ban hành đơn giá dịch vụ đo đạc trên địa bàn tỉnh Bến Tre và Quyết định về việc quy định đơn giá dịch vụ đăng ký đất đai, tài sản  gắn liền với đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất trên địa bàn tỉnh Bến Tre

Để hoàn thiện dự thảo, Sở Tài nguyên và Môi trường đề nghị Quý cơ quan đóng góp ý kiến cho dự thảo. Văn bản phúc đáp xin gửi về Sở Tài nguyên và Môi trường (địa chỉ số 1, đường Trần Quốc Tuấn, phường 2, thành phố Bến Tre) và file số xin gửi về hộp thư điện tử tthien.stnmt@bentre.gov.vn trước ngày 20 tháng 10 năm 2019.

Tải nội dung: 3071_2019_STNMT_DDBD_VT.7z

17/10/2019 4:00 CHĐã ban hành
Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Từ 21/11/2019 đến 28/11/2019)Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Từ 21/11/2019 đến 28/11/2019)
Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Từ 21/11/2019 đến 28/11/2019)
29/11/2019 10:00 SAĐã ban hành
Thông báo về việc tư vấn gói thầu: Lập hồ sơ mời thầu và đánh giá hồ sơ dự thầu thuộc dự án Thăm dò đánh giá trữ lượng 05 khu vực mỏ cát lòng sông trên địa bàn tỉnh Bến TreThông báo về việc tư vấn gói thầu: Lập hồ sơ mời thầu và đánh giá hồ sơ dự thầu thuộc dự án Thăm dò đánh giá trữ lượng 05 khu vực mỏ cát lòng sông trên địa bàn tỉnh Bến Tre
Thông báo về việc tư vấn gói thầu: Lập hồ sơ mời thầu và đánh giá hồ sơ dự thầu thuộc dự án Thăm dò đánh giá trữ lượng 05 khu vực mỏ cát lòng sông trên địa bàn tỉnh Bến Tre

​         Sở Tài nguyên và Môi trường Bến Tre thông báo đến Quý cơ quan, đơn vị có quan tâm để thực hiện gói thầu lập hồ sơ mời thầu và đánh giá hồ sơ dự thầu dự án "Thăm dò đánh giá trữ lượng 05 khu vực mỏ cát lòng sông trên sông địa bàn tỉnh Bến Tre".

         Nơi nhận hồ sơ: Sở Tài nguyên và Môi trường (Số 01, Trần Quốc Tuấn, phường 2, Thành phố Bến Tre. Điện thoại: 02753 822 210)

        Thời gian nhận hồ sơ: đến hết ngày 28 tháng 4 năm 2018 trong giờ hành chính.


Tải nội dung: 959_2018_TB_STNMT.7z

26/04/2018 2:00 CHĐã ban hành
Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Tháng 5 năm 2020Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Tháng 5 năm 2020
Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Tháng 5 năm 2020

Tải danh sách: danh_sach_huy_gcn_Thang5_2020.zip

01/06/2020 10:00 SAĐã ban hành
Thông báo mời thầu - Gói thầu: Thăm dò đánh giá trữ lượng 05 khu vực mỏ cát lòng sông trên địa bàn tỉnh Bến TreThông báo mời thầu - Gói thầu: Thăm dò đánh giá trữ lượng 05 khu vực mỏ cát lòng sông trên địa bàn tỉnh Bến Tre
Ngày 15 tháng 6 năm 2018, Sở Tài nguyên và Môi trường ban hành thông báo số 1549/TB-STNMT Thông báo mời thầu - Gói thầu: Thăm dò đánh giá trữ lượng 05 khu vực mỏ cát lòng sông trên địa bàn tỉnh Bến Tre

​Tên bên mời thầu: Sở Tài nguyên và Môi trường Bến Tre

Tên gói thầu: Thăm dò đánh giá trữ lượng 05 khu vực mỏ cát lòng sông trên địa bàn tỉnh Bến Tre

Thời gian phát hành Hồ sơ mời thầu (HSMT): từ 08 giờ, ngày 18 tháng 6 năm 2018 đến trước 08 giờ, ngày 03 tháng 7 năm 2018 (trong giờ hành chính).

Địa điểm phát hành HSMT: Phòng Kế hoạch tài chính - Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bến Tre.

- Địa chỉ: số 01 Trần Quốc Tuấn, Phường 2, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

Tải nội dung: 1549_2018_TB_STNMT.pdf


18/06/2018 8:00 SAĐã ban hành
Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Từ ngày 02/5/2020 đến ngày 08/5/2020)Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Từ ngày 02/5/2020 đến ngày 08/5/2020)
Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Từ ngày 02/5/2020 đến ngày 08/5/2020)
11/05/2020 9:00 SAĐã ban hành
NGHỊ ĐỊNH 84 VỀ ĐẤT ĐAI_ Bài 4 : Những quy định mới về thu hồi đất và bồi thường hỗ trợ về đất khi Nhà nước thu hồi đất (Tiếp theo)NGHỊ ĐỊNH 84 VỀ ĐẤT ĐAI_ Bài 4 : Những quy định mới về thu hồi đất và bồi thường hỗ trợ về đất khi Nhà nước thu hồi đất (Tiếp theo)
Chuyên mục Tài nguyên và Môi trường kỳ này xin giới thiệu tiếp những quy định mới về thu hồi đất và bồi thường hỗ trợ về đất khi Nhà nước thu hồi đất được quy định trong Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ.



ĐỐI VỚI ĐẤT ĐƯỢC GIAO KHÔNG ĐÚNG THẨM QUYỀN TRƯỚC NGÀY 01/7/2004 NHƯNG ĐÃ NỘP TIỀN ĐỂ ĐƯỢC SỬ DỤNG ĐẤT MÀ CHƯA ĐƯỢC CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN

Đất được giao không đúng thẩm quyền trước ngày 01/7/2004 nhưng người đang sử dụng đất đã nộp tiền để được sử dụng đất mà chưa được cấp Giấy chứng nhận thì việc bồi thường, hỗ trợ về đất được thực hiện theo quy định sau:
Trường hợp sử dụng đất trước ngày 15/10/1993 thì người đang sử dụng đất được bồi thường về đất đối với diện tích và loại đất được giao.
Trường hợp sử dụng đất trong khoảng thời gian từ ngày 15/10/1993 đến trước ngày 01/7/2004 thì người đang sử dụng đất được bồi thường, hỗ trợ về đất như sau:
- Được bồi thường, hỗ trợ về đất đối với diện tích đất được giao là đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp không phải là đất ở; đối với diện tích đất ở trong hạn mức giao đất quy định.
- Được bồi thường về đất đối với diện tích đất được giao là đất ở ngoài hạn mức giao đất quy định nhưng phải trừ đi tiền sử dụng đất phải nộp theo mức thu quy định.

KHI DIỆN TÍCH ĐO ĐẠC THỨC TẾ KHÁC VỚI DIỆN TÍCH GHI TRÊN GIẤY TỜ

Trường hợp thu hồi đất mà diện tích đo đạc thực tế khác với diện tích ghi trên giấy tờ về quyền sử dụng đất thì được bồi thường theo quy định sau:
Nếu diện tích đo đạc thực tế nhỏ hơn diện tích ghi trên giấy tờ về quyền sử dụng đất thì bồi thường theo diện tích đo đạc thực tế.
Nếu diện tích đo đạc thực tế nhiều hơn diện tích ghi trên giấy tờ về quyền sử dụng đất do việc đo đạc trước đây thiếu chính xác hoặc do khi kê khai đăng ký trước đây người sử dụng đất không kê khai hết diện tích nhưng toàn bộ ranh giới thửa đất đã được xác định, không có tranh chấp với những người sử dụng đất liền kề, không do lấn, chiếm thì bồi thường theo diện tích đo đạc thực tế.
Nếu diện tích đất đo đạc thực tế nhiều hơn diện tích ghi trên giấy tờ về quyền sử dụng đất, được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận diện tích nhiều hơn là do khai hoang hoặc nhận chuyển quyền của người sử dụng đất trước đó, đất đã sử dụng ổn định và không có tranh chấp thì được bồi thường theo diện tích đo đạc thực tế.
Không bồi thường về đất đối với phần diện tích đất nhiều hơn diện tích đất ghi trên giấy tờ về quyền sử dụng đất mà diện tích đất nhiều hơn là do hành vi lấn, chiếm mà có.

BỒI THƯỜNG BẰNG ĐẤT Ở KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP

Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp bị thu hồi trên 30% diện tích đất nông nghiệp trong trường hợp không được Nhà nước bồi thường bằng đất nông nghiệp tương ứng mà không có nguyện vọng nhận bồi thường bằng đất làm mặt bằng sản xuất hoặc kinh doanh dịch vụ phi nông nghiệp thì được bồi thường bằng giao đất ở có thu tiền sử dụng đất tại khu tái định cư hoặc tại vị trí trong khu dân cư phù hợp với quy hoạch. Mức đất được giao do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào khả năng quỹ đất và mức đất bị thu hồi của từng hộ gia đình, cá nhân để quy định. Giá đất ở được giao bằng giá loại đất nông nghiệp tương ứng đã thu hồi cộng với chi phí đầu tư hạ tầng khu dân cư nhưng không cao hơn giá đất ở có điều kiện tương ứng tại thời điểm thu hồi đất đã được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định và công bố.

CÔNG BỐ CHỦ TRƯƠNG THU HỒI ĐẤT

Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi có đất bị thu hồi có trách nhiệm chỉ đạo phổ biến rộng rãi chủ trương thu hồi đất, các quy định về thu hồi đất, về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi thu hồi đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và phát triển kinh tế; Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất bị thu hồi có trách nhiệm niêm yết công khai chủ trương thu hồi đất tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã và tại các điểm sinh hoạt khu dân cư nơi có đất bị thu hồi, thông báo rộng rãi trên hệ thống đài truyền thanh cấp xã (ở những nơi có hệ thống truyền thanh).
Sau khi phương án tổng thể được xét duyệt, Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng có trách nhiệm thông báo cho người đang sử dụng đất biết lý do thu hồi đất; dự kiến về mức bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; biện pháp chuyển đổi ngành nghề, giải quyết việc làm; thời gian di chuyển và bàn giao đất bị thu hồi được nêu trong phương án tổng thể.
Người sử dụng đất có quyền căn cứ vào quy định của pháp luật để nhận xét, đề đạt hoặc yêu cầu Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng giải thích về những nội dung đã được thông báo.

ĐƯỢC QUYỀN KHIẾU NẠI NHƯNG VẪN THỰC HIỆN QUYẾT ĐỊNH THU HỒI ĐẤT

Khi không đồng ý với nội dung quyết định thu hồi đất, người có đất bị thu hồi đất có quyền khiếu nại. Tuy nhiên, trong khi chưa có quyết định giải quyết khiếu nại thì vẫn phải tiếp tục thực hiện quyết định thu hồi đất. Trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết khiếu nại có kết luận việc thu hồi đất là trái pháp luật thì phải dừng thực hiện quyết định thu hồi đất; cơ quan nhà nước đã ban hành quyết định thu hồi đất phải có quyết định hủy bỏ quyết định thu hồi đất đã ban hành và bồi thường thiệt hại do quyết định thu hồi đất gây ra (nếu có). Trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết khiếu nại có kết luận việc thu hồi đất là đúng pháp luật thì người có đất bị thu hồi phải chấp hành quyết định thu hồi đất.

CÔNG KHAI PHƯƠNG ÁN BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ TÁI ĐỊNH CƯ

Trong thời hạn không quá ba (03) ngày, kể từ ngày nhận được phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã được phê duyệt, Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã phổ biến và niêm yết công khai quyết định phê duyệt phương án bồi thường tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã và địa điểm sinh hoạt khu dân cư nơi có đất bị thu hồi; gửi quyết định bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho người có đất bị thu hồi, trong đó nêu rõ về mức bồi thường, hỗ trợ, về bố trí nhà hoặc đất tái định cư (nếu có), thời gian, địa điểm chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ và thời gian bàn giao đất đã bị thu hồi cho Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng.

THỰC HIỆN CHI TRẢ TIỀN TIỀN BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ TÁI ĐỊNH CƯ

Sau năm (05) ngày, kể từ ngày gửi văn bản thông báo về phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đến người có đất bị thu hồi, Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng thực hiện việc chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ. Trường hợp người được bồi thường, hỗ trợ ủy quyền cho người khác nhận thay thì người được bồi thường, hỗ trợ phải làm giấy ủy quyền theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bố trí tái định cư thì Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng có trách nhiệm bàn giao nhà ở hoặc đất ở và giấy chứng nhận về quyền sử dụng đất ở, quyền sở hữu nhà ở cho người được bố trí tái định cư trước khi giải phóng mặt bằng. Trong trường hợp có thoả thuận giữa Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng và người được bố trí tái định cư về việc nhận nhà ở, đất ở tái định cư sau khi giải phóng mặt bằng thì thực hiện theo văn bản thoả thuận có chữ ký của cả hai bên.
Trường hợp người bị thu hồi đất không nhận tiền chi trả về bồi thường, hỗ trợ, không nhận nhà hoặc đất tái định cư thì Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng chuyển khoản tiền chi trả vào tài khoản riêng mở tại Ngân hàng và giữ nguyên nhà hoặc đất tái định cư để làm căn cứ cho việc giải quyết khiếu nại sau này (nếu có).

THỜI ĐIỂM BÀN GIAO ĐẤT ĐÃ BỊ THU HỒI

Trong thời hạn hai mươi (20) ngày, kể từ ngày Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng thanh toán xong tiền bồi thường, hỗ trợ cho người bị thu hồi đất theo phương án đã được xét duyệt thì người có đất bị thu hồi phải bàn giao đất cho Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng.
Vĩnh Thịnh



22/11/2007 12:00 SAĐã ban hành
ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ CƠ QUAN SỞ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG BẾN TRE LẦN THỨ XI - NHIỆM KỲ 2007-2010ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ CƠ QUAN SỞ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG BẾN TRE LẦN THỨ XI - NHIỆM KỲ 2007-2010
Ngày 14/11/2007, tại Sở Tài nguyên và Môi trường Bến Tre đã diễn ra Đại hội Đại biểu Công đoàn cơ sở cơ quan Sở Tài nguyên và Môi trường nhiệm kỳ 2007-2010. Tham dự đại hội có ông Nguyễn Văn Kiên - Ủy viên Thường vụ LĐLĐ tỉnh, Chủ tịch Công đoàn Viên chức tỉnh; ông Phan Tuấn Thanh - Phó Bí thư Đảng ủy Sở; ông Trương Duy Hải - Giám đốc Sở cùng 62 đại biểu đại diện cho 169 công đoàn viên Sở Tài nguyên và Môi trường.



Trong đại hội, các đại biểu đã nhất trí thông qua Báo cáo tổng kết hoạt động Công đoàn nhiệm kỳ 2005-2007 và Phương hướng hoạt động Công đoàn nhiệm kỳ tới. Về đánh giá hoạt động : Nhìn chung nhiệm kỳ qua hoạt động của công đòan cơ quan đã luôn phấn đấu hướng đến hoạt động có chất lượng, vì lợi ích của Công đoàn viên và đúng hướng chỉ đạo của Công đoàn Viên chức tỉnh, góp phần động viên thúc đẩy Đoàn viên Công đoàn hoàn thành nhiệm vụ được giao, tạo nên thành tích chung của cơ quan và ngành Tài nguyên và Môi trường. Nhiệm kỳ qua, Công đoàn cơ sở Sở Tài nguyên và Môi trường liên tục đạt danh hiệu Công đoàn cơ sở vững mạnh. Qua đó, Công đoàn cơ sở Sở Tài nguyên và Môi trường đề ra chương trình hoạt động trong nhiệm kỳ mới như sau:

- Tăng cường tổ chức các cuộc tuyên truyền, nhất là học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh để mỗi cán bộ, công chức thấy rõ được trách nhiệm của mình cũng như những thuận lợi, khó khăn của ngành trong giai đoạn hiện nay nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, lao động có trình độ chính trị, chuyên môn nghiệp vụ vững vàng phấn đấu vì sự phát triển của ngành;

- Nâng cao trách nhiệm của tổ chức Công đoàn trong công tác tham gia xây dựng chính quyền và xây dựng Đảng;

- Chăm lo thiết thực đời sống vật chất và tinh thần của Đoàn viên trong điều kiện khả năng của cơ quan;

- Xây dựng Công đoàn cơ sở vững mạnh.

Đại hội cũng đã bầu ra Ban chấp hành Công đoàn nhiệm kỳ 2007-2010 gồm 9 đồng chí là những cán bộ có tâm huyết và năng lực trong công tác đòan thể và bầu 4 đại biểu chính thức đi dự Hội nghị Công đoàn Viên chức tỉnh Bến Tre. Đặc biệt, ông Trần Quang Minh - Chánh Văn phòng Sở, được đại hội tín nhiệm tiếp tục tái đắc cử Chủ tịch Công đoàn cơ sở Sở Tài nguyên và Môi trường nhiệm kỳ 2007-2010.

Văn Phong



22/11/2007 12:00 SAĐã ban hành
Góp ý Dự thảo Quyết định quy định diện tích tối thiểu được tách thửa đối với các loại đất trên địa bàn tỉnh Bến Tre thay thế Quyết định 59/2017/QĐ-UBNDGóp ý Dự thảo Quyết định quy định diện tích tối thiểu được tách thửa đối với các loại đất trên địa bàn tỉnh Bến Tre thay thế Quyết định 59/2017/QĐ-UBND
Góp ý Dự thảo Quyết định quy định diện tích tối thiểu được tách thửa đối với các loại đất trên địa bàn tỉnh Bến Tre thay thế Quyết định 59/2017/QĐ-UBND

​       Để thống nhất ý kiến trước khi trình Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét, ký ban hành Quyết định, Sở Tài nguyên và Môi trường gửi các Sở, Ngành, Tòa án nhân dân tỉnh, Cục Thi hành án tỉnh, Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố góp ý Dự thảo Quyết định.

        Ý kiến góp ý của các đơn vị gửi bằng văn bản về Sở Tài nguyên và Môi trường (File số gửi về địa chỉ tthien.stnmt@bentre.gov.vn) trước ngày 25 tháng 5 năm 2018 để Sở tổng hợp.

Tải nội dung: 1171_STNMT_DDBD_VT_2018.7z

 

21/05/2018 3:00 CHĐã ban hành
Những quy định mới về trình tự giải quyết khiếu nại về đất đaiNhững quy định mới về trình tự giải quyết khiếu nại về đất đai
Quyền khiếu nại là một trong những quyền cơ bản của công dân trong một xã hội mà Nhà nước quản lý bằng pháp luật (Nhà nước pháp quyền). Khiếu nại là việc công dân đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình.



Trong các lĩnh vực thuộc đời sống xã hội giai đoạn hiện nay, có thể nói quản lý đất đai là một trong những lĩnh vực có số vụ khiếu kiện nhiều nhất. Khiếu nại đúng nơi và giải quyết khiếu nại đúng quy định sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý xã hội của bộ máy Nhà nước, ổn định tình hình trật tự của địa phương và tạo niềm tin của nhân dân.
Đến cuối tháng 11/2007 số đơn khiếu nại gửi đến UBND tỉnh Bến Tre là 890 đơn. Trong đó, khiếu nại liên quan đến đất đai là 537đơn (chiếm 60,34%), khiếu nại ở các lĩnh vực khác chiếm chưa đến 40%. Tuy nhiên một vấn đề đáng quan tâm là, trong số 537 đơn khiếu nại liên quan đến đất đai, qua rà soát chỉ có 128 đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của cấp tỉnh (23,8%), số đơn còn lại 409 (76,2%) thuộc thẩm quyền giải quyết của UBND cấp huyện và cấp xã. Điều đó cho thấy có một số lượng lớn đơn khiếu nại vượt cấp và không đúng thẩm quyền, kéo theo hệ quả là có một số lượng lớn người đi lên tỉnh gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự địa phương, ảnh hưởng hoạt động bình thường của các cơ quan cấp tỉnh và ảnh hưởng đến lao động sản xuất của chính những người đi khiếu nại. Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên có thể một phần là do công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật về đất đai chưa đạt được hiệu quả, người dân chưa nắm được các quy định về khiếu nại trong lĩnh vực đất đai.
Nhằm giúp bạn đọc nắm được vấn đề khiếu nại và giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực đất đai, chúng tôi xin tổng hợp và giới thiệu các quy định đang có hiệu lực thi hành từ Luật Khiếu nại tố cáo, Luật Đất đai 2003 và các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai… như sau:

CÁC QUYẾT ĐỊNH HÀNH CHÍNH HOẶC HÀNH VI HÀNH CHÍNH BỊ KHIẾU NẠI ĐÓ LÀ:

Quyết định hành chính bao gồm: quyết định giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, trưng dụng đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất; quyết định bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng, tái định cư; quyết định cấp hoặc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; quyết định gia hạn thời hạn sử dụng đất.
Hành vi hành chính trong quản lý đất đai bị khiếu nại là hành vi của cán bộ, công chức nhà nước khi giải quyết những công việc nêu trên.

TRÌNH TỰ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI ĐỐI VỚI QUYẾT ĐỊNH HÀNH CHÍNH, HÀNH VI HÀNH CHÍNH CỦA CHỦ TỊCH ỦY BAN NHÂN CẤP HUYỆN

- Trong thời hạn không quá chín mươi (90) ngày, kể từ ngày Chủ tịch UBND cấp huyện có quyết định hành chính, hành vi hành chính trong quản lý đất đai mà người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không đồng ý với quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính đó thì có quyền nộp đơn khiếu nại đến UBND cấp huyện.
Chủ tịch UBND cấp huyện có trách nhiệm giải quyết khiếu nại theo thời hạn quy định của Luật Khiếu nại, tố cáo như sau : Thời gian thụ lý giải quyết trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được đơn khiếu nại; thời gian giải quyết lần đầu không quá 30 ngày, đối với những vụ việc phức tạp có thể kéo dài nhưng không quá 45 ngày, kể từ ngày thụ lý để giải quyết; ở những vùng sâu, vùng xa thì thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu không quá 45 ngày, đối với những vụ việc phức tạp có thể kéo dài nhưng không quá 60 ngày, kể từ ngày thụ lý để giải quyết.
Quyết định giải quyết của Chủ tịch UBND cấp huyện phải được công bố công khai và gửi cho người khiếu nại, người khác có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.
- Trong thời hạn không quá bốn mươi lăm (45) ngày, kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết của Chủ tịch UBND cấp huyện mà người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết đó thì có quyền khởi kiện ra Toà án nhân dân hoặc khiếu nại đến UBND cấp tỉnh.
Trường hợp khiếu nại đến UBND cấp tỉnh thì Chủ tịch UBND cấp tỉnh có trách nhiệm giải quyết khiếu nại theo thời hạn quy định của Luật Khiếu nại, tố cáo như sau : Thời gian thụ lý giải quyết trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được đơn khiếu nại; thời gian giải quyết lần hai không quá 45 ngày, đối với những vụ việc phức tạp có thể kéo dài nhưng không quá 60 ngày, kể từ ngày thụ lý để giải quyết; ở những vùng sâu, vùng xa thì thời hạn giải quyết khiếu nại lần hai không quá 60 ngày, đối với những vụ việc phức tạp có thể kéo dài nhưng không quá 70 ngày, kể từ ngày thụ lý để giải quyết.
Quyết định giải quyết khiếu nại của Chủ tịch UBND cấp tỉnh là quyết định giải quyết lần hai, phải được công bố công khai và gửi cho người khiếu nại, người khác có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.

TRÌNH TỰ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI ĐỐI VỚI QUYẾT ĐỊNH HÀNH CHÍNH, HÀNH VI HÀNH CHÍNH CỦA CHỦ TỊCH ỦY BAN NHÂN CẤP TỈNH

- Trong thời hạn không quá ba mươi (30) ngày, kể từ ngày Chủ tịch UBND cấp tỉnh có quyết định hành chính, hành vi hành chính trong quản lý đất đai mà người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không đồng ý với quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính đó thì có quyền nộp đơn khiếu nại đến UBND cấp tỉnh.
Chủ tịch UBND cấp tỉnh có trách nhiệm giải quyết khiếu nại theo thời hạn quy định của Luật Khiếu nại, tố cáo (lần đầu như nêu trên).
Quyết định giải quyết khiếu nại của Chủ tịch UBND cấp tỉnh phải được công bố công khai và gửi cho người khiếu nại, người khác có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.
- Trong thời hạn không quá bốn mươi lăm (45) ngày, kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết của Chủ tịch UBND cấp tỉnh mà người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết đó thì có quyền khởi kiện tại Toà án nhân dân.

ĐỐI VỚI CÁC TRƯỜNG HỢP KHIẾU NẠI KHÁC CÓ LIÊN QUAN ĐẾN QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI

Việc giải quyết khiếu nại đối với hành vi hành chính của cán bộ, công chức thuộc UBND xã, phường, thị trấn; hành vi hành chính của cán bộ, công chức thuộc Phòng Tài nguyên và Môi trường; hành vi hành chính của cán bộ, công chức thuộc Văn phòng UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; hành vi hành chính của cán bộ, công chức thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường, hành vi hành chính của cán bộ, công chức thuộc Văn phòng UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; quyết định hành chính của Sở Tài nguyên và Môi trường và quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lý đất đai của Chủ tịch UBND huyện, Chủ tịch UBND tỉnh không thuộc các trường hợp nêu trên được thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo./.

Vĩnh Thịnh




04/12/2007 12:00 SAĐã ban hành
Hội nghị triển khai thực hiện Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu khu vực miền Nam; Cơ hội, thách thức và hành động ứng phó của Bến TreHội nghị triển khai thực hiện Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu khu vực miền Nam; Cơ hội, thách thức và hành động ứng phó của Bến Tre
Ngày 18 tháng 8 năm 2017, tại Thành phố Hồ Chí Minh, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tổ chức Hội nghị tập huấn triển khai thực hiện Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu

           Ngày 18 tháng 8 năm 2017, tại Thành phố Hồ Chí Minh, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tổ chức Hội nghị tập huấn triển khai thực hiện Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu. Hội nghị do Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì cùng Đại diện Cục Biến đổi khí hậu, Viện Khí tượng thủy văn và Biến đổi khí hậu và Đại biểu tham dự đến từ các Sở Tài nguyên và Môi trường, Công thương, Kế hoạch và Đầu tư, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn của 19 tỉnh, thành phố khu vực miền Nam.

            Đại biểu tỉnh Bến Tre tham dự Hội nghị là các thành viên Tổ giúp việc cho Ban Chỉ đạo ứng phó biến đổi khí hậu tỉnh thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường, Công thương và Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

21.8-Paris_-_HCM_workshop_2017.png 

Hình: Ông Võ Văn Ngoan - Sở Tài nguyên và Môi trường chia sẻ kinh nghiệm ứng phó biến đổi khí hậu tỉnh Bến Tre (Ảnh: Duy Anh)

        Hội nghị đã phổ biến các thông tin liên quan đến kế hoạch thực hiện Thỏa thuận Paris của Việt Nam theo Quyết định 2053/QĐ-TTg ngày 28/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ; hướng dẫn xây dựng kế hoạch cấp tỉnh thực hiện Thỏa thuận Paris. Đồng thời, Hội nghị cung cấp các thông tin về kịch bản biến đổi khí hậu và tác động đến ĐBSCL; công tác quản lý Nhà nước về biến đổi khí hậu; gắn kết tăng trưởng xanh, giảm nhẹ rủi ro thiên tai với ứng phó biến đổi khí hậu để phát triển bền vững; và trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm ứng phó biến đổi khí hậu giữa các tỉnh, thành phố trong khu vực.

        Theo Cục Biến đổi khí hậu - Bộ Tài nguyên và Môi trường: trong khuôn khổ Thỏa thuận Paris, Việt Nam sẽ thực hiện "Đóng góp do quốc gia tự quyết" (NDC) đến năm 2030 với hai hợp phần chính: về giảm nhẹ cam kết giảm 8% tổng lượng phát thải khí nhà kính so với kịch bản phát thải thông thường và có thể tăng lên 25% khi nhận được sự hỗ trợ của quốc tế; về thích ứng sẽ tiếp tục thực hiện các chương trình, dự án thuộc Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu nhằm tăng khả năng chống chịu, bảo vệ cuộc sống và sinh kế nhân dân; Kế hoạch thực hiện Thỏa thuận Paris của Việt Nam thực hiện 05 mục tiêu cụ thể trong NDC: (1) Thực hiện cam kết giảm phát thải khí nhà kính; (2) Thực hiện cam kết thích ứng biến đổi khí hậu; (3) Chuẩn bị nguồn lực con người, công nghệ và tài chính; (4) Thiết lập hệ thống công khai, minh bạch nhằm giám sát, đánh giá các nội dung thực hiện của mục tiêu (1), (2) và (3); mục tiêu (5) là hoàn thiện thể chế, chính sách tạo môi trường thuận lợi và tập trung nỗ lực quốc gia cho ứng phó biến đổi khí hậu; Khung thời gian của Kế hoạch thực hiện Thỏa thuận Paris đến năm 2030, trong đó: giai đoạn 2016 - 2020 tiếp tục thực hiện các hoạt động ứng phó biến đổi khí hậu đã được phê duyệt, chuẩn bị về mặt thể chế chính sách, nguồn lực nhằm đến năm 2020 sẵn sàng thực hiện các nghĩa vụ do Thỏa thuận Paris quy định; giai đoạn 2021 - 2030 thực hiện các nội dung trong NDC và các nhiệm vụ mới theo quy định của thỏa thuận Paris.

            Bến Tre là một trong những tỉnh được nhận định chịu tác động mạnh của biến đổi khí hậu, tỉnh đã xây dựng Kế hoạch hành động ứng phó biến đổi khí hậu giai đoạn 2016 - 2020 và cụ thể các nhiệm vụ thực hiện thỏa thuận Paris cho giai đoạn 2017 - 2020 trên cơ sở Quyết định số 2053/QĐ-TTg ngày 28/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ. Theo đánh giá của Ban Chỉ đạo ứng phó biến đổi khí hậu (Báo cáo số 01/BC-BCĐBĐKH ngày 25/7/2017), sau thời gian thực hiện các nhiệm vụ ứng phó biến đổi khí hậu đến tháng 6/2017 tỉnh đã đạt những kết quả tích cực, nhưng vẫn tồn tại một số khó khăn, hạn chế và những thách thức, cơ hội trong thời gian tới, cụ thể như sau:

           Hạn chế, khó khăn: công tác ứng phó còn bị động, lúng túng; sự quan tâm chưa đúng mức của một số cán bộ, công chức, một bộ phận người dân chưa tích cực tham gia bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu; về nguồn nhân lực, tỉnh đã thành lập Tổ giúp việc cho Ban Chỉ đạo đều là cán bộ kiêm nhiệm.

          Cơ hội hỗ trợ, hợp tác quốc tế; ứng dụng công nghệ tiên tiến trong ứng phó biến đổi khí hậu: tỉnh đã và đang tranh thủ được tài trợ Quốc tế, hỗ trợ của Trung ương triển khai các công trình trọng điểm ứng phó biến đổi khí như Dự án Quản lý nước tỉnh Bến Tre (ứng dụng công nghệ Nhật trong quản lý nước và ứng phó hạn mặn); Xây dựng hệ thống quan trắc chất lượng nước và cảnh báo mặn tự động (Deltares Hà Lan tư vấn thực hiện); Cấp nước sinh hoạt Cù lao Minh trong điều kiện biến đổi khí hậu; Dự án Đê biển Thạnh Phú; Củng cố, nâng cấp đê biển huyện Bình Đại; Cân đối ngân sách tỉnh thực hiện dự án Hồ chứa nước ngọt Kênh lấp huyện Ba Tri; Và cơ hội phát triển điện năng lượng mặt trời, điện gió góp phần giảm phát thải khí nhà kính.

         Thách thức: các tác động của biến đổi khí hậu ngày càng bất thường và có xu hướng gia tăng về cường độ; nguy cơ xâm nhập mặn, khô hạn kéo dài, sạt lở ven biển, triều cường,…vẫn tiếp diễn, mặt khác các công trình trọng điểm ứng phó chưa hoàn thành, khép kín; thêm vào đó, khả năng thông tin, cảnh báo, dự báo mặn còn hạn chế và sự không ổn định của nước thượng nguồn sông Mekong gia tăng áp lực lên công tác ứng phó biến đổi khí hậu.

Huỳnh Lê Duy Anh - Phòng QLTN&KTTV


22/08/2017 8:00 SAĐã ban hành
Công bố đường mực nước triều cao trung bình nhiều năm trên địa bàn tỉnh Bến TreCông bố đường mực nước triều cao trung bình nhiều năm trên địa bàn tỉnh Bến Tre
Công bố đường mực nước triều cao trung bình nhiều năm trên địa bàn tỉnh Bến Tre

    Đường mực nước triều cao trung bình nhiều năm trên địa bàn tỉnh Bến Tre là tập hợp 223 điểm (111 điểm tính toán bổ sung trên cơ sở 112 điểm triều đặc trưng theo Quyết định 1790/QĐ-BTNMT ngày 06 tháng 6 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường) có độ cao địa hình trùng với giá trị mực nước triều cao trung bình nhiều năm.


Tải nội dung văn bản: 2584_QD_UBND_MucNuocTrieuTB_2019.zip

   

27/11/2019 9:00 SAĐã ban hành
Họp tổ giúp việc Ban chỉ đạo ứng phó biến đổi khí hậu tỉnh Bến TreHọp tổ giúp việc Ban chỉ đạo ứng phó biến đổi khí hậu tỉnh Bến Tre
Ngày 14 tháng 7 năm 2017, Sở Tài nguyên và Môi trường tổ chức cuộc họp các thành viên Tổ giúp việc cho Ban Chỉ đạo ứng phó biến đổi khí hậu tỉnh Bến Tre định kỳ 06 tháng (lần 01) năm 2017

      Ngày 14 tháng 7 năm 2017, Sở Tài nguyên và Môi trường tổ chức cuộc họp các thành viên Tổ giúp việc cho Ban Chỉ đạo ứng phó biến đổi khí hậu tỉnh Bến Tre định kỳ 06 tháng (lần 01) năm 2017 do Ông Nguyễn Văn Chinh (Phó trưởng Ban Chỉ đạo - Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường) chủ trì cùng với sự tham dự của 18 thành viên Tổ giúp việc là Lãnh đạo, chuyên viên thuộc các Sở.

19.7.HopToGiupViec_BCĐ-UPBĐKH.jpg

Hình: Họp Tổ giúp việc Ban Chỉ đạo ứng phó biến đổi khí hậu tỉnh Bến Tre

(Ảnh: Duy Anh)

     Tổ giúp việc được thành lập đồng thời với kiện toàn Ban Chỉ đạo theo Quyết định số 2903/QĐ-UBND ngày 30 tháng 11 năm 2016 của Ủy ban nhân dân tỉnh. Thành lập Tổ giúp việc làm đầu mối tại các cơ quan và tham mưu cho Ban Chỉ đạo là điểm mới trong bộ máy ứng phó biến đổi khí hậu của tỉnh so với giai đoạn 2010 - 2015. Tổ giúp việc tổ chức họp theo Quy chế hoạt động của Ban Chỉ đạo định kỳ 06 tháng nhằm tổng hợp, đánh giá tình hình thực hiện các nhiệm vụ ứng phó biến đổi khí hậu của tỉnh để kịp thời báo cáo, đề xuất Ban Chỉ đạo, Ủy ban nhân dân tỉnh giải quyết các khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện và kế hoạch cho giai đoạn tiếp theo.

          Bên cạnh các nội dung nêu trên, cuộc họp đã phổ biến các chủ trương, chính sách mới của Trung ương, tỉnh về biến đổi khí hậu như: Thông báo số 278/TB-VPCP ngày 22 tháng 6 năm 2017 của Văn phòng Chính phủ về kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại phiên họp lần thứ VIII Ủy ban quốc gia về biến đổi khí hậu; Quyết định số 2053/QĐ-TTg ngày 28 tháng 10 năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ ban hành kế hoạch thực hiện Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu của Việt Nam; tiếp tục quán triệt Chỉ thị 10-CT/TU ngày 19 tháng 5 năm 2016 của Tỉnh Ủy về nâng cao năng lực ứng phó biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường; phổ biến nhiệm vụ thực hiện Thỏa thuận Paris của tỉnh theo Công văn số 964/UBND-KT ngày 14 tháng 2 năm 2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh.

Duy Anh


19/07/2017 2:00 CHĐã ban hành
TRIỂN KHAI VĂN BẢN PHÁP LUẬT VỀ ĐẤT ĐAITRIỂN KHAI VĂN BẢN PHÁP LUẬT VỀ ĐẤT ĐAI
Ngày 11/10/2007, Sở Tài nguyên và Môi trường tổ chức Hội nghị triển khai các văn bản pháp luật về đất đai gồm Nghị định số 84/NĐ-CP...
Ngày 11/10/2007, Sở Tài nguyên và Môi trường tổ chức Hội nghị triển khai các văn bản pháp luật về đất đai gồm Nghị định số 84/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai; Thông tư số 06/TT-BTNMT ngày 02/7/2007 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn thực hiện Nghị định số 84/NĐ-CP; Thông tư số 08/2007/TT-BTNMT ngày 02/8/2007 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn thực hiện thống kê, kiểm kê đất đai và xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất; Thông tư số 09/2007/TT-BTNMT ngày 02/8/2007 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn lập, chỉnh lý và quản lý hồ sơ địa chính.

Thành phần tham dự Hội nghị gồm đại diện một số sở, ban, ngành tỉnh có liên quan, lãnh đạo UBND các huyện, thị; Phòng TNMT, Văn phòng ĐKQSD đất các huyện, thị và cán bộ chuyên môn thuộc lĩnh vực đất đai của Sở Tài nguyên và Môi trường. Mục đích của Hội nghị nhằm tổ chức thực hiện thống nhất các văn bản pháp luật về đất đai và giải quyết các vướng mắc trong thời gian qua trên địa bàn toàn tỉnh về công tác quản lý đất đai.
NX

19/10/2007 12:00 SAĐã ban hành
NGHỊ ĐỊNH 84 VỀ ĐẤT ĐAINGHỊ ĐỊNH 84 VỀ ĐẤT ĐAI
- Ngày 25/5/2007, Chính phủ ban hành Nghị định 84 bổ sung một số quy định về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi



Bài 1 : Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Sổ đỏ)

- Ngày 25/5/2007, Chính phủ ban hành Nghị định 84 bổ sung một số quy định về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai. Đây là văn bản quan trọng điều chỉnh các mối quan hệ pháp luật về đất đai. Chuyên mục Tài nguyên và Môi trường kỳ này xin giới thiệu phần cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất :

Cấp Giấy chứng nhận đối với đất sản xuất nông nghiệp.

Trường hợp đã thực hiện xong phương án cuối cùng của việc "dồn điền, đổi thửa" đối với đất sản xuất nông nghiệp thì UBND cấp huyện thực hiện việc thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp trước đây cho nhiều thửa đất và cấp mới Giấy chứng nhận cho từng thửa đất.

Trường hợp những nơi chưa thực hiện xong phương án cuối cùng của việc "dồn điền, đổi thửa" đối với đất sản xuất nông nghiệp, nếu hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có yêu cầu thì UBND cấp huyện cấp chung một Giấy chứng nhận cho các thửa đất thuộc quyền sử dụng của cùng hộ gia đình, cá nhân đó; sau khi thực hiện xong phương án cuối cùng của việc "dồn điền, đổi thửa" thì việc cấp Giấy chứng nhận thực hiện theo quy định như trên.

Cấp Giấy chứng nhận trong trường hợp sử dụng đất nông nghiệp để xây dựng trang trại tại khu vực nông thôn.

Khi được cấp Giấy chứng nhận cho đất trang trại tại khu vực nông thôn thì người sử dụng đất trang trại không phải nộp tiền sử dụng đất cho việc chuyển mục đích sử dụng từ đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối sang đất nông nghiệp khác trong các trường hợp sau đây:

Xây dựng nhà kính và các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt, kể cả các hình thức trồng trọt không trực tiếp trên đất;

Xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm và các loại động vật khác được pháp luật cho phép;

Xây dựng cơ sở ươm tạo cây giống, con giống;

Xây dựng kho chứa nông sản, thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, máy móc, công cụ sản xuất nông nghiệp phục vụ tại chỗ cho trang trại.

Cấp Giấy chứng nhận đối với trường hợp đã chuyển quyền sử dụng đất nhưng chưa thực hiện thủ tục chuyển quyền theo quy định:

Trường hợp người đang sử dụng đất do nhận chuyển nhượng, nhận thừa kế, nhận tặng cho quyền sử dụng đất hoặc nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở (sau đây gọi là người nhận chuyển quyền) trước ngày 01/7/2004 mà chưa được cấp Giấy chứng nhận nhưng có giấy tờ về việc chuyển quyền sử dụng đất có chữ ký của bên chuyển quyền (không có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền) thì không phải thực hiện thủ tục chuyển quyền sử dụng đất, người nhận chuyển quyền nộp hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận.

Trường hợp chuyển quyền sử dụng đất, nhà ở gắn liền với đất ở mà các bên đã lập xong hợp đồng, giấy tờ về chuyển quyền nhưng người chuyển quyền sử dụng đất không nộp Giấy chứng nhận hoặc một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất để làm thủ tục chuyển quyền thì thực hiện như sau:

Người nhận chuyển quyền nộp hồ sơ gồm đơn xin cấp Giấy chứng nhận và hợp đồng, giấy tờ về chuyển quyền sử dụng đất để được cấp Giấy chứng nhận;

Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất căn cứ vào hợp đồng, giấy tờ về chuyển quyền sử dụng đất, thông báo bằng văn bản cho người chuyển quyền, niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất về việc làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận cho người nhận chuyển quyền và việc hủy các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất nhưng chưa được giao cho người nhận chuyển quyền đối với trường hợp chuyển quyền toàn bộ diện tích đất; về việc làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận cho người nhận chuyển quyền và việc chỉnh lý hoặc cấp mới Giấy chứng nhận đối với trường hợp chuyển quyền một phần diện tích đất; trường hợp không rõ địa chỉ của người chuyển quyền để thông báo thì phải đăng tin trên báo địa phương ba số liên tiếp (chi phí đăng báo do người xin cấp Giấy chứng nhận trả);

Sau thời hạn 30 ngày, kể từ ngày thông báo hoặc đăng tin lần đầu tiên trên báo địa phương về việc làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận cho người nhận chuyển quyền mà không có đơn đề nghị giải quyết tranh chấp thì thủ tục cấp Giấy chứng nhận thực hiện theo quy định; UBND cấp có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyết định huỷ Giấy chứng nhận đã cấp cho bên chuyển quyền nếu bên chuyển quyền không nộp Giấy chứng nhận; nếu bên chuyển quyền nộp Giấy chứng nhận thì chỉnh lý hoặc cấp mới Giấy chứng nhận;

Trường hợp có đơn đề nghị giải quyết tranh chấp thì Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất hướng dẫn các bên nộp đơn đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết tranh chấp.

THẾ NÀO LÀ SỬ DỤNG ĐẤT ỔN ĐỊNH?:

Theo Nghị định 84 giải thích : đất sử dụng ổn định là đất đã được sử dụng liên tục cho một mục đích chính nhất định kể từ thời điểm bắt đầu sử dụng đất vào mục đích đó đến thời điểm được cấp Giấy chứng nhận hoặc đến thời điểm có quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với trường hợp chưa cấp Giấy chứng nhận;Trường hợp đất đã được sử dụng liên tục mà có sự thay đổi về người sử dụng đất và sự thay đổi đó không phát sinh tranh chấp về quyền sử dụng đất.

Việc xác định thời điểm bắt đầu sử dụng đất ổn định được căn cứ vào ngày, tháng, năm sử dụng và mục đích sử dụng ghi trong các giấy tờ có liên quan như : biên lai nộp thuế, biên bản hoặc quyết định xử phạt hành chính, bản kê khai nhà đất ...(Điều 3 NĐ 84)(Còn tiếp)

Vĩnh Thịnh



19/10/2007 12:00 SAĐã ban hành
Công văn 2790,2791,2793,2794/STNMT-CCBVMT Về việc thông báo lô hàng phế liệu nhập khẩu để kiểm tra, thông quan và điều chỉnh tên cửa khẩu nhập khẩu phế liệu (Cty Đông Hải)Công văn 2790,2791,2793,2794/STNMT-CCBVMT Về việc thông báo lô hàng phế liệu nhập khẩu để kiểm tra, thông quan và điều chỉnh tên cửa khẩu nhập khẩu phế liệu (Cty Đông Hải)
Công văn 2790,2791,2793,2794/STNMT-CCBVMT Về việc thông báo lô hàng phế liệu nhập khẩu để kiểm tra, thông quan và điều chỉnh tên cửa khẩu nhập khẩu phế liệu (Cty Đông Hải)
11/10/2018 9:00 SAĐã ban hành
Thông báo về việc đấu giá quyền khai thác khoáng sảnThông báo về việc đấu giá quyền khai thác khoáng sản
Thực hiện Kế hoạch số 1219/KH-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh, ngày 19 tháng 3 năm 2019 đấu giá quyền khai thác khoáng sản cát lòng sông trên địa bàn tỉnh Bến Tre năm 2019 và ý kiến chỉ đạo của Hội đồng đấu giá quyền khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh Bến Tre;

​     1. Ngày 23 tháng 10 năm 2019, Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre đã phát hành Văn bản 871/ĐG, thông báo trên Đài Phát Thanh - Truyền hình tỉnh Bến Tre mời tổ chức, cá nhân tham gia đấu giá quyền khai thác khoáng sản tại 03 khu vực khoáng sản thuộc địa phận xã An Hiệp - An Ngãi Tây; xã An Đức - An Hòa Tây và xã An Hòa Tây, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

      2. Hồ sơ mời tham gia đấu giá quyền khai thác khoáng sản tại 03 khu vực khoáng sản nêu trên, được phát hành tại:

        Phòng Kế hoạch tài chính, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bến Tre;

        Điện thoại: 02753.839788. Địa chỉ: số 01, đường Trần Quốc Tuấn, phường 02, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

         3. Thời gian bán Hồ sơ mời tham gia đấu giá quyền khai thác khoáng sản và nhận Hồ sơ đăng ký tham gia Phiên đấu giá quyền khai thác khoáng sản:

         Từ 7 giờ 00 ngày 30/10/2019 đến 17 giờ 00 ngày 29/11/2019;

Xem chi tiết tại: 3235_2019_TB_STNMT.PDF

30/10/2019 9:00 SAĐã ban hành
Triển khai thực hiện Quyết định 20/2020/QĐ-UBND, ngày 06/5/2020 của UBND tỉnhTriển khai thực hiện Quyết định 20/2020/QĐ-UBND, ngày 06/5/2020 của UBND tỉnh
Bảng giá các  loại đất trên địa bàn tỉnh Bến Tre giai đoạn 2020-2024

          Ngày 06 tháng 5 năm 2020, y ban nhân dân tnh ban hành Quyết đnh số 20/2020/QĐ-UBND ban hành quy đnh Bng giá các loi đt trên đa bàn tnh Bến Tre giai đon 2020-2024. Quyết đnh này có hiu lc thi hành ktngày 18 tháng 5 năm 2020.

          Đthc hin vic qun lý tài chính vđt đai và giá đt trên đa bàn tnh đúng quy đnh, STài nguyên và Môi trưng đnghcác đơn vtchc thc hin Quyết đnh 20/2020/QĐ-UBND ca y ban nhân dân tnh Bến Tre ban hành quy đnh Bng giá các loi đt trên đa bàn tnh Bến Tre giai đon 2020-2024.

           Quá trình tchc thc hin nếu có khó khăn, vưng mc đnghphn nh vSTài nguyên và Môi trưng đtham mưu y ban nhân dân tnh điu chnh, bsung cho phù hp./.

Tải văn bản: QD_20_BangGiaDat_2020.zip


21/05/2020 10:00 SAĐã ban hành
Góp ý dự thảo Nghị định thay thế Nghị định 22/2012/NĐ-Cp ngày 26/3/2012 quy định về đấu giá quyền khai thác khoáng sảnGóp ý dự thảo Nghị định thay thế Nghị định 22/2012/NĐ-Cp ngày 26/3/2012 quy định về đấu giá quyền khai thác khoáng sản
Góp ý dự thảo Nghị định thay thế Nghị định 22/2012/NĐ-Cp ngày 26/3/2012 quy định về đấu giá quyền khai thác khoáng sản

​        Ngày 22 tháng 5 năm 2020, Bộ tài nguyên và Môi trường đã ban hành Công văn số 746/BTNMT-ĐCKS về việc đề nghị góp ý dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số 22/2012/NĐ-CP ngày 26 tháng 3 năm 2012 của Chính phủ quy định về đấu giá quyền khai thác khoáng sản.

         Để tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành văn bản tham gia ý kiến được toàn diện, đầy đủ, Sở Tài nguyên và Môi trường đề nghị các Sở, ngành, địa phương và các doanh nghiệp nghiên cứu, tham gia ý kiến đối với dự thảo Tờ trình Chính phủ và dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số 22/2012/NĐ-CP ngày 26 tháng 3 năm 2012 của Chính phủ quy định về đấu giá quyền khai thác khoáng sản.

         Đính kèm dự thảo Tờ trình và dự thảo nghị định 

        Văn bản tham gia ý kiến của các Sở ngành, địa phương và các doanh nghiệp hoạt động khoáng sản trên địa bàn tỉnh Bến Tre đề nghị gửi về Sở Tài nguyên và Môi trường trước ngày 10 tháng 6 năm 2020.

        Sở Tài nguyên và Môi trường mong nhận được sự quan tâm, phối hợp của Quý cơ quan để cùng với Sở Tài nguyên và Môi trường hoàn thành nhiệm vụ chung./.

Tải văn bản: du-thao-nghi-dinh-thay-the-nghi-dinh-22-ve-dau-gia-quyen-khai-thac-khoang-san.doc

du-thao-to-trinh-ve-xay-dung-nd22.doc

05/06/2020 3:00 CHĐã ban hành
HỘI NGHỊ THẨM ĐỊNH QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT ĐẾN NĂM 2020, KẾ HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT 5 NĂM KỲ ĐẦU (2011 - 2015) 03 HUYỆN: CHỢ LÁCH, MỎ CÀY BẮC, BA TRIHỘI NGHỊ THẨM ĐỊNH QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT ĐẾN NĂM 2020, KẾ HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT 5 NĂM KỲ ĐẦU (2011 - 2015) 03 HUYỆN: CHỢ LÁCH, MỎ CÀY BẮC, BA TRI
Từ ngày 13 đến 15 tháng 12 năm 2011, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bến Tre tổ chức Hội nghị thẩm định quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu 2011 – 2015 cho 03 huyện: Chợ Lách, Mỏ Cày Bắc và Ba Tri. Hội nghị do ông Nguyễn Văn Chinh Phó Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường – Phó Chủ tịch Hội đồng Thẩm định chủ trì cùng các thành viên Hội đồng thẩm định theo Quyết định thành lập số 2675/QĐ-UBND ngày 11 tháng 11 năm 2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre, ngoài ra còn có sự tham gia của chủ đầu tư là Ủy ban nhân dân các huyện. Báo cáo Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 05 năm kỳ đầu (2011-2015) các huyện do Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất Bến Tre làm đơn vị tư vấn.



Sau khi Đơn vị tư vấn thông qua báo cáo tóm tắt, đại diện chủ đầu tư báo cáo quá trình thực hiện công tác lập Quy hoạch sử dụng đất ở các huyện. Tiếp theo, Chủ trì hội nghị gợi ý các nội dung cần thảo luận. Các đại biểu tích cực tham gia góp ý trên các lĩnh vực như: Nông nghiệp, Bưu chính - Viễn thông, Xây dựng, Quốc phòng, Giáo dục – đào tạo, Văn hóa - Thể thao – Du lịch, Nội vụ.... Với mục tiêu chung là làm sao để quy hoạch sử dụng đất phải thật chính xác, hợp lý, phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của các huyện nói riêng và tỉnh Bến Tre nói chung.


Các đại biểu đóng góp ý kiến tại Hội nghị

Thay mặt đơn vị tư vấn, ông Lê Đức Long – Giám đốc Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất Bến Tre tiếp thu ý kiến đóng góp của Hội đồng thẩm định và xem xét chỉnh sửa đồng thời giải trình một số nội dung bố trí quy hoạch các loại đất như: Nuôi trồng thủy sản tập trung, đất khu dân cư nông thôn, đất khu du lịch, đất khu bảo tồn thiên nhiên, đất phát triển hạ tầng...
Kết luận Hội nghị thẩm định, ông Nguyễn Văn Chinh đánh giá đơn vị tư vấn đã xây dựng phương án quy hoạch sử dụng đất trên địa bàn các huyện sát với đề cương đã được phê duyệt, đúng trình tự và nội dung của Thông tư 19/2009/TT-BTNMT ngày 02 tháng 11 năm 2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường, báo cáo quy hoạch các huyện đạt yêu cầu, hội đồng thẩm định thống nhất thông qua. Bên cạnh đó, yêu cầu đơn vị tư vấn nghiên cứu chỉnh sửa những nội dung mà các đại biểu đã góp ý trong hội nghị và phải phù hợp với chỉ tiêu quy hoạch sử dụng đất tỉnh Bến Tre đến năm 2020.


21/12/2011 12:00 SAĐã ban hành
Phó Tổng cục trưởng phụ trách Tổng cục Quản lý Đất đai Phùng Văn Nghệ trả lời phỏng vấn Báo TN&MT: Tiếp tục hoàn thiện pháp luật về đất đaiPhó Tổng cục trưởng phụ trách Tổng cục Quản lý Đất đai Phùng Văn Nghệ trả lời phỏng vấn Báo TN&MT: Tiếp tục hoàn thiện pháp luật về đất đai
Chính phủ vừa trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội và đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho phép rút Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai ra khỏi Chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh năm 2008 để Chính phủ có điều kiện chuẩn bị kỹ hơn. Trao đổi với Báo TN&MT xung quanh vấn đề này, Phó Tổng cục trưởng phụ trách Tổng cục Quản lý Đất đai Phùng Văn Nghệ (ảnh) cho biết:



Chính phủ đã đánh giá quá trình soạn thảo Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai là rất tích cực. Cơ quan chủ trì là Bộ TN&MT đã tổ chức rà soát các văn bản pháp luật về đất đai và pháp luật khác có liên quan một cách chu đáo. Nhiều ý kiến đóng góp vào dự án luật đã được ghi nhận qua việc tổ chức gần 30 cuộc hội thảo lấy ý kiến đóng góp của đông đảo các cơ quan, tổ chức chính trị - xã hội, đại diện UBND cấp tỉnh, cấp huyện, cũng như lấy ý kiến các tổ chức, doanh nghiệp, các nhà khoa học và các chuyên gia nước ngoài thuộc chuyên ngành có liên quan. Dự thảo Luật cũng đã được báo cáo thẩm định sơ bộ tại Ủy ban Kinh tế Quốc hội, được Chính phủ, Thường trực Chính phủ thảo luận tại 2 phiên họp trong tháng 8 vừa qua.
Thưa ông, vậy tại sao Dự án Luật này lại chưa trình ra Quốc hội tại kỳ họp tháng 10 tới đây như dự kiến?
Ông Phùng Văn Nghệ: Dự án Luật Đất đai sửa đổi sở dĩ tạm dừng vì qua hai phiên thảo luận, Chính phủ cho ý kiến đất đai là vấn đề quan trọng chi phối đến mọi hoạt động của các tổ chức, cần cân nhắc kỹ những nội dung sửa đổi, bổ sung. Để đánh giá kỹ những vấn đề hạn chế, cần có thời gian tổ chức nghiên cứu kỹ hơn để sửa đổi, bổ sung toàn diện hơn, nhằm ổn định đời sống, tình hình kinh tế - xã hội, đồng thời thu hút đầu tư trong và ngoài nước, tạo điều kiện phát triển kinh tế, hội nhập kinh tế quốc tế. Tóm lại là cần có thời gian điều tra, khảo sát để tổng kết, đánh giá đầy đủ, toàn diện về mức độ tác động và sự ảnh hưởng trong thực tiễn. Có vấn đề cần phải nghiên cứu, học tập kinh nghiệm nước ngoài để có điều kiện chuẩn bị kỹ hơn. Chính phủ chỉ đạo trước mắt tập trung sửa đổi, bổ sung một số Nghị định thi hành Luật Đất đai để tháo gỡ các vướng mắc mà thực tế cuộc sống đang đặt ra.
Xin ông cho biết tại sao việc sửa đổi Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai lại là vấn đề cần thiết và cấp bách?
Sau hơn 4 năm thi hành Luật Đất đai, các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật đã bộc lộ một số bất cập gây ách tắc khó khăn trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai, trong thu hút đầu tư và thực hiện các quyền cũng như nghĩa vụ của người sử dụng đất, trong việc định giá đất, bồi thường giải phóng mặt bằng, tái định cư... Mặt khác, một số vấn đề trong các Nghị định hướng dẫn qua thực tiễn thi hành đã bộc lộ tính chung chung, thiếu cụ thể. Cần được quy định rõ ràng đầy đủ tạo thuận lợi thu hút đầu tư, bảo đảm quyền lợi của người sử dụng đất, nhất là người bị thu hồi đất, giải quyết hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, người bị thu hồi đất và nhà đầu tư.
Cụ thể, những Nghị định sẽ được sửa đổi, bổ sung tới đây là...?
Đó là sửa đổi, bổ sung Nghị định số 181/2004/NĐ-CP với nội dung về Tổ chức Phát triển quỹ đất; nội dung quy hoạch sử dụng đất; căn cứ giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất... Sửa đổi, bổ sung Nghị định số 197/2004/NĐ-CP về bồi thường hỗ trợ tái định cư. Nghị định 142/2005/NĐ-CP về giá thuê đất để bảo đảm bình đẳng giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài. Ngoài ra, còn sửa đổi, bổ sung các Nghị định số 17/2006/NĐ-CP, Nghị định 84/2007/NĐ-CP, Nghị định 123/2007/NĐ-CP.
Trở lại với hai nội dung chính mà Dự án Luật Đất đai sửa đổi đã và đang tập trung, đó là quy hoạch - kế hoạch sử dụng đất và tài chính đất, đó quả thực là những nội dung hết sức cấp thiết thưa ông?
Đúng vậy. Như tôi vừa nói những nội dung trong Dự thảo mà Bộ TN&MT đã trình Chính phủ là những nội dung cấp thiết nhằm điều chỉnh lại các chế độ quản lý cũng như quan hệ sử dụng đất đã tạo được sự đồng tình lớn qua hàng chục cuộc hội thảo. Mọi người đều hiểu rằng việc quy hoạch - kế hoạch sử dụng đất hiện nay còn nhiều vấn đề bất cập, quy hoạch chậm triển khai, chất lượng quy hoạch thấp, công tác dự báo chưa chính xác, quy trình lập quy hoạch chưa hợp lý. Ngoài ra, việc quản lý bảo vệ diện tích đất trồng lúa, đất rừng đều là những vấn đề cần được xem xét, đánh giá đầy đủ hơn, nhằm đảm bảo an ninh lương thực và bảo vệ môi trường. Thứ nữa, các vấn đề liên quan tới tài chính đất đai như bồi thường, giải phóng mặt bằng, định giá đất... đều là vấn đề được xã hội hết sức quan tâm. Cần quy định rõ cơ chế tài chính mới khuyến khích được việc xã hội hóa một số lĩnh vực như bồi thường giải phóng mặt bằng, tạo quỹ đất sạch...

Xin cảm ơn ông.

(Theo Monre)



02/10/2008 12:00 SAĐã ban hành
Bến Tre thực hiện quy định về thiết lập hành lang bảo vệ bờ biểnBến Tre thực hiện quy định về thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển
Ngày 20/02/2017, UBND tỉnh ban hành Công văn số 585/UBND-KT chỉ đạo các sở, ban ngành và các huyện ven biển về việc thực hiện quy định tại Điều 79 của Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo.

​       Ngày 20/02/2017, UBND tỉnh ban hành Công văn số 585/UBND-KT chỉ đạo các sở, ban ngành và các huyện ven biển về việc thực hiện quy định tại Điều 79 của Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo.

         Theo quy định tại khoản 1, Điều 79 của Luật tài nguyên và môi trường biển và hải đảo "Kể từ thời điểm Luật này được công bố (tức là ngày 08/7/2015), giữ nguyên hiện trạng", không được phép đầu tư, xây dựng mới công trình trong phạm vi 100m tính từ đường mực nước triều cao trung bình nhiều năm về phía đất liền hoặc về phía trong đảo do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có biển xác định theo hướng dẫn của Bộ Tài nguyên và Môi trường (tại Công văn số 3628/BTNMT-TCBHĐVN ngày 01/9/2015 về việc thực hiện quy định tại Điều 79 của Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo) cho đến khi hành lang bảo vệ bờ biển được thiết lập theo quy định của Luật này, trừ các trường hợp sau: (01) Xây dựng mới công trình phục vụ mục đích quốc phòng, an ninh, phòng, chống thiên tai, sạt lở bờ biển, ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng, bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa; (02) Xây dựng mới công trình theo dự án đầu tư phục vụ lợi ích quốc gia, công cộng được Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, người đứng đầu bộ, cơ quan trung ương, Hội đồng nhân dân, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có biển quyết định chủ trương đầu tư; (03) Xây dựng công trình theo dự án đầu tư đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định đầu tư hoặc xây dựng công trình đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép xây dựng trước thời điểm Luật này được công bố.

      Thực hiện Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016, để tăng cường công tác quản lý quy hoạch, đầu tư xây dựng và đảm bảo khai thác hiệu quả, bền vững quỹ đất ven biển, ứng phó, thích nghi với biến đổi khí hậu và nước biển dâng, UBND tỉnh đã có ý kiến chỉ đạo tại Công văn số 585/UBND-KT ngày 20/02/2017 về việc thực hiện quy định tại Điều 79 của Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo. UBND tỉnh Bến Tre yêu cầu các Sở, ban, ngành có liên quan và UBND 3 huyện ven biển thực hiện một số nội dung trọng tâm sau:

       Một là, tiếp tục thực hiện nghiêm Chỉ thị số 20/CT-TTg ngày 27/7/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường công tác quản lý quy hoạch, đầu tư xây dựng và quản lý đất đai các dự án ven biển.

       Hai là, có trách nhiệm rà soát, báo cáo việc quản lý, sử dụng hành lang bờ biển; số lượng cụ thể các công trình, dự án của các tổ chức doanh nghiệp sẽ bị ảnh hưởng và đánh giá sơ bộ mức độ ảnh hưởng của các dự án này khi áp dụng quy định tại Khoản 1 Điều 79 của Luật tài nguyên và môi trường biển và hải đảo, phân loại theo nhóm gồm: các dự án đã được giao đất, cho thuê đất; các dự án đã được phê duyệt quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500, nhưng chưa thực hiện thủ tục giao đất, cho thuê đất; các dự án được chấp thuận chủ trương đầu tư , nhưng chưa phê duyệt quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500; đề xuất UBND tỉnh chủ trương xử lý chung.

        Ba là, kiểm tra, đánh giá sự phù hợp của các dự án đầu tư tại khu vực ven biển với quy hoạch xây dựng đã được phê duyệt; rà soát tổng thể các dự án để điều chỉnh quy hoạch xây dựng gắn với quy hoạch sử dụng đất đảm bảo lợi ích cộng đồng dân cư và doanh nghiệp đầu tư trên địa bàn; khai thác sử dụng không gian ven biển hiệu quả, thích ứng với biến đổi khí hậu và đảm bảo an ninh quốc phòng, đảm bảo quỹ đất bố trí hạ tầng kỹ thuật, khu du lịch, công viên, khu vực bảo tồn, phòng hộ…         

          Đồng thời giao cho Sở Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với các sở, ban, ngành có liên quan và UBND 3 huyện ven biển xây dựng Đề án "Thiết lập và quản lý hành lang bảo vệ bờ biển trên địa bàn tỉnh Bến Tre" đúng theo thời gian Luật định./.

Vĩnh Thịnh

24/02/2017 7:30 SAĐã ban hành
Biển đổi khí hậu, nguyên nhân và ảnh hưởngBiển đổi khí hậu, nguyên nhân và ảnh hưởng
Các thảm họa thiên nhiên (bão, giông lốc, hiện tượng El nino và La nina) đang gây ảnh hưởng đến con người với biên độ và sức mạnh ngày càng tăng, đó là hậu quả của biến đổi khí hậu toàn cầu và biến đổi đáng sợ nhất là tan băng ở hai cực do hiện tượng trái đất nóng lên, nhiệt độ thế giới sẽ tăng lên 3oC vào năm 2050.



Hiện nay, trên các phương tiện thông tin đại chúng, chúng ta thường nghe nói đến vấn đề Biến đổi khí hậu, đó là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí quyển, thủy quyển, sinh quyển, thạch quyển hiện tại và trong tương lai bởi các nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo.
Nguyên nhân chủ yếu và quan trọng nhất gây nên biến đổi khí hậu toàn cầu là hiệu ứng nhà kính. Trong quá trình phát triển công nghiệp, các hoạt động khai thác tài nguyên thiên nhiên của con người với số lượng không ngừng tăng lên, quá trình đốt các nhiên liệu hoá thạch (than, dầu, khí đốt tự nhiên) đã thải vào bầu khí quyển rất nhiều khí độc hại, chủ yếu là khí carbon dioxide, methane, hơi nước và nitrous oxide, CFCs, các khí này là nguyên nhân chủ yếu gây ra hiệu ứng nhà kính.
Những khí nhà kính sẽ hấp thụ năng lượng mặt trời, làm ấm lên bầu khí quyển gần bề mặt trái đất, giữ trái đất luôn đủ ấm để hỗ trợ cuộc sống của muôn loài. Nhưng các nhà khoa học kết luận rằng sự phát thải khí nhà kính ngày càng tăng lên sẽ tích tụ quá nhiều năng lượng làm gia tăng nhiệt độ toàn cầu. Các khí như methane và CFCs sẽ có khả năng tích tụ năng lượng hơn khí carbon dioxide là loại khí chiếm lĩnh một phần lớn bầu khí quyền.
Bức xạ từ mặt trời chuyển động xuyên qua bầu khí quyển của trái đất, trái đất hấp thụ các bức xạ này sau đó phản chiếu lại. Nhưng trong quá trình này thì độ dài của sóng bức xạ sẽ thay đổi. Khi các tia bức xạ phát ra ngoài sẽ gặp những phân tử khí nhà kính và những phân tử này sẽ hấp thụ các tia bức xạ, khiến các khí nhà kính trở nên nóng dần lên. Do vậy, trên diện rộng, tất cả khí nhà kính xung quanh trái đất sẽ tạo thành một tấm chắn bao bọc lấy hành tinh làm cho khí hậu toàn cầu ngày càng nóng lên – quá trình này gọi là hiệu ứng nhà kính.
Các biểu hiện của sự biến đổi khí hậu trái đất: sự nóng lên của khí quyển và trái đất nói chung; sự thay đổi thành phần và chất lượng khí quyển có hại cho môi trường sống của con người và các sinh vật trên trái đất; sự dâng cao mực nước biển do tan băng dẫn tới sự ngập úng của các vùng đất thấp, các đảo nhỏ trên biển; sự di chuyển của các đới khí hậu tồn tại hàng nghìn năm trên các vùng khác nhau của trái đất dẫn tới nguy cơ đe doạ sự sống của các loài sinh vật, các hệ sinh thái và hoạt động của con người; sự thay đổi cường độ hoạt động của quá trình hoàn lưu khí quyển, chu trình tuần hoàn nước trong tự nhiên và các chu trình sinh địa hoá khác và sự thay đổi năng suất sinh học của các hệ sinh thái, chất lượng và thành phần của thuỷ quyển, sinh quyển, các địa quyển;
Ngày 9 tháng 5 năm 1992, các quốc gia trên thế giới đã họp tại New York đã thông qua Công ước Khung về Biến đổi khí hậu của Liên Hợp Quốc. Công ước này đặt ra mục tiêu ổn định các nồng độ khí quyển ở mức có thể ngăn ngừa được sự can thiệp của con người đối với hệ thống khí hậu. Mức phải đạt nằm trong một khung thời gian đủ để các hệ sinh thái thích nghi một cách tự nhiên với sự thay đổi khí hậu, bảo đảm việc sản xuất lương thực không bị đe dọa và tạo khả năng cho sự phát triển kinh tế một cách bền vững.
Theo đánh giá của Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc (UNDP), Việt Nam nằm trong top 5 nước đứng đầu thế giới dễ bị tổn thương nhất đối với biến đổi khí hậu. Nếu mực nước biển dâng 01 mét, ở Việt Nam sẽ sẽ mất 5% diện tích đất, 11% người mất nhà cửa, giảm 7% sản lượng nông nghiệp và 10% thu nhập GDP.
Việt Nam phải xây dựng một kịch bản chi tiết theo từng thập niên. Từ đó, các nhà hoạch định chính sách, các bộ, ngành mới có thể xây dựng chương trình hành động đúng. Các nhà khoa học chỉ rõ vùng nào của Việt Nam sẽ chịu ảnh hưởng nhiều nhất của băng tan, phân tích cụ thể diện tích vùng bị ngập,....

Mai Hanh


29/06/2010 12:00 SAĐã ban hành
Bảng giá các loại đất trên địa bàn tỉnh Bến Tre giai đoạn 2020-2024Bảng giá các loại đất trên địa bàn tỉnh Bến Tre giai đoạn 2020-2024
Ngày 06 tháng 5 năm 2020, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định 20/2020/QĐ-UBND Quy định bảng giá các loại đất trên địa bàn tỉnh Bến Tre giai đoạn 2020 - 2024


Chi tiết xem tại: BangGiaDat_2020.zip

           

07/05/2020 10:00 SAĐã ban hành
Công bố kết quả điều tra thoái hóa đất kỳ đầu tỉnh Bến TreCông bố kết quả điều tra thoái hóa đất kỳ đầu tỉnh Bến Tre
Công bố kết quả điều tra thoái hóa đất kỳ đầu tỉnh Bến Tre

Tải văn bản: KQ_THOAIHOADAT_KYDAU_2019.rar

02/10/2019 5:00 CHĐã ban hành
Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Từ 13/11/2019 đến 20/11/2019)Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Từ 13/11/2019 đến 20/11/2019)
Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Từ 13/11/2019 đến 20/11/2019)
21/11/2019 10:00 SAĐã ban hành
Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ ngày 01/02/2020 đến ngày 07/02/2020Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ ngày 01/02/2020 đến ngày 07/02/2020
Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ ngày 01/02/2020 đến ngày 07/02/2020
07/02/2020 3:00 CHĐã ban hành
NGHỊ ĐỊNH 84 VỀ ĐẤT ĐAI: Bài 3: Những quy định mới về thu hồi đất và bồi thường hỗ trợ về đất khi Nhà nước thu hồi đấtNGHỊ ĐỊNH 84 VỀ ĐẤT ĐAI: Bài 3: Những quy định mới về thu hồi đất và bồi thường hỗ trợ về đất khi Nhà nước thu hồi đất
Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ; tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết về khiếu nại đất đai (gọi tắt là Nghị định 84). Đây là văn bản pháp luật giải quyết được rất nhiều vấn đề cụ thể đang vướng mắc trong triển khai thi hành Luật Đất đai, rất cần thiết cho việc thúc đẩy cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũng như bồi thường hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất, thúc đẩy sự phát triển của thị trường bất động sản. Chuyên mục Tài nguyên và Môi trường kỳ này xin giới thiệu những quy định mới về thu hồi đất và bồi thường hỗ trợ về đất khi Nhà nước thu hồi đất.
Bài 3 : Những quy định mới về thu hồi đất và bồi thường hỗ trợ về đất khi Nhà nước thu hồi đất




MỤC ĐÍCH CỦA VIỆC THU HỒI ĐẤT:

Trong quá trình quản lý kinh tế - xã hội, Nhà nước đựơc quyền thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và phát triển nền kinh tế. Về mục đích phát triển kinh tế, theo quy định của pháp luật đất đai Nhà nước thu hồi đất để thực hiện các loại dự án sau :
1. Khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế;
2. Các dự án có nguồn vốn ODA;
3. Các dự án có 100% vốn đầu tư nước ngoài đã được xét duyệt cho phép đầu tư;
4. Các dự án đầu tư thăm dò, khai thác khoáng sản;
5. Các dự án đầu tư kết cấu hạ tầng phục vụ công cộng (công trình giao thông, thủy lợi, điện lực…);
Các trường hợp thu hồi đất để thực hiện các dự án nêu trên phải nằm trong quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết, quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị hoặc điểm dân cư nông thôn đã được xét duyệt. Nghị định 84 bổ sung thêm 4 loại dự án nữa là :
6. Dự án quan trọng quốc gia do Quốc hội quyết định hoặc Thủ tướng chấp thuận chủ trương đầu tư;
7. Các dự án khu dân cư trong quy hoạch được duyệt;
8. Dự án trung tâm thương mại, khách sạn cao cấp trong quy hoạch được duyệt;
9. Dự án xây dựng các khu kinh doanh tập trung khác có cùng chế độ sử dụng đất và có nhiều chủ thể cùng kinh doanh (khu du lịch, khu vui chơi giải trí ngoài trời, khu thương mại dịch vụ tổng hợp, khu chăn nuôi theo hình thức công nghiệp).
Tổng cộng có chín loại dự án kinh tế thuộc diện Nhà nước thu hồi đất và Nhà nước phải tổ chức bồi thường, hỗ trợ tái định cư cho người đang sử dụng đất. Ngoài chín loại dự án nêu trên, đối với các dự án kinh tế khác, các nhà đầu tư buộc phải thương lượng thoả thuận với người đang sử dụng đất để thuê, chuyển nhượng…. Nhà nước chỉ hỗ trợ nhằm giúp các bên thực hiện các thủ tục chứ không ra quyết định thu hồi đất.


BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ VỀ ĐẤT KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT SỬ DỤNG TRƯỚC NGÀY 15/10/1993 MÀ KHÔNG CÓ GIẤY TỜ VỀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

Đối với đất sử dụng trước ngày 15/10/1993 nhưng không có Giấy chứng nhận hoặc một trong các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều 50 của Luật Đất đai và được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận đất đó không có tranh chấp thì việc bồi thường, hỗ trợ về đất thực hiện theo quy định sau:
a) Trường hợp đất đang sử dụng là đất có nhà ở và không thuộc một trong các trường hợp vi phạm việc sử dụng đất (như vi phạm quy hoạch chi tiết mặt bằng xây dựng; lấn chiếm hành lang bảo vệ an toàn công trình công cộng đã được công bố, cắm mốc; Lấn, chiếm lòng đường, lề đường, vỉa hè đã có chỉ giới xây dựng…) thì người đang sử dụng đất được bồi thường đối với diện tích đất thực tế đang sử dụng nhưng diện tích được bồi thường không vượt quá hạn mức giao đất ở theo quy định tại thời điểm có quyết định thu hồi đất. Đối với phần diện tích vượt hạn mức giao đất ở và phần diện tích đất vườn, ao trên cùng thửa đất có nhà ở nhưng không được công nhận là đất ở (nếu có) thì được bồi thường, hỗ trợ về đất theo quy định đối với đất nông nghiệp xen kẽ trong khu dân cư;
b) Trường hợp đất đang sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp (không phải đất ở) và không thuộc một trong các trường hợp vi phạm việc sử dụng đất thì người đang sử dụng đất được bồi thường đối với diện tích đất thực tế đang sử dụng. Trường hợp trên thửa đất có cả phần diện tích đang sử dụng vào mục đích nông nghiệp thì phần diện tích đó được bồi thường, hỗ trợ về đất theo quy định đối với đất nông nghiệp;
c) Trường hợp đất đang sử dụng vào mục đích nông nghiệp mà người đang sử dụng đất là hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp thì được bồi thường, hỗ trợ đối với diện tích đất thực tế đang sử dụng nhưng diện tích được bồi thường, hỗ trợ không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp theo quy định.
d) Trường hợp đất đang sử dụng thuộc một trong các trường hợp vi phạm việc sử dụng đất hoặc diện tích đất nông nghiệp vượt hạn mức giao đất thì người sử dụng đất không được bồi thường về đất; nếu đất đang sử dụng là đất có nhà ở mà người có đất bị thu hồi không có chỗ ở nào khác thì được hỗ trợ về đất hoặc được giải quyết nhà tái định cư theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
Trường hợp thửa đất ở có vườn, ao sử dụng trước ngày 18/12/1980 đã được cấp Giấy chứng nhận mà thửa đất này được tách ra từ thửa đất không có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai thì thửa đất còn lại sau khi đã tách thửa mà được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận không có tranh chấp cũng được bồi thường, hỗ trợ về đất đối với đất ở theo hạn mức quy định.

BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ VỀ ĐẤT KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT SỬ DỤNG TỪ NGÀY 15/10/1993 TRỞ VỀ SAU MÀ KHÔNG CÓ GIẤY TỜ VỀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

Trường hợp thu hồi đối với đất đã sử dụng trong khoảng thời gian từ ngày 15/10/1993 đến trước ngày 01/7/2004 nhưng không có Giấy chứng nhận hoặc một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại khoản 1 Điều 50 của Luật Đất đai và được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận đất đó không có tranh chấp thì việc bồi thường, hỗ trợ về đất thực hiện theo quy định sau:
a) Trường hợp đất đang sử dụng là đất có nhà ở và không thuộc một trong các trường hợp vi phạm sử dụng đất thì người đang sử dụng đất được bồi thường về đất theo diện tích đất thực tế đang sử dụng nhưng diện tích được bồi thường không vượt quá hạn mức giao đất ở quy định tại thời điểm có quyết định thu hồi đất và giá trị bồi thường phải trừ đi tiền sử dụng đất phải nộp theo mức thu quy định. Đối với phần diện tích vượt hạn mức đất ở và phần diện tích đất vườn, ao trên cùng thửa đất có nhà ở nhưng không được công nhận là đất ở thì được bồi thường, hỗ trợ về đất theo quy định đối với đất nông nghiệp;
b) Trường hợp đất đang sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp (không phải là đất ở) và không thuộc một trong các trường hợp vi phạm sử dụng đất thì người đang sử dụng đất được bồi thường về đất đối với diện tích đất thực tế đang sử dụng nhưng phải trừ đi tiền sử dụng đất phải nộp theo mức thu quy định. Giá đất tính thu tiền sử dụng đất là giá đất sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp cùng loại. Trường hợp trên thửa đất có cả phần diện tích đang sử dụng vào mục đích nông nghiệp thì phần diện tích đó được bồi thường, hỗ trợ về đất theo quy định đối với đất nông nghiệp;
c) Trường hợp đất đang sử dụng thuộc nhóm đất nông nghiệp mà người đang sử dụng đất là hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp thì được bồi thường, hỗ trợ đối với diện tích đất thực tế đang sử dụng nhưng diện tích được bồi thường, hỗ trợ không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp quy định.
d) Trường hợp đất đang sử dụng thuộc một trong các trường hợp vi phạm sử dụng đất hoặc diện tích đất nông nghiệp vượt hạn mức giao đất quy định thì người sử dụng đất không được bồi thường về đất; nếu đất đang sử dụng là đất có nhà ở mà người có đất bị thu hồi không có chỗ ở nào khác thì được giải quyết theo quy định tại khoản 2 Điều 14 Nghị định số 197/2004/NĐ-CP.
Trường hợp đất do lấn, chiếm và đất được giao, được cho thuê không đúng thẩm quyền kể từ ngày 01/7/2004 trở về sau thì người có hành vi lấn, chiếm hoặc được giao đất, thuê đất không đúng thẩm quyền không được bồi thường về đất khi thu hồi đất.

(Còn tiếp)

Vĩnh Thịnh



16/11/2007 12:00 SAĐã ban hành
Ngày Quốc tế đa dạng sinh học 2015: Đa dạng sinh học cho phát triển bền vữngNgày Quốc tế đa dạng sinh học 2015: Đa dạng sinh học cho phát triển bền vững
Kể từ năm 1993, Liên Hợp Quốc đã chọn ngày 22 tháng 5 hằng năm làm Ngày Quốc tế về đa dạng sinh học với mục tiêu nâng cao hiểu biết và nhận thức của cộng đồng về đa dạng sinh học.
     Chủ đề Ngày Quốc tế về đa dạng sinh học năm 2015 là “Đa dạng sinh học cho phát triển bền vững” nhằm nhấn mạnh vai trò, tầm quan trọng của đa dạng sinh học đối với sự phát triển bền vững của nhân loại.

Việt Nam được đánh giá là một trong 16 nước có đa dạng sinh học cao nhất thế giới với sự đa dạng về cả hệ sinh thái, loài và nguồn gen: trên 13.200 loài thực vật, hơn 10.000 loài động vật (đối với hệ sinh thái trên cạn); trên 3.000 loài thủy sinh vật (đối với các vùng đất ngập nước nội địa); 20 kiểu hệ sinh thái đặc thù, trên 11.000 loài sinh vật (đối với môi trường biển).
     Bên cạnh đó là hệ thống 24 vườn quốc gia, 30 khu bảo tồn thiên nhiên, 6 khu Ramsar, 8 khu dự trữ sinh quyển thế giới giúp lưu giữ, bảo tồn các giá trị đa dạng sinh học của Việt Nam và thế giới.
     Ở Việt Nam, các hệ sinh thái và tài nguyên sinh vật đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế và văn hoá của đất nước, thể hiện ở các giá trị chính là bảo vệ thiên nhiên và môi trường, kinh tế, văn hóa, xã hội; là cơ sở đảm bảo an ninh lương thực; duy trì nguồn gen vật nuôi, cây trồng; cung cấp vật liệu cho xây dựng và các nguồn nguyên nhiên liệu, dược liệu; tạo việc làm cho người dân; giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu; tạo cảnh quan thiên nhiên góp phần phát triển du lịch và là nơi để giáo dục, nghiên cứu về thiên nhiên,...
     Bến Tre là một tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long nổi tiếng phì nhiêu, màu mỡ, khí hậu nhiệt đới với 90% diện tích tự nhiên là đất ngập nước, đồng thời là tỉnh duyên hải ven biển đã hình thành nên các hệ sinh thái tự nhiên rất đa dạng và có năng suất sinh học cao như: hệ sinh thái vườn, hệ sinh thái đồng ruộng, hệ sinh thái thủy vực, hệ sinh thái ao nuôi, hệ sinh thái dân cư, hệ sinh thái rừng, hệ sinh thái ngập nước trên cạn, hệ sinh thái đồng cỏ, hệ sinh thái đồng muối. Với 933 loài thực vật bậc cao, 30 loài thú, 174 loài chim, 40 loài bò sát, 12 loài lưỡng cư, 80 loài cá và 330 loài côn trùng (Nguồn: Báo cáo Quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học tỉnh Bến Tre giai đoạn 2010 – 2015 và định hướng đến năm 2025).
     Là tỉnh có giá trị sản xuất nông nghiệp chiếm tỉ trọng cao trong cơ cấu kinh tế, Bến Tre đã và đang tận dụng lợi thế về sự đa dạng trong các hệ sinh thái cũng như nguồn gen của các loài sinh vật mang lại để phát triển kinh tế thông qua các hoạt động nuôi trồng, khai thác, sử dụng và chế biến các sản phẩm từ nông lâm ngư nghiệp.
     Nhận thức được tầm quan trọng của đa dạng sinh học đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, được sự hỗ trợ của Trung ương, Bến Tre đã thành lập các khu bảo tồn như: sân chim Vàm Hồ, khu bảo tồn ốc gạo cồn Phú Đa, khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Thạnh Phú. Ngoài ra, còn có rừng ngập mặn ven biển cù lao An Hóa, cù lao Bảo cũng được tỉnh quan tâm. Năm 2013, Quy hoạch Bảo tồn đa dạng sinh học của tỉnh giai đoạn 2010 - 2015 và định hướng đến năm 2025 đã được Hội đồng nhân dân tỉnh thông qua và Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt. Để làm tốt công tác bảo tồn đa dạng sinh học, Bến Tre đã ký kết bản ghi nhớ hợp tác với tỉnh Tun-chê-a (Rumani) về thành lập thí điểm Khu bảo tồn đa dạng sinh học phục vụ phát triển bền vững du lịch sinh thái và Trung tâm tri thức về phát triển du lịch sinh thái đồng bằng sông MêKông tại sân chim Vàm Hồ.
     Quan trọng là vậy nhưng tài nguyên đa dạng sinh học Bến Tre nói riêng và cả nước nói chung đang đứng trước nhiều mối đe dọa do sự gia tăng dân số và mức tiêu dùng là áp lực dẫn tới khai thác quá mức tài nguyên sinh vật; sự phát triển kinh tế - xã hội nhanh chóng đã làm thay đổi cảnh quan thiên nhiên; thay đổi phương thức sử dụng đất, xây dựng nhiều cơ sở hạ tầng đã làm giảm diện tích sinh cảnh tự nhiên, chia cắt các hệ sinh thái, làm suy giảm môi trường sống của nhiều loài động, thực vật hoang dã…
     Tài nguyên đa dạng sinh học có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với kinh tế và dân sinh, là tiềm năng lớn bảo đảm cho sự phát triển kinh tế - xã hội trong thời gian tới nhưng sự phát triển đó sẽ không bền vững một khi chúng ta sử dụng tài nguyên sinh học một cách thiếu khôn khéo.



20/05/2015 4:00 CHĐã ban hành
Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ ngày 15/4/2019 đến ngày 19/4/2019Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ ngày 15/4/2019 đến ngày 19/4/2019
Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ ngày 15/4/2019 đến ngày 19/4/2019
23/04/2019 9:00 SAĐã ban hành
1 - 30Tiếp
Ảnh
Video
SỞ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG TỈNH BẾN TRE
Chịu trách nh​iệm chính: Ông Bùi Minh Tuấn - Chức vụ: Giám đốc Sở TN và MT | Giấy phép số: 139/GP - BC, ngày 16 tháng 4 năm 2007
Địa chỉ trụ sở: Số 126A, đường Nguyễn Thị Định, Tổ 10, Khu phố 2, Phường Phú Tân, Tp.Bến Tre, tỉnh Bến Tre
Điện thoại: 0275.3822210 - 0275.3825696 - Fax: 0275.3813176; Email: stnmt@bentre.gov.vn